X QUANG TRONG CHẨN ĐOÁN
BỆNH THẬN-TIẾT NIỆU
Cũng như xét nghiệm nước tiểu và máu, trong chẩn đoán bệnh thận X quang là
phương pháp không thể thiếu được, đặc biệt là các bệnh thận-tiết niệu gây nên do
tắc nghẽn đường dẫn niệu, viêm do yếu tố vi khuẩn và đánh giá chức năng thận
trong các bệnh lý đó. Có nhiều phương pháp chụp X quang, nhưng tuỳ theo từng
loại bệnh cần có các chỉ định phù hợp.
1. Chụp thận không có thuốc cản quang.
Thường được chỉ định rộng rãi nhất.
1.1. Chỉ định:
- Phát hiện sỏi cản quang đường tiết niệu (đài-bể thận, niệu quản, bàng quang,
niệu đạo).
- Xác định bóng thận.
- Chẩn đoán phân biệt đau lưng, thắt lưng và vùng cùng cụt với đau do sỏi tiết
niệu.
1.2. Chuẩn bị bệnh nhân:
- Thụt tháo 2 lần trước khi chụp để loại trừ các hình ảnh có thể gây nhầm lẫn do
bã thức ăn hoặc sỏi phân gây nên.
- Không uống các loại thuốc có tính chất cản quang trước đó 3 ngày như: bismuth
và các thuốc cản quang chụp dạ dày, đại tràng, thực quản
1.3. Đánh giá một phim thận bình thường và bệnh lý chụp ở tư thế thẳng:
1.3.1. Bình thường: Với kỹ thuật chụp tốt phải thấy rõ 2 bóng cơ đáy chậu, thấy rõ
bóng của 2 thận bình thường:
- Cực trên ngay mỏm ngang đốt sống lưng 11.
- Cực dưới ngay mỏm ngang đốt sống thắt lưng 2; thận phải thấp hơn thận trái
một đốt sống. Không có hình cản quang ở thận và niệu quản, bàng quang.
1.3.2. Bệnh lý:
+ Bóng thận to nhiều gặp trong: ứ nước, ứ mủ thận, ung thư thận, khối máu tụ
trong thận sau chấn thương.
+ Bóng thận không ở vị trí bình thường gặp trong sa thận hoặc thận lạc chỗ.
- Chẩn đoán phân biệt thận to với các khối u khác trong ổ bụng
- Sỏi thận-tiết niệu cản quang không rõ và sỏi không cản quang.
- U nang thận, thận ứ nước.
- Thiểu sản thận.
- Tăng huyết áp nghi do hẹp động mạch thận.
- Viêm thận-bể thận mãn.
- Lao thận đái dưỡng chấp.
2.2.2. Chống chỉ định:
- Suy thận: khi urê huyết thanh > 8mmol/l hoặc > 50mg%.
- Dị ứng với iod.
- Đái máu đại thể đang tiếp diễn.
- Đang có suy tim, đang có cổ trướng.
- Đang có thai.
2.3. Chuẩn bị bệnh nhân, phương pháp tiến hành:
2.3.1. Chuẩn bị bệnh nhân:
- Xét nghiệm urê, creatinin huyết thanh.
- Thử phản ứng với iod: tiêm dưới da 0,5 - 1 ml thuốc cản quang có iod, theo dõi
phản ứng dị ứng:
. Nhẹ: nóng bốc hoả, ngứa mề đay, phù Quink.
. Vừa: nôn, buồn nôn, tụt huyết áp, nhịp tim nhanh hoặc chậm, tổn thương thành
mạch tại nơi tiêm.
. Nặng: khó thở, co thắt thanh quản, phù phổi cấp, trụy tim mạch.
- Thụt tháo 2 lần trước khi chụp.
- Thuốc và dụng cụ chuẩn bị cho xử trí cấp cứu:
2.3.2. Phương pháp tiến hành:
*Chụp theo phương pháp thông thường:
- Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân thoải mái.
- Chụp một phim thận thường trước khi tiêm thuốc cản quang, ngay sau đó
tiêm 1 ống thuốc cản quang 20 ml từ từ vào tĩnh mạch trong 10 phút. Dùng 2
quả ép để ép vào 2 hố chậu (mục đích ép 2 niệu quản để giữ thuốc lâu trên đài
. Có thể do một nguyên nhân nào đó gây phản xạ ức chế thận, thận im lặng
không đáp ứng việc ngấm thuốc.
. Không có thận ở vị trí bình thường, thận lạc chỗ.
- Có ngấm thuốc cản quang nhưng chậm so với bình thường do chức năng thận
bị suy giảm nhưng chưa mất hoàn toàn (nếu trên 30 phút không thấy thuốc bài tiết
ở đài-bể thận thì chức năng bài tiết đã giảm). Trong trường hợp này cần chụp thêm
1 phim sau 2 h để đánh giá thận đã mất chức năng hoàn toàn hay chưa.
+ Hình thể: có thể có biến dạng về hình thể như sau:
- Hình ảnh các đài-bể thận dãn căng thành từng chùm tròn do chít tắc ở phía
dưới.
- Hình ảnh khuyết các đài-bể thận do các khối u ác tính.
- Hình ảnh đài-bể thận kéo dài khoảng cách giữa các đài thận rộng do các khối
nang trong thận.
- Hình ảnh đài-bể thận nham nhở, gặp trong lao thận.
- Các hình ảnh dị tật bẩm sinh: thận lạc chỗ, thận đơn, thận móng ngựa, chít
hẹp chỗ nối niệu quản-bàng quang.
3. Chụp niệu quản bể thận thận ngược dòng có thuốc cản quang (uretero
pyelographie retrograde, UPR).
3.1. Mục đích:
- Phát hiện hẹp hoặc tắc niệu quản do sỏi hoặc các nguyên nhân khác; nếu còn
nghi ngờ sỏi cản quang niệu quản thì chụp thận ngược dòng là phương pháp chẩn
đoán xác định có giá trị.
- Nhằm phát hiện hình đài-bể thận niệu quản trong trường hợp chụp thận thuốc
tĩnh mạch không ngấm.
3.2. Chỉ định, chống chỉ định:
+ Chỉ định: Tất cả các trường hợp không chụp được UIV hoặc chụp UIV cho kết quả
không rõ. Tìm các đường dò lưu thông từ thận sang hệ thống bạch huyết.
+ Chống chỉ định:
Khi có nhiễm khuẩn đường niệu: viêm bàng quang, viêm niệu đạo vì dễ gây viêm
bể thận ngược dòng.
mại, nhẵn, niêm mạc hồng, không có xung huyết, gianh giới rõ ràng trên xương
mu.
4.3.2. Bệnh lý: Thể tích bàng quang quá nhỏ < 50 - 100 ml, hình ảnh trào ngược
thành bàng quang niệu quản. Lỗ dò bàng quang với ruột, bàng quang với âm đạo,
khối u trong bàng quang, bàng quang dãn căng, viêm bàng quang cấp thì xung
huyết đỏ, mãn thì niêm mạc nhợt nhạt, bàng quang dị dạng, hình ảnh u tiền liệt
tuyến đội lên cổ bàng quang.
5. Chụp thận bơm hơi sau phúc mạc (retro peritoneal pneumography) hay
bơm khí trước xương cùng (presacral pneumography).
Chụp X quang thận sau khi bơm hơi vào quanh hố thận sau phúc mạc, hơi được
vào tổ chức quanh thận, hơi sẽ tách thận và tổ chức nên nhìn thấy rõ thận và tuyến
thượng thận.
5.1. Chỉ định:
- Phát hiện bóng thận, kích thước thận, tuyến thượng thận.
- Phát hiện các dị dạng của thận.
- Phát hiện các khối u sau phúc mạc, các ổ áp xe cạnh thận.
5.2. Tiến hành:
- Bơm khí vào khoang phúc mạc qua kim chọc vào điểm sau trực tràng trước
xương cùng cụt: bơm khí vào trong thấy nhẹ là đúng vị trí.
- Khí được dùng là: ôxy hoặc khí trời, lượng khí bơm vào 300 - 500ml.
Chú ý: khi bơm khí vào bên nào phải nằm nghiêng về bên đó, chụp X quang ngay
sau khi bơm khí. Bơm khí xong để BN nằm phủ phục 5-10’ để hơi đi lên hố thận
rồi mới chụp, trước chụp cần xác định lượng hơi đã lên hố thận chưa có thể gõ
vùng hố thận thấy trong, hoặc tốt nhất là chiếu X quang kiểm tra.
- Sau khi chụp cho bệnh nhân nằm tư thế đầu thấp trong 24h.
5.3. Tai biến: Tai biến thường gặp là đau lưng, đau bụng, tràn khí dưới da, tràn khi
trung, thất tắc mạch hơi. Đặc biệt cần đề phòng có thể có phản xạ ngừng tim đột
ngột do khối khí ép và kích thích lên cơ hoành. Hiện nay, phương pháp này ít
được dùng vì có siêu âm thận, nó chỉ được dùng trong một số trường hợp để nhận
định hình thái tuyến thượng thận.
+ Bệnh lý:
- Tăng sinh mạch ở vị trí có khối u ác tính của thận.
- Giảm sinh mạch máu ở những vùng có khối u nang.
- Phình động mạch thận, hẹp động mạch thận ở bệnh nhân tăng huyết áp, có
thể thấy nhánh phụ của động mạch thận.
7. Chụp bạch mạch.
7.1. Chỉ định và tiến hành:
7.1.1. Chỉ định: chẩn đoán các trường hợp rò bạch mạch.
7.1.2. Tiến hành: tìm bạch mạch vùng mu chân bằng cách tiêm xanh Evans dưới
da sẽ ngấm chọn lọc vào bạch mạch.
Bộc lộ bạch mạch: dùng kim nhỏ luồn vào bạch mạch, bơm thuốc cản quang dầu
loại lipiodol cực lỏng (lipiodol ultra fluide) bằng bơm áp lực.
Chụp phim thận sau bơm 30’ đến 1h.
7.2. Đánh giá kết quả: sau khi tiêm, thuốc cản quang ngấm vào hệ thống bạch
mạch quanh thận. Trường hợp bệnh lý có thể thấy dãn các đường bạch mạch, hoặc
thấy ngấm thuốc vào đài bể thận là có dò dưỡng chấp vào thận (đái dưỡng chấp).
8. Chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hình thái (CT scanner).
8.1. Nguyên lý:
Năm 1971, CT scanner được ứng dụng lần đầu tiên để chụp sọ não. Từ đó tới nay,
CT scanner phát triển không ngừng và phạm vi ứng dụng của kỹ thuật này được
mở rộng vào nhiều chuyên khoa, trong đó có chẩn đoán hình thái thận-tiết niệu.
Nguyên lý của chụp cắt lớp vi tính dựa vào sự khác nhau về đậm độ của các chất
cấu tạo nên tổ chức-cơ quan được chụp hiện ra trên màn hình tại các lớp cắt khác
nhau qua xử lý bằng máy vi tính.
Trong cơ thể, các mô, cơ quan khác nhau được cấu tạo nên bởi các chất có trọng
lượng phân tử khác nhau và có đậm độ khác nhau. Các tổ chức có trọng lượng
phân tử lớn, đậm độ cao sẽ cản nhiều tia X; Khi đó, hình chụp cắt lớp vi tính được
thể hiện bằng hình sáng trên phim, ví dụ như hình xương. Các tổ chức có trọng
lượng phân tử nhỏ, đậm độ thấp sẽ ít cản tia X; Khi đó, chụp CT scanner sẽ cho
hình tối (hay hình đen) trên phim , như: hình của dịch, nước, hơi.