TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÀ DƯỢC LIỆU CHỮA UNG THƯ
PHẦN 1: Vài nét cơ bản về bệnh ung thư
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ung thư là một nhóm các bệnh liên
quan đến việc phân chia tế bào không theo tổ chức và không kiểm soát được,
có khả năng tồn tại và phát triển ở các tổ chức lạ [1]. Các tế bào này có khả
năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận
hoặc di chuyển theo mạch máu đến phát triển ở các mô ở xa (gọi là di căn),
gây nguy hiểm cho tính mạng con người [1], [2].
Nguyên nhân gây ung thư là do sự đột biến ADN, gây ra đột biến ở các
gen thiết yếu ở quá trình phân bào và các quá trình thiết yếu khác [2], [3].
Các tế bào này không tuân theo qui trình tự nhiên là sinh ra – phát triển – già
– chết mà chúng phát triển không kiểm soát được, vô hạn, tích lũy dần dần
tạo ra khối u (tumor), tức là ung thư. Khi các tế bào ung thư phát triển mạnh
mẽ gây chèn ép các tế bào bình thường, hoặc gây mất chức năng của các tế
bào bình thường sẽ dẫn đến tử vong [1−3]. Có nhiều tác nhân gây ra ung thư
gồm có các hóa chất độc hại từ tự nhiên (trong khói thuốc lá, các loài sinh
vật như nấm, môi trường), các tác nhân vật lý (tia tử ngoại, tia phóng xạ),
các tác nhân sinh học (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng), do di truyền [4].
Tuy cùng gọi chung là ung thư, nhưng thực chất nó gồm có nhiều bệnh
có cùng tính chất như trên [1−3]. Thông thường ung thư được phân loại theo
tế bào, mô bị ung thư như ung thư phổi (lung cancer), ung thư vú (breast
cancer), ung thư dạ dày (stomuch cancer), ung thư bàng quang (bladder
cancer), ung thư buồng trứng (ovarian cancer), ung thư biểu mô
(carcinoma)
Sự nguy hiểm của ung thư và cuộc chiến chống ung thư
Ung thư đã gây tử vong lớn trên thế giới, theo WHO thì ung thư là
1
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới [4]. Cũng theo WHO năm
2004, ung thư gây tử vong khoảng 7,4 triệu người (khoảng 13% trường hợp
tử vong) trên thế giới [4], và khoảng 7,6 triệu người năm 2007 [5]. Theo dự
báo đến năm 2030, số người chết vì ung thư hàng năm khoảng 12 triệu
Hàng loạt các chất chống ung thư như camptothecin, vincristin, vinblastin,
taxol đã được phát hiện từ tự nhiên là các cây thuốc được sử dụng trong y
học dân gian với nhiều mục đích khác nhau. Sau đó, các chất này và các dẫn
xuất của chúng đã dùng để điều trị các bệnh ung thư cho đến tận ngày nay.
Mặc dù các nước phát triển đã nghiên cứu sàng lọc các cây thuốc có tác
dụng chống ung thư để tìm ra thuốc chữa bệnh từ thập kỷ 50 của thế kỷ
trước, thì các nghiên cứu này mới bắt đầu phát triển ở Việt Nam khoảng hơn
10 năm gần đây. Chúng tôi xin tóm tắt một số kết quả tiêu biểu của các nhà
khoa học trong nước.
Nhóm nghiên cứu về hợp chất thiên nhiên của GS Phan Tống Sơn (khoa
Hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội) có cho một số kết quả công bố về các
cây thuốc có hoạt tính chống ung thư từ các cây Croton tonkinensis (khổ
sâm cho lá) và Scoparia dulcis (cam thảo nam) [8]. GS Nguyễn Xuân Dũng
(khoa Hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng có công trình chứng minh
các diterpen phân lập từ cây khổ sâm cho lá có tác dụng chống ung thư [9].
Nhóm nghiên cứu của tác giả Phan Văn Kiệm (viện hóa học các hợp chất tự
nhiên), cũng có nhiều kết quả về nghiên cứu các cây thuốc có tác dụng
chống ung thư ở Việt Nam [10]. Trong số đó, cây bùng bục đã được sản xuất
thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị ung thư và hiện có bán trên thị trường.
Cũng nhóm nghiên cứu này đang thực hiện một đề tài cấp nhà nước về sàng
3
lọc nguồn dược liệu có tác dụng diệt tế bào ung thư do GS. TS. Hoàng
Thanh Hương chủ trì. Mục tiêu là tìm ra các dược liệu là cây cỏ, sinh vật
biển có tác dụng diệt các tế bào ung thư [10]. Nhóm nghiên cứu của tác giả
Trần Lê Quân và Trần Kim Qui (trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh) cũng sàng lọc tác dụng ức chế tế bào ung thư của các cây thuốc Việt
Nam và cũng đã phân lập, xác định được cấu trúc của các hoạt chất chống
ung thư từ cây hà thủ ô trắng và cây hồng sâm [11]. Tác giả Nguyễn Hải
Nam (trường Đại học Dược Hà Nội) cũng đã sàng lọc tác dụng chống ung
thư của 58 cây thuốc Việt Nam, chọn lọc được các cây thuốc có tác dụng tốt
chức năng có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư từ các cây thuốc như náng hoa
trắng (Crinum latifolium), đương qui (Agelica sp., biệt dược Angala), bột
nghệ (Curcuma longa, hoạt chất là curcumin)…. Tuy nhiên, không có các
nghiên cứu khoa học đầy đủ về tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc,
dược động học, nghiên cứu về lâm sàng… cho các thuốc này. Vì vậy, các
thuốc mới chỉ dừng lại ở hỗ trợ điều trị ung thư mà không phải dùng trong
điều trị các bệnh ung thư. Mới gần đây, TS. Nguyễn Thị Trâm đã bảo vệ
thành công đề tài cấp nhà nước về tác dụng chống ung thư của cây trinh nữ
hoàng cung Crinum latifolium. Kết quả này mở ra khả năng sản xuất thuốc
chống ung thư từ nguồn dược liệu này.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Viện Dược liệu – Bộ Y tế là cơ quan có chức năng và nhiệm vụ nghiên
cứu khoa học toàn diện về dược liệu, sản xuất thử nghiệm các chế phẩm thuốc từ
dược liệu, hiện đại hóa các dạng bào chế thuốc YHCT, nghiên cứu chứng minh
giá trị khoa học của các bài thuốc cổ truyền, kinh nghiệm sử dụng thuốc
5
trong dân gian. Hiện nay, Viện đang đẩy mạnh việc nghiên cứu nghiên cứu
thành phần hoạt chất trong cây thuốc, sàng lọc các chất có hoạt tính sinh
học, phân lập và nhận dạng, bán tổng hợp các dẫn chất và tổng hợp các hợp
chất làm thuốc. Các nhà khoa học của Viện đã sàng lọc bước đầu được hơn
100 cây thuốc về hoạt tính chống oxy hóa [15], và đã xác định được các hoạt
chất của một số cây có tác dụng mạnh như chè đắng (Ilex kudingcha) [16],
cây mật gấu (Picria tel-ferae) [17], và chè dây (Ampelosis cantoniensis)
[18]. Định hướng của nghiên cứu này là tìm ra các cây thuốc, các hoạt chất
có khả năng phát triển thành thuốc chữa bệnh cho người.
Các nghiên cứu về thuốc chữa bệnh ung thư, Viện Dược liệu đã có hợp
tác nghiên cứu về thuốc dùng cho điều trị bệnh ung thư như “Nghiên cứu
thuốc ức chế u Panacrin tế nguồn dược liệu Việt Nam dùng trong điều trị
ung thư” (do PGS. TS Phạm Kim Mãn làm chủ nhiệm), “Nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng đánh giá tác dụng hỗ trợ của thuốc Angala trong điều trị
theo Y học dân gian, thì chủ yếu chúng ta phải nhập khẩu chúng. Trong khi
đó, ngành hóa dược phục vụ sản xuất thuốc trong nước vẫn còn rất lạc hậu,
và Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 60% thuốc cho nhu cầu sử dụng
trong nước. Chính vì vậy, chính phủ Việt Nam đã có chỉ đạo Phát triển
ngành Dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, nâng cao năng lực sản xuất thuốc trong nước và
kiện toàn hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam để chủ động cung ứng
thường xuyên, kịp thời và đủ thuốc có chất lượng, giá cả hợp lí, sử dụng
thuốc an toàn, hiệu quả phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khoẻ nhân dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới. Để làm
7
được điều đó, chúng ta phải biết bảo tồn, phát triển, và khai thác nguồn tài
nguyên của nước ta.
Chúng ta biết rằng nước ta có khoảng 12000 loài, trong đó có khoảng
4000 loài được biết làm thuốc trong y học dân gian. Đây là một nguồn dược
liệu vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước. Việc nghiên cứu,
tìm kiếm, khai thác, sử dụng bảo tồn nguồn tài nguyên đó như thế nào để nó
phục vụ cho sự phát triển của đất nước là một nhiệm vụ của mọi người dân
Việt Nam. Do nhiều điều kiện, cả khách quan và chủ quan, chúng ta mới
khai thác được rất ít nguồn tài nguyên này. Việc tìm ra nguồn nguyên liệu có
chứa các hoạt chống ung thư và chống oxy hóa sẽ định hướng cho việc bảo
tồn, phát triển, khai thác nguồn nguyên liệu này với mục đích dùng làm
thuốc tại Việt Nam.
Cũng có một vấn đề nữa là trong dân gian có có nhiều người sử dụng các
cây thuốc để chữa bệnh nhưng chưa có cơ sở khoa học thật sự. Một số ví dụ
về sử dụng cây thuốc, con vật để điều trị bệnh ung thư như lược vàng, cây xạ
đen, cá nóc… . Tất cả các trường hợp này đều chưa có những nghiên cứu
khoa học chứng minh, mà chỉ do sự đồn thổi trong nhân dân. Để giải quyết
những vấn đề này, các nhà khoa học phải tiến hành những nghiên cứu khoa
học để chứng minh hay bác bỏ những tác dụng của các cây thuốc theo dân
V., Huong L. M. Lee J. J., Kim Y. H. New cytotoxic benzopyrans
from the leaves of Mallotus apelta. Arch. Pharm. Res. 2005, 28,
1131–1134. (c) Dang N. H., Thanh N. V., Kiem P. V., Huong L. M.,
Minh C. V., Kim Y. H. Two new triterpene glycosides from the
Vietnamese sea cucumber Holothuria scabra. Arch. Pharm. Res.
9
2007, 30, 1387–1391. (d) Kiem P. V., Thu V. K., Yen P. H., Nhiem
N. X., Tung N. H., Cuong N. X., Minh C. V., Huong H. T., Hyun J.
H., Kang H. K., Kim Y. H. New triterpenoid saponins from
Glochidion eriocarpum and their cytotoxic activity. Chem. Pharm.
Bull. 2009, 57, 102–105.
11. (a) Ueda J., Tezuka Y., Banskota A. H., Tran Q. L., Tran K. Q.,
Harimaya Y., Saiki I., Kadota S. Antiproliferative activity of
Vietnamese medicinal plants. Biol. Pharm. Bull. 2002, 25, 753–760.
(b) Ueda J. Y., Tezuka Y., Banskota A. H., Tran Q. L., Tran Q. K.,
Saiki I., Kadota S. Antiproliferative activity of cardenolides isolated
from Streptocaulon juventas. Biol. Pharm. Bull. 2003, 26, 1431–1435.
(c) Ueda J. Y., Tezuka Y., Banskota A. H., Tran Q. L., Tran Q. K.,
Saiki I., Kadota S. Constituents of the Vietnamese medicinal plant
Streptocaulon juventas and their antiproliferative activity against the
human HT-1080 fibrosarcoma cell line. J. Nat. Prod. 2003, 66, 1427–
1433. (d) Tran Q. L., Tezuka Y., Banskota A. H., Tran Q. K., Saiki I.,
Kadota S. New spirostanol steroids and steroidal saponins from roots
and rhizomes of Dracaena angustifolia and their antiproliferative
activity. J. Nat. Prod. 2001, 64, 1127–1132.
12. (a) Nam N. H., Kim H. M., Bae K. H., Ahn B. Z. Inhibitory effects of
Vietnamese medicinal plants on tube-like formation of human
umbilical venous cells. Phytother. Res. 2003, 17, 107–111. (b) Nam
N. H., Lee C. W., Hong D. H., Kim H. M., Bae K. H., Ahn B. Z.
Antiinvasive, antiangiogenic and antitumour activity of Ephedra
11
nghiên cứu khoa học 1987 – 2000. Nhà xuất bản KH & KT 2001, Hà
Nội.
/>iso=VNM&rid=119&goButton=Go
PHẦN 2: Các hợp chất (thuốc) có nguồn gốc tự nhiên được dùng điều
trị ung thư
Ngay từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, con người đã đi tìm thuốc điều
trị bệnh ung thư. Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (National Cancer Institute, viết
tắt là NCI) đã có một dự án lớn là sàng lọc và tìm các hoạt chất có tác dụng
chống ung thư để dùng làm thuốc điều trị bệnh này [1]. Trong đó có cả việc
sàng lọc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư để tìm ra hoạt chất của nó.
Một số hợp chất tự nhiên đã được phát hiện và được sử dụng làm thuốc dùng
cho điều trị ung thư. Nổi bật nhất trong số các hợp chất tự nhiên tìm được
trong chương trình này là taxol (paclitaxel), được phân lập từ cây thông đỏ
Taxus brevifolia. Đến năm 1971, Wani và cộng sự công bố phát hiện về hoạt
tính chống ung thư của hợp chất này và xác định được công thức hóa học
của nó [2]. Taxol và các dẫn xuất của nó được dùng điều trị ung thư phổi,
buồng trứng, vú, đầu và cổ [3].
Năm 1966, cũng là Wani và cộng sự đã phát hiện ra camptothecin (Hình
1), một chất chống ung thư do ức chế sự tổng hợp enzyme DNA
topoisomerase của các tế bào ung thư [3], [4]. Camptothecin được chiết tách
và phân lập từ vỏ thân cây Camptotheca acuminate thu hái ở Trung Quốc
[3], [4]. Ngày nay, camptothecin và dẫn xuất của nó là topotecan và
irinotecan được dùng để điều trị ung thư [3], [5].
Trước camptothecin, năm 1963 Johnson và cộng sự đã công bố kết quả
nghiên cứu trước đây của mình về tác dụng chống ung thư của cây dừa cạn
12
(Vinca rosea Linn.) và kết luận các hoạt chất của nó là vinblastine,
vinleurosine,
O
Camptothecin
O
O
HO
O
O
OH
H
O
O
CH
3
O
Paclitaxel (Taxol)
N
H
H
3
COOC
N
H
3
CO
R
N
OCOCH
3
H
O
13
Như vậy, có nhiều hợp chất tự nhiên có tác dụng chống ung thư. Với số
lượng các loài thực vật dự kiến trên thế giới khoảng 500000 loài, sẽ còn
nhiều hợp chất tự nhiên có tác dụng điều trị ung thư mà chúng ta chưa khám
phá ra. Đó cũng là lý do vì sao các nhà khoa học tiếp tục tìm kiếm các thuốc
chống ung thư có nguồn gốc tự nhiên. Sau khi đã tìm ra các hợp chất tự
nhiên có thể phát triển thành thuốc rồi, các nhà khoa học tiếp tục tìm ra các
dẫn xuất của chúng bằng các phản ứng tổng hợp hóa học. Các chất có tác
dụng tốt, ít độc tính, rẻ tiền, dễ bảo quản, bào chế sẽ được xem xét để phát
triển thành thuốc để sử dụng trong điều trị lâm sàng [13], [5], [7], [8].
Tuy việc sàng lọc các cây thuốc đã được làm rất nhiều trên thế giới,
nhưng mới chỉ được thực hiện rất hạn chế ở Việt Nam với số lượng mẫu
sàng lọc ở Việt Nam mới khoảng vài trăm loài. Trong khi chúng ta có tới
hơn 10000 loài thực vật và khoảng 4000 loài trong số đó được dùng làm
thuốc trong dân gian. Đặc biệt, có rất nhiều loài cây đặc hữu của Việt Nam
nói riêng và của Đông Dương nói chung vẫn còn chưa được nghiên cứu về
cả tác dụng sinh học và thành phần hóa học.
Trên cơ sở như vậy, chúng tôi đặt vấn đề tiếp tục sàng lọc các cây thuốc
ở Việt Nam về tác dụng chống ung thư để tìm ra các hoạt chất của chúng để
định hướng làm thuốc chữa bệnh. Mục đích chính của nhiệm vụ này là tìm
ra hoạt chất và nguồn nguyên liệu làm thuốc chống ung thư từ các cây thuốc
Việt Nam. Kết quả của nhiệm vụ sẽ định hướng cho việc phát triển, khai
thác dược liệu ở Việt Nam phục vụ mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
của nhân dân.
Tài liệu tham khảo chính
14
1. Goodman, Jordan; Walsh, Vivien (2001). The Story of Taxol: Nature
and Politics in the Pursuit of an Anti-Cancer Drug. Cambridge
University Press.
2. Wani M. C., Taylor H. L., Wall M. E., Coggon P., McPhail A. T.