Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng - Pdf 25

I / Vấn đề 1: Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng
(Phần 1)
Ngân hàng là gì?
Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng
đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng,
các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ
cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính -
bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty
bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng
đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung
cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu
tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Một ví dụ điển hình về nỗ lực của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi
nhận vào những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả
Merrill Lynch và Dreyfus Corporation, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà
họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Họ nhận thức được rằng, theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ
chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc
hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được
xem là một ngân hàng. Merrill Lynch và các tổ chức phi ngân hàng khác nhận định rằng họ có thể né tránh
những quy định này và sẽ có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Tuy nhiên, Cục Dự trữ
liên bang (Fed), không muốn thấy sự xâm phạm vào lĩnh vực ngân hàng của các “ngân hàng giả”, đã đưa
ra quyết định rằng: việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân
hàng tiêu biểu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Điều đó đưa Merrill Lynch và các tổ
chức tương tự trở thành các ngân hàng thực thụ và phải tuân theo qui định chặt chẽ của Chính phủ.
Sau đó các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán hàng đầu đã kiện lên tòa liên bang, buộc tội Fed
đã vượt quá quyền hạn. Năm 1984, tòa án liên bang công nhận này và buộc Fed phải cho phép tồn tại
hình thức “các ngân hàng phi ngân hàng” và cho họ tham gia bảo hiểm tiền gửi liên bang. Chỉ trong vòng
vài tuần sau phán quyết này, hàng tá đơn xin thành lập “ngân hàng phi ngân hàng” đã được nộp . E.F.
Hutton, J.C.Penney và Sears Roebuck là những công ty cung cấp dịch vụ tài chính hàng đầu được tổ chức
dưới dạng ngân hàng phi ngân hàng. Hơn thế, các công ty sở hữu ngân hàng lớn của Citicorp và Chase

Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý cho
công chúng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem bảng 1-1). Thành công
của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có
nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh. Vậy
ngày nay xã hội đòi hỏi những dịch vụ gì từ phía các ngân hàng? Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu
tổng quân về danh mục dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.

Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng:

Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được
thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy
một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối
với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia
hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng
lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ
chuyên môn cao.

Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ
(khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương
phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng
văn phòng và thiết bị sản xuất.

Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để
huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết
kiệm của khách hàng – một quỹ sinhlợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều
tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi
suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm
mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.


Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học.
Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khỏan tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các
ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời
bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa
kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Tron gphòng ủy thác thương mại, ngân hàng quản lý danh
mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như
những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng
ủy thác trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách
thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.

Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây

Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ
gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương
đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng bắt đầu dựa
nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh
khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng
như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do
Citicorp và Bank of America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh. Sau chiến
tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng
trưởng nhanh nhất. Mặc dầu vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng
tiêu dùng ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu
dùng vẫn tiếp tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng
nhất.

Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài
chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa
dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường
trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.


quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có
thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô
hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên
doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn
phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó.
Một số bang như Delawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm được
quy định trên toàn quốc. Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu được phép sẽ có thể cung cấp
các dịchvụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt, những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới
hạn ở mực 10% tổng số vốn chủ sở hữu. Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty
bảo hiểm Travelers tromg một số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiêm đa dạng hơn.

Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch
hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những
người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS
và Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.

Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân
hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến các
ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu,
trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài
trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động (ví dụ Bank of America mua
Robertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môi giới.

Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống
với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment
products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển
vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho
khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ
tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ

dịch vụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điều kiện ngân hàng không được đầu tư quá
10% vốn cổ phần vòa một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và
như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn bộ dịch vụ tài trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh
chứng khoán. Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank
America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New York mua công ty Alex Brow.

Sự thuận tiện: Tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng. Rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng
đều cung cấp nhiều dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ mà chúng tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả
thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan tiền gửi
mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang
được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm.
Nhìn chung, dạnh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn
cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình
thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ
nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một
mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là
Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp.
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 3)
Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng
Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở phần trước, các ngân hàng
đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục
dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính
khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng
chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành
công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ
không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi
cho vay.
Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi
ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín
dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu

thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có
giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường
khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích
thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các
ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống
dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng.
Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép
khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các
bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và
hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.
Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử dụng ít lao động và chi
phí biến đổi. Nhiều chuyên gia tin rằng các tòa nhà ngân hàng và các cuộc mít tinh gặp mặt trực tiếp giữa
các nhà ngân hàng và khach shàng cuối cùng sẽ trở thành những di tích của quá khứ và bị thay thế bởi
các cuộc liên quan và giao tiếp điện tử. Sản xuất và cung cấp dịch vụ sẽ hoàn toàn tự động. Những bước
đị đó sẽ giảm đáng kể chi phí nhân công hóa ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy móc
thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệp gần đây gợi ý rằng một ngành ngân hàng hoàn
toàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời. Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con
người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.
Sự củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi
mới công gnhệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng phải có qui mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần pahỉ mở rộng
cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả
là hoạt động mở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng
nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng mua lại các ngân hàng nỏi và đưau chúng
trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã
diễn ra như vụ hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhttan ở New York hay Bank of America và
Nations Bank. Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập và bắt đầu giảm và qui mô trung bình của các công
ty ngân hàng đã tăng đáng kể. Cùng lúc đó, số lượng các ngân hàng nhỏ của Mỹ (tổng tài sản dưới 1 tỷ
USD) đã giảm mạnh ít nhất là 1/3 kể từ giữa thập kỷ 80, số lượng nhân viên giảm hơn 100.000 người
trong cùng thời ký.

Phải chăng các ngân hàng đang chết?
Gần đây Mỹ, châu Âu và châu Á, hàng trăm ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi đã sáp nhập và sụp
đổ. Người ta bắt đầu lo lắng cho tương lai của ngành công nghiệp ngân hàng. Thậm chí, đối với các ngân
hàng còn sống sót, có những bằng chứng cho thấy thị phần của chúng trên thị trường dịch vụ tài chính bắt
đầu suy giảm trong khi các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm, các quỹ tương hỗ và các công ty
tài chính đã đạt được sự tăng trưởng thị phần đáng kể. Gần đây, ngân hàng Dự trữ Liên bang St.Louis đã
tính toán rằng tỷ lệ tổng tài sản do ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi nắm giữ so với tất cả các trung
gian tài chính giảm từ 56% năm 1982 xuống hơn 42% trong năm 1991 – một “sự co rút tự nhiên” theo sau
làn sóng phi quản lý hóa trong ngành công nghiệp này và với mtộ thị trường tài chính phức tạp hơn. Một số
nhà phân tích (ví dụ Beim đã tuyen bố rằng các ngân hàng hiện nay đang “chết”.
Khi các thị trường ngày càng trở nên có hiệu quả với những tiến bộ gần đây trong công nghệ, cùng với xu
hướng các khách hàng lớn hơn tăng cường tìm kiếm những phương thức vay nợ mới (như bán chứng
khoán trên thị trường mở), các ngân hàng truyền thống ngày càng trở nên ít cần thiết. Ít nhất thì cũng có
quá nhiều ngân hàng - ở Mỹ có gần 9.000 – và có quá nhiều nguồn lực được tập trung vào lĩnh vực ngân
hàng. Người ta có thể phản đối rằng rất nhiều những ngân hàng này đơn giản là đang nhận được sự bảo
vệ và nâng đỡ của Chính phủ dưới hình thức bảo hiểm tiền gửi và các khoản vay của Chính phủ với giá
rẻ. Có lẽ, sự sáp nhập và đổ vỡ ngân hàng toàn cầu gần đây chỉ đơn giản là dấu hiệu cho thấy ngành công
nghiệp ngân hàng đã “quá đông” và đang phải đương đầu về sự sa sút nhu cầu đối với các dịch vụ truyền
thống.
Rồi nữa, các ngân hàng cũng phải chịu gánh nặng từ những qui định của Chính phủ hơn hầu hết các đối
thủ cạnh tranh. Trong những năm 1990, một cuộc điều tra của Hiệp hội ngân hàng Mỹ ABA đã ước tính
rằng chi phí do tuân theo qui định của liên bang và cảu tiểu bang lên tới 11 tỷ USD (khoảng 60% lợi nhuận
hàng năm của ngành này). Sự sa sút trong thị phần ngân hàng thị trường dịch vụ tài chính đã gây lo ngại
cho các nhà hoạch định chính sách và cho các khách hàng của ngân hàng. Trong đó có người lo sợ rằng
tầm quan trọng bị suy giảm của ngân hàng có thể:
• Làm giảm khả năng của Ngân hàng trung ương trong việc điều tiết sự tăng trưởng của mức cung
tiền tệ và trong việc đạt được các mục tiêu kinh tế quốc gia.
• Gây thiệt hại cho khách hàng (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và hộ gia đình) là những người
hầu hết dựa vào tiền vay và các dịch vụ tài chính khác của ngân hàng.
• Làm cho các dịch vụ ngân hàng kém thuận tiện cho khách hàng khi các chi nhánh ngân hàng bị

ngân hàng còn đơn giản, người dân gửi tiền cho nhà thờ, lãnh chúa, đến kì hạn họ rút tiền ra và đem trả
tiền công cho việc cất giữ.
Khoảng 2000 năm trước công nguyên, có hai phát kiến quan trọng đã biến những người giữ tiền thành chủ
ngân hàng.
Thứ nhất: Thay vì giao dịch bằng tiền thì người ta có thể thanh toán chứng thư xác nhận tiền họ có ở ngân
hàng. Chứng thư này được chấp nhận vì người nhận thanh toán tin rằng với chứng thư này họ có thể lấy
được tiền ở ngân hàng mà họ gửi.
Thứ hai: Những người chủ ngân hàng thông minh nhận thấy rằng khi họ cất giữ tiền thì tiền này chỉ để ở
trong kho mà không làm gì cả, trong khi các thương nhân lại cần vốn để kinh doanh, nhận thấy nhu cầu
vốn rất cao, những người chủ ngân hàng có thể đem cho thương nhân vay và lấy lời, số lời này được chia
một số cho những người gửi tiền, và cứ thế ngân hàng cứ phát triển dần.
Vai trò của ngân hàng đối với nền kinh tế

Ngân hàng là nơi tập trung tiền tệ nhàn rỗi và cung ứng tiền cho sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa nhanh
chóng.
Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn.
Ngân hàng thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung ứng các dịch vụ tài chính khác.
Hệ thống ngân hàng
Ngân hàng được chia làm hai loại chính:
- Ngân hàng trung ương
- Ngân hàng trung gian
1. Ngân hàng trung ương

Phần này ta sơ lược về ngân hàng trung ương và một số vai trò của nó, phần sau chúng ta sẽ phân tích kĩ
hơn vai trò của nó.
Sự ra đời của ngân hàng trung ương cũng giống như sự ra đời của ngân hàng vậy, nó cũng đi từ những
giai đoạn sơ khai như vậy. Nhưng với quá trình phát triển của nền kinh tế ngân hàng trung ương ngày
càng có vai trò quan trọng.
Trong suốt quá trình lịch sử Nhà nước thấy cần phải điều tiết nền kinh tế theo một chính sách nhất định,


c. Ngân hàng đặc biệt
Ngân hàng này giống ngân hàng thương mại cũng có một số nét giống ngân hàng kinh doanh.
Một số ngân hàng đặc biệt như:
- Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương ở Hoa Kì
- Hiệp hội cho vay và tiết kiệm ở Hoa Kì
- Ngân hàng xuất nhập khẩu
- Ngân hàng bất động sản
d. Ngân hàng có mục đích xã hội
Ví dụ như Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (VBSP) là một cơ quan tài chính của Chính phủ, có
nhiệm vụ triển khai các chương trình cung cấp tài chính cho người nghèo và doanh nghiệp nhỏ.
VBSP được thành lập tháng 10 năm 2002 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1, 2003. VBSP có 64
chi nhánh và 592 văn phòng giao dịch tại các tỉnh thành. Tính đến 31 tháng 12, 2005, tổng số vốn cho vay
chưa được thu hồi của VBSP là 18.4 nghìn tỷ đồng (1,152 triệu đô la Mỹ).
Đặng Lê Quốc Hoàng
Vấn đề 3: Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng
thương mại
Định nghĩa ngân hàng thương mại
Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian. Ở mỗi nước có một cách định nghĩa
riêng về ngân hàng thương mại. Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên
cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính. Ở Pháp: ngân hàng thương mại
là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình
thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở
Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư. Ở Thổ
Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và
thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn
khác…
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng
thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và

nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng đện tử là chuyện
bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng.
Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực
hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng.
3.Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp

Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat động riêng
lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là
ngân hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống
các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong hệ thống ngân,
trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước. Vậy tiền “bút tệ” được NHTM tạo
ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức
quy định, các sec không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo
thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới
Thanh toán
cho vay mới
Dự trữ bắt buộc
Ngân hàng A 1.000.000 900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000 90.000
Ngân hàng C 810.000 729.000 81.000
... ... ...
Tiền toàn hệ thống ngân hàng 10.000.000 9.000.000 1.000.000

Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10% thì số tiền nó có thể cho
vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về
mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan. Và số tiền
đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ

định hạn mức vốn lưu động phải căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và trên cơ sở khai
thác hết các nguồn vốn phi ngân hàng khác. Có như vậy mới xác định đúng và hợp lý nhu cầu vốn vay,
tránh tình trạng cho vay quá mức cần thiết làm tổn hại đến khả năng thu hồi nợ. Mặc khác, không vì thế mà
xác định quá khắt khe không đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho doanh nghiệp.
Căn cứ để xác định hạn mức tín dụng là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, trong đó dự báo chi tiết về
tài sản và nguồn vốn. Các khoản mục trong bảng kế hoạch tài chính có thể liệt kê ở bảng dưới đây :
Tài sản Nợ và vốn chủ sở hữu
Tài sản lưu động Nợ phải trả
. Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng . Nợ ngắn hạn
. Chứng khoán ngắn hạn
Phải trả người bán
. Khoản phải thu Phải trả công nhân viên
. Hàng tồn kho Phải trả khác
. Tài sản lưu động khác. Vay ngắn hạn ngân hàng
Tài sản cố định . Nợ dài hạn
Đầu tư tài chính dài hạn Vốn chủ sở hữu
Tổng cộng tài sản Tổng cộng nợ và vốn chủ sở hữu
Dựa vào kế hoạch tài chính nhận từ khách hàng nhân viên tín dụng sẽ tiến hành xác định hạn mức tín
dụng theo từng bước như sau :
Bước 1 : Xác định và thẩm định tính chất hợp lý của tổng tài sản.
Bước 2 : Xác định và thẩm định tính chất hợp lý của nguồn vốn.
Bước 3 : Xác định hạn mức tín dụng theo công thức sau :
Hạn mức tín dụng = Nhu cầu vốn lưu động - vốn chủ sở hữu tham gia.
Trong đó : Nhu cầu vốn lưu động = giá trị tài sản lưu động - nợ ngắn hạn phi ngân hàng (1) - Nợ dài hạn
có thể sử dụng (2)
(1) gồm : Phải trả người bán, Phải trả công viên, Phải trả khác
(2) Chính là giá trị tài sản lưu động do nguồn dài hạn tài trợ.
Để minh hoạ cho việc thu thập thông tin từ kế hoạch tài chính do khách hàng lập và áp dụng công thức
trên để xác định hạn mức tín dụng, chúng ta xem xét ví dụ sau đây khi một nhân viên tín dụng của Ngân
hàng TMCP X nhận được kế hoạch tài chính của khách hàng .

Đầu tư tài chính dài hạn
500
Vốn chủ sở hữu
2.200
Tổng cộng tài sản
7.650
Tổng cộng nợ và vốn chủ sở hữu
7.650

Dựa vào kế hoạch tài chính trên đây, có ba cách xác định hạn mức tín dụng.
Cách 1 : Vốn chủ sở hữu tham gia theo tỷ lệ phần trăm tối thiểu (giả sử trong trường hợp này là 30% ) tính
trên chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn phi ngân hàng.
1. Giá trị TSLĐ
4.150
2. Nợ ngắn hạn phi ngân hàng = ( 910 + 750 + 150 )
1.810
3. Mức chênh lệch = (1) - (2)
2.340
4. Vốn chủ sở hữu tham gia = (3) x tỷ lệ tham gia (30%)
702
5. Mức cho vay tối đa của ngân hàng = (3) - (4)
1.638

Cách 2 : Vốn chủ sở hữu tham gia theo tỷ lệ % tối thiểu ( giả sử là 30% ) tính trên tổng tài sản lưu động.
1. Giá trị TSLĐ
4.150
2. Vốn chủ sở hữu tham gia = 30% x (1)

thực tế tại một số ngân hàng hiện nay đang áp dụng như thế nào?

Trước khi đi vào chi tiết, tôi xin trình bày tóm tắt một số nội dung cơ bản trong hoạt động xét cấp HMTD tại
các ngân hàng hiện nay, như sau:
• Cho vay theo HMTD là một trong hai phương thức cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các doanh
nghiệp hiện nay.
• Việc xét cấp HMTD không có một khuôn mẫu chung thống nhất giữa các ngân hàng, hay nói cách
khác là luôn có sự khác nhau giữa các ngân hàng, tuỳ theo đối tượng khách hàng, phương án,
lĩnh vực, xu hướng ngành nghề khác nhau.
• Kỹ thuật xác định HMTD hiện nay tại các ngân hàng đang áp dụng thông thường dựa trên 2 cách :
(a) Dựa vào chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn; (b) Dựa vào lưu chuyển tiền tệ.
• Điều kiện áp dụng đối với loại hình cho vay ngắn hạn này thường là những khách hàng đã có quan
hệ tín dụng có uy tín với ngân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh đi vào
ổn định, có nguồn thông tin khá đầy đủ chính xác.
• Trong quá trình xét cấp HMTD, yếu tố kinh nghiệm cá nhân, bộ phận phụ trách tín dụng là rất cần
thiết góp phần quan trọng trong tiêu chí : “không quá khắt khe khiến không đáp ứng nhu cầu vốn
cho doanh nghiệp, cũng như tránh tình trạng cho vay quá mức cần thiết làm tổn hại đến khả năng
thu hồi nợ”.
• Nét đặc trưng của hình thức cho vay này: đối tượng cho vay là đối tượng gộp; hoạt động vay trả
diễn ra liên tục; có thể không có thời hạn vay và kỳ hạn trả nợ cụ thể chỉ có thời hạn hiệu lực của
hợp đồng tín dụng hạn mức; doanh số cho vay có khi lớn hơn HMTD trong thời gian duy trì HMTD.
Kỹ thuật xác định HMTD trong thực tế tại một số ngân hàng hiện nay.

1. Dựa vào chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn :
Tôi xin chia sẽ cách xác định HMTD của ngân hàng công thương (ICB) :

Tổng quát :
HMTD = Nhu cầu Vốn lưu động kỳ kế hoạch - Vốn tự có - Vốn huy động khác

Trong đó :

Trong cách tiếp cận này, ngoài ngân hàng ICB ra, thì một số ngân hàng khác như ngân hàng đầu tư phát
triển, nông nghiệp nông thôn về cơ bản cũng có cách làm tương tự nhau.

2. Dựa vào lưu chuyển tiền tệ:

a. Cở sở xác định HMTD: Thông qua các Báo cáo tài chính, Bảng kế hoạch nhận từ khách hàng, ta dự
toán các nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp dưới dạng thành tiền để lập bảng lưu chuyển tiền tệ.
b. Trình tự xác định HMTD thông qua lưu chuyển tiền tệ.
• Xác định lưu chuyển tiền tệ ròng trong kỳ dự toán.
• Tính thặng dự / thâm hụt
• So sánh với số dư tiền tối thiểu trong kỳ dự toán để xác định kế hoạch giải ngân / thu nợ.
• Xác định HMTD.
Việc xác định lưu chuyển tiền tệ như chúng ta đã được biết trong tài chính doanh nghiệp và thẩm định dự
án. Thông thường hiện nay có hai phương pháp cách xác định lưu chuyển tiền tệ : Trực tiếp và gián tiếp.
Trong hai phương pháp này, mặc dù cách tiếp cận khác nhau nhưng đều đi đến kết quả cuối cùng đó là
dòng tiền ròng phải như nhau. Nếu như cách tiếp cận trực tiếp cho ta biết được các dòng tiền vào, dòng
tiền ra đi đâu, về đâu như thế nào, thì trong cách tiếp cận gián tiếp cho ta biết được một doanh nghiệp có
lợi nhuận nhưng chưa chắc là có tiền. Ở đây, tôi xin chia sẽ đến các bạn cách xác định HMTD thông qua
lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp ( còn kỹ thuật lập báo cáo ngân lưu như thế nào sẽ được
trình bày trong phần khác ).

Các hoạt động chủ yếu trên báo cáo ngân lưu bao gồm :

Bảng 1 : Ngân lưu vào và ra của từng hoạt động
Ngân lưu vào Ngân lưu ra
I/. Ngân lưu từ hoạt động kinh doanh.
• Thu tiền khách hàng • Chi trả cho người bán
• Thu lãi vay và thu cổ tức được chia. • Chi trả : lương, lãi vay, thuế .
• Thu khác từ hoạt động kinh doanh • Chi trả khác cho hoạt động kinh doanh.
II/. Ngân lưu từ hoạt động đầu tư.

Lưu chuyển tiền tệ ròng ( 10 ) ( 7 ) 6
Bước 2 : Cách xác định HMTD:
STT Danh mục 31/12/2006 Tháng
01/07
Tháng 02/07 Thá
ng
03/
07
1 Tiền đầu kỳ 7 7 12 10
2 LCTT ròng -10 -7 6
3 Thặng dư/Thâm hụt ( 1+2 ) -3 5 16
4 Số dư tiền tồi thiểu -12 -10 -6
5 Vay nợ ngắn hạn (3+4) 15 5 0
6 Trả nợ ngắn hạn 0 0 16
7 Tiền cuối kỳ (*) ( 3+5 – 6 ) 12 10 0
8 Dư nợ vay 15 20 4
9 Kế hoạch
10
+ giải ngân 15 5 0
+ thu nợ 0 0 16
11 HMTD 20

Như ta đã biết, HMTD là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và
khách hàng đã thoã thuận trong hợp đồng tín dụng. Theo cách hiểu này, ta dễ dàng xác định HMTD tối đa
trong ví dụ trên là: 20 tỷ đồng.
Em là sinh viên đang tìm hiểu về môn tín dụng, cho em hỏi: Thứ nhất: Nếu trong ví dụ trên, giả sử dư nợ
ngắn hạn hiện tại không phải bằng 0 (giả sử bằng 10) thì hạn mức tín dụng có thay đổi không? Ngoài thực
tế thì Ngân hàng xử lí thế nào?
Thứ 2: Số dư tiền tối thiểu có phải chính là số dư đầu kỳ của tháng sau không?
Cho mình hỏi đầu bài này thêm một chút: sao Sản lượng (80tỷ) lại nhỏ hơn doanh thu (60 tỷ) ? Cái lợi

• VLĐ tự có: 10 tỉ
Giả sử tất cả các chỉ tiêu về tài chính doanh nghiệp đều tốt và doanh nghiệp đề nghị xin ngân hàng cấp
hạn mức tín dụng là 50 tỉ.Vậy ngân hàng sẽ cấp bao nhiêu?
1. A 50 tỉ
2. B: 40 tỉ
3. C.30 tỉ
4. D.20 tỉ.
Em cảm ơn các bác nhiều ạ.
Nhiều Ngân hàng hiện nay đang áp dụng cách tính Nhu cầu vốn lưu động như của bạn lola75. Tuy nhiên,
tôi chỉ bổ sung thêm 1 chút là khi tính vòng quay VLD như cách bạn trình bày thì ngoài tính thời gian thu
hồi nợ, thời gian tồn kho, còn tính thêm cả thời gian sản xuất và thời gian bán hàng, vận chuyển...
Phần chi phí bằng tiền của đơn vị trong 1 năm: ngoài loại trừ Khấu hao còn loại trừ cả thuế VAT.
Sau khi tính ra được nhu cầu VLD = E/365 x D thì bạn phải tính thêm một bước nữa đó là tính ra Nhu cầu
VLD cần Ngân hàng tài trợ bằng cách loại trừ phần vốn mà Doanh nghiệp có thể tự thu xếp được bằng
cách lấy Nhu cầu VLD (E/365xD) trừ đi (-) phần vốn tự có của DN (VCSH hoặc Vốn dài hạn có thể tài trợ
được cho ngắn hạn) - Vốn tính lũy (Lợi nhuận chưa phân phối) - Vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp - Vốn
huy động từ bên ngoài. Sau khi loại trừ những phần vốn này, bạn sẽ được nhu cầu chính xác DN cần ngân
hàng tài trợ là bao nhiêu.
Hạn mức tín dụng thương mại cần sự linh hoạt - Việc xây dựng hạn mức tín dụng cũng chỉ có thể tương
đối chính xác nếu là doanh nghiệp sản xuất có những đơn hàng đều đặn, có thể xác định được kế hoạch
sản xuất chính xác. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại, đặc biệt các doanh nghiệp thu mua
nông sản xuất khẩu, theo tôi được biết hạn mức tín dụng cần bao gồm cả hạn mức thấu chi nữa
(overdraft) bởi vì hạn mức tín dụng sẽ không thể đáp ứng được hết các nhu cầu tài chính phát sinh trong
một năm của doanh nghiệp. Như vậy, khi có nhu cầu mới phát sinh, doanh nghiệp lại phải xin vay vốn nữa
thì sẽ không theo kịp được cơ hội kinh doanh.
Phương án tính thử - Chào các bác. Mình có áp dụng thử cách tính hạn mức vay vốn lưu động theo cách
này không biết các bác đồng ý và cho góp ý nhé: (trong 1 năm)
+ Tính chu kỳ thu hồi nợ = A (ngày)
+ Tính chu kỳ tồn trữ hàng hóa = B (ngày)
+ Tính chu kỳ trả nợ nhà cung cấp = C (ngày)

X4 = Giá Trị Thị Trường của Vốn Chủ Sỡ Hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng Nợ (Market Value of
Total Equity / Book values of total Liabilities)
X5= Tỷ số Doanh Số trên Tổng Tài Sản (Sales/Total Assets)
Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I. Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng
loại hình và ngành của doanh nghiệp, như sau:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2x1 + 1.4x2 + 3.3x3 + 0.64x4 + 0.999x5
• Nếu Z > 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
• Nếu 1.8 < Z < 2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
• Nếu Z <1.8: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z’ = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
• Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
• Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
• Nếu Z’ <1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau
khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra. Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như
sau
Z’’ = 6.56x1 + 3.26x2 + 6.72x3 + 1.05x4
• Nếu Z’’ > 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
• Nếu 1.2 < Z’’ < 2.6 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
• Nếu Z <1.1 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.
Tăng chỉ số Z để giảm thiểu khả năng phá sản:
Để tăng chỉ số Z chúng ta cần tăng từng tử số và giảm mẫu số của từng chỉ số X bên trên. Quan sát 5 chỉ
số X, chúng ta có thể nhận thấy Tổng Tài Sản là mẫu số của 4 chỉ số X1, X2, X3, X5. Do đó nếu doanh
nghiệp có thể giảm được tổng tài sản mà vẫn giữ vững quy mô, hiệu quả hoạt động thì chắc chắn chỉ số Z
sẽ tăng lên rõ rệt. Vì thế doanh nghiệp cần phải rà soát thật kỹ để tìm ra những tài sản không hoạt động,
tức là những tài sản không góp phần trực tiếp hay gián tiếp tạo ra doanh số. Bán chúng đi, doanh nghiệp
sẽ giảm được các mẫu số của 4 chỉ số X nói trên, và đồng thời tăng được tử số của một số chỉ số. Đối với

pháp tốt hơn và thường được lựa chọn là bán bớt những tài sản không hoạt động như đã trình bày
ở trên.
Tóm lại, để tăng chỉ số Z lên, tùy theo tình huống, chúng ta sẽ ra quyết định thực hiện một hay
nhiều giải pháp trên. Tuy vậy, bất cứ giải pháp nào cũng sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn, doanh
nghiệp phải “thắt lưng buột bụng” trong một thời gian. Vì thế phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn
chữ bệnh. Hãy luôn để mắt đến chỉ số Z và hành động ngay để tăng chỉ số này khi nó bắt đầu
“mấp mé” khu vực cảnh báo.
Vấn đề 4: Vay ngắn hạn
1/ : Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính, kênh tín dụng hữu hiệu cho doanh nghiệp

Trích đoạn Cho vay ngắn hạn Công ty cổ phần xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Đối tượng xếp hạng và các dịch vụ của tổ chức xếp hạng tín nhiệm: 1 ĐốI tượng xếp hạng: Xếp hạng nợ ngắn hạn:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status