Nền kinh tế phát triển với các quan hệ kinh tế càng đa dạng và phức tạp từ các quan hệ kinh tế trong nước và các nhân tố nước ngoài doc - Pdf 20

Lời nói đầu
ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, pháp luật luôn đóng một vai trò rất quan trọng. Nó
là tiêu chuẩn pháp lý cho mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Trong hệ thống pháp
luật đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế, nó điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Hiện nay, khi đã chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì
pháp luật về hợp đồng kinh tế đã và đang là một vấn đề hết sức phức tạp . Nền kinh
tế càng phát triển thì các quan hệ kinh tế càng đa dạng và phức tạp hơn nhiều, nó
không chỉ dừng lại ở các quan hệ kinh tế trong nước mà còn có sự tham gia bởi các
nhân tô nước ngoài.
Song cho đến nay, pháp luật hiện hành về chế độ hợp đồng kinh tế của chúng ta vẫn
là pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 cùng với các văn bản cụ thể hoá và
hướng dẫn thi hành pháp lệnh. Thực tế cho thấy pháp lệnh này còn có nhiều điểm
chưa phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế hiện nay. Những hạn chế và
thiếu sót đó đã gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh trong quá trình ký kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế và đồng thời cũng gây trở ngại cho h của các cơ quan
quản lý về hợp đồng kinh tế.
Bên cạnh đó, trong điều kiện nước ta hiện nay, Bộ luật dân sự và Luật thương mại
là hai văn bản rất quan trọng đã được thông qua và có hiệu lực đã đáp ứng được
những đòi hỏi trong đời sống xã hội. Trong khi đó pháp lệnh hợp đồng kinh tế sau
mọt thời gian dài không còn phù hợp, không còn đáp ứng được yêu cầu thực tiễn sôi
động của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những điểm hạn chế
và đưa ra phương hướng sửa đổi bổ sung là rất cần thiết.
Xuât phát từ những đòi hỏi đó, bằng những kiến thức đã được trang bị cùng với
nhận thức về thực tiễn trong quá trình thực tập tại Công ty quan hệ quốc tế - Đầu tư
sản xuất (CIRI), tôi chọn đề tài : "Hợp đồng thuê nhà xưởng tại công ty Quan hệ
quốc tế - Đầu tư sản xuất (CIRT), chế độ pháp lý và thực tiễn áp dụng" để làm đề tài
chuyên đề thực tập cho mình, nhằm nghiên cứu và góp phần vào công cuộc hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.
Đề tài được kết cấu thành 3 chương :

Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế theo kế hoạch , chịu sự điều hành của
Nhà nước. Vì thế, chế độ hợp đồng kinh doanh cũng được thay đổi. Điều lệ tạm thời
về chế độ hợp đồng kinh tế do Chính phủ ban hành theo Nghị định số 004/TTg ngày
4/1/1960 quy định một kiểu hợp đồng mới, hợp đồng được ký kết trên cơ sở kế
hoạch Nhà nước.
Đặc điểm của điều lệ tạm thời là nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa các xí
nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước. Coi ký kết hợp đồng kinh tế là kỷ luật
Nhà nước trong quan hệ kinh tế và chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi
chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, đồng thời cũng không được tự ý thương lượng điều
chỉnh hợp đồng kinh tế nếu không có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền Do đó, chế độ hợp đồng kinh tế được chia làm hai loại : hợp đồng nguyên
tắc và hợp đồng cụ thể.
Bên cạnh đó, Điều lệ tạm thời - cũng qui định việc thành lập Hội đồng trọng tài với
tư cách là cơ quan tài phán Nhà nước có chức năng giải quyết các tranh chấp trong
việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.
Như vậy, chế độ hợp đồng kinh tế thường kỳ này là công cụ pháp lý của việc thực
hiện kế hoạch Nhà nước, với bản chất mang đậm yếu tố kế hoạch còn yếu tố tài sản
là thứ yếu.
3. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ thực hiện chủ trương cải tiến quản lý kinh tế
(1975 - 1988)
Đây là thời kỳ nền kinh tế thực hiện việc quản lý theo phương thức kinh doanh xã
hội chủ nghĩa. Để tương ứng với nó chính phủ đã ban hành Điều lệ về chế độ hợp
đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính
phủ, qui định kiểu hợp đồng kinh tế mới, thay thế cho bản điều lệ tạm thời về chế
độ hợp đồng kinh tế trước đó.
Đặc điểm chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này là : Hợp đồng kinh tế được ký kết
ngay sau khi có sổ kiểm tra kế hoạch và sau đó được điều chỉnh lại khi Nhà nước
gao chỉ tiêu kế hoạch chính thức, việc ký kết hợp đồng kinh tế căn cứ vào phương
hướng, nhiệm vụ , kế hoạch hoặc văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan quản lý
Nhà nước cấp trên, bên cạnh đó các đơn vị kinh tế còn có thể ký kết các hợp đồng

hợp đồng kinh tế . Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế thường được hiểu theo
hai nghĩa. Đó là nghĩa khách quan và chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dưới góc độ ý chí Nhà nước ) : hợp đồng kinh tế là
tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ
kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên chủ thể kinh doanh
với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng kinh tế).
Chế độ hợp đồng kinh tế của nước ta mang đặc thù của pháp luật xã hội chủ nghĩa
nó bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết tư cách chủ thể tham gia;
trình tự và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế; các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
cũng như các nguyên tắc và nội dung thực hiện; các điều kiện và cách thức giải
quyết hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ và thanh lý hợp đồng kinh tế;
quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế; trách nhiệm
vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế, chế độ hợp
đồng kinh tế cũng được thay đổi và phát triển.
- Theo nghĩa chủ quan (tức là theo ý chí của các bên ký kết hợp đồng) : "Hợp đồng
kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về
thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu , ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự qui
định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch
của mình" (Điều 1 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989). Theo nghĩa này,
hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các chủ thể hợp đồng kinh tế.
Như vậy, xét về thực chất hợp đồng kinh tế , cũng như các loại hợp đồng khác, đều
là sự thay đổi giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ cụ thể. Tuy nhiên, có một số điểm khác
nhau giữa hợp đồng kinh tế với các loại hợp đồng khác về tư các chủ thể, mục đích,
hình thức ký kết, thực hiện
2. Đặc điểm hợp đồng kinh tế
Những thay đổi cơ bản trong nền kinh tế cũng như chế độ quản lý kinh tế theo sự
thay đổi những qui định của chế độ hợp đồng kinh tế để phù hợp với tình hìh diễn

3.1 Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm các loại sau:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù :
Là loại hợp đồng mà theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tương xứng nhau
(quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại). Trong quan hệ hợp đồng,
một bên có nghĩa vụ giao hàng hoá, thực hiện dịch vụ hoặc kết quả công việc đã
thoả thuận, bên kia có nghĩa vụ nhận hàng hoá hoặc kết quả đó và thanh toán tiền.
Đây là loại hợp đồng phản ánh quan hệ hàng hoá - tiền tệ với bản chất là quan hệ
ngang giá và được sử dụng trong các lĩnh vực như la trao đổi hàng hoá; vận chuyển
hàng hoá
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức :
Là loại hợp đồng được xác lập trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, các chủ thể kinh doanh có thể thoả thuận với nhau lập ra một cơ sở kinh tế -
kỹ thuật mới để thực hiện mục đích chung. Hợp đồng này không phản ánh quan hệ
hàng hoá tiền tệ, không mang tính chất đền bù. Các bên chủ thể có thể thoả thuận
góp vật chất, góp sức lao động để lập ra cơ sở kinh doanh mới. Song chủ thể của
loại hợp đồng này phải có tư cách pháp nhân đầy đủ. Tuỳ theo tính chất của tổ chức,
hợp đồng không chỉ có 2 bên chủ thể mà có nhiều bên cùng tham gia.
3.2 Căn cứ vào thời hạn thực hiện hợp đồng, hợp đồng kinh tế chia làm 2 loại :
* Hợp đồng kinh tế dài hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở lên nhằm thực hiện
kế hoạch dài hạn
* Hợp đồng kinh tế ngắn hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở xuống, gồm hợp
đồng năm, nửa năm, quý, tháng để thực hiện kế hoạch năm và những phần kế hoạch
trong năm.
Như vậy, tuỳ theo đối tượng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá cả thị
trường mà các chủ thể có thể ký kết hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn.
3.3. Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm:
* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh :
Là những hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh do cơ

Là hợp đồng kinh tế theo đó bên cung cáp dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện hành vi
nhất định phù hợp với ngành nghề đã đăng ký để thoả mãn nhu cầu của bên thuê
dịch vụ và được hưởng khoản tiền công nhất định gọi là phí dịch vụ, còn bên thuê
dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả dịch vụ và thanh toán cho bên thuê dịch vụ
phí như đã thoả thuận.
Tóm lại, trên đây là những hợp đồng kinh tế cụ thể được áp dụng phổ biến trong
thực tiễn đời sống kinh tế của nước ta hiện nay.
4. Nguồn văn bản hiện hành của chế độ hợp đồng kinh tế
1- Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1960 ban hành điều lệ về hợp đồng kinh doanh.
2- Nghị định 04/TTg ngày 04/1/1960 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng
kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước.
3- Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế
4- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
5- Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trưởng qui định chi tiết thi
hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế
6- Quyết định 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trưởng về việc ký kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
III. Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
1. Chế độ ký kết về hợp đồng kinh tế
1.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế
Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ chính
đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã hội, việc ký kết
hợp đồng kinh tế được pháp luật quy định, phải tuân theo những nguyên tắc nhất
định được quy định trong chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế" thì ký kết hợp đồng
kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.1 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ước) của các chủ thể kinh doanh
được pháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế mà không có sự
áp đặt ý chí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân khác nhau. Việc tham

1.1.2 Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi
Theo nguyên tắc này, khi ký kết hợp đồng kinh tế , các chủ thể hợp đồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau mà pháp luật qui định để thoả thuận những vấn đề mà các
bênquan tâm nhằm đạt được mục đích cuối cùng là thiết lập quan hệ hợp đồng kinh
tế, hay nói cách khác , các chủ thể có vai trò như nhau dù họ có địa vị pháp lý khác
nhau.
Biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên được thể hiện
ngay trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế. Các bên đều có quyền đưa
ra yêu cầu của mình và cũng có quyền chấp nhạn hay không chấp nhận ý kiến của
bên kia. Thực hiện nguyên tắc này không phụ thuộc quan hệ sở hữu và quan hệ
quản lý của các chủ thể hợp đồng, bát kể họ thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp
nào quản lý, thì khi ký hợp đồng điều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ,
cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp
đồng đã ký kết. Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ được coi là hình thành khi các bên
thống nhất ý chí với nhau về tất cả các điều khoản trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với tư tưởng hai
bên cùng có lợi nhưng không nhất thiết các bên phải lợi ích như nhau mà mỗi bên
đều có lợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó đòi hỏi các bên phải biết
tôn trọng lợi ích của nhau, không thể để lợi ích của bạn hàng lấn át lợi ích của mình
và ngược lại không để lợi ích của mình lấn át lợi ích của bạn hàng. Vì thế, đây
chính là tư tưởng giúp cho quan hệ được làm ăn lâu dài.
1.1.3 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp luật
- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp đồng kinh tế, thì
bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại
(nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài sản của mình mà không
phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây ra vi phạm đó, trừ các trường
hợp miễm giảm trách nhiệm vật chất. Có nghĩa là, khi hợp đồng kinh tế được ký kết
thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những điều khoản đa cam kết trong hợp
đồng. Nguyên tắc này được qui định trong Điều 29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
Điều 21 Nghị định 17/HĐBT đã dẫn. Đây là một điểm mới của hợp đồng kinh tế

nghiệp 12/6/1999.
Như vậy, những hợp đồng được ký kết giữa các cá nhân với nhau không được gọi là
hợp đồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng
dân sự.
Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và thông tư số
11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế mở rộng điều kiện cho phép pháp nhân có thể xác lập hợp
đồng kinh tế với tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn đầu tư ở Việt Nam, các doanh
nghiệp không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh) , hộ
kinh doanh cá thể, người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình,
hộ nông dân, ngư dân ca thể nếu nội dung của hợp đồng không nhằm mục đích sinh
hoạt tiêu dùng, thuê lao động.
Để hình thành quan hệ hợp đồng kinh tế thì phải có sự tham gia ký kết của các bên
chủ thể hợp đồng kinh tế . Thay mặt cho các bên chủ thể hợp đồng kinh tế đó cần
phải có một người đại diện để ký kết hợp đồng kinh tế. Theo điều 9 - Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế thì đại diện ký kết hợp đồng kinh tế có hai loại :
* Đại diện thương nhân :
Đó là người đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh
doanh . Đối với pháp nhân, đại diện hợp pháp của pháp nhân là người được bổ
nhiệm hay được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và hiện đang giữ chức vụ
gì đó (Điều 52 Nghị định 17/HĐBT ) . Đối với doanh nghiệp tư nhân là chủ doanh
nghiệp hoặc người được doanh nghiệp thuê làm giám đốc. Đối với cá nhân là chính
người đó, đối với hộ kinh doanh cá thể, hộ kinh tế gia đình là chủ hộ.
Người đứng tên đăng ký kinh doanh là người đứng tên xin cấp giấy phép đăng ký
kinh doanh , được cấp giấy kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan có tên.
* Đại diện theo uỷ quyền
Là người được đại diện đương nhiên uỷ quyền thay mình ký kết hợp đồng kinh tế
theo quy định của pháp luật . Việc uỷ quyền này phải được thể hiện bằng văn bản.
Trước khi ký kết hợp đồng kinh tế , người được uỷ quyền phải trình giấy uỷ quyền
cho bên đối tác kiểm tra uỷ quyền có thể theo vụ việc hoặc thường xuyên. Người

Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt động trong
các ngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh.
- Như vậy, đây là căn cứ để chứng minh địa vị pháp lý hợp pháp của các tổ chức
kinh tế, đồng thời khẳng định tính thực tiễn bảo đảm của hợp đồng.
1.3.4. Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng đảm bảo tài
sản của cac bên cùng ký kết.
Căn cứ này chứng minh hoạt động của các bên chủ thể tiến hành không trái với quy
định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc trực tiếp, chịu trách nhiệm tài sản theo
qui định của pháp luật. Đây là căn cứ rất quan trọng đối với việc đảm bảo hiệu lực
của hợp đồng kinh tế , tránh tình trạng vi phạm hợp đồng, chiếm dụng vốn của
nhau.
1.4. Nội dung của hợp đồng kinh tế
Nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ những gì mà hai bên thoả thuận, thể hiện
và nghĩa vụ của các bên ràng buộc với nhau trong quan hệ hợp đồng.
Thông thường về mặt pháp lý, nội dung của hợp đồng kinh tế được thể hiện ở ba
loại điều khoản.
Một là, điều khoản thường lệ - Là những điều khoản mà nội dung đã được pháp luật
qui định mà nếu các bên không ghi vào hợp đồng thì coi như mặc nhiên thừa nhận
và phải có trách nhiệm thực hiện các qui định đó như đã thoả thuận . Ngược lại nếu
ghi vào hợp đồng thì không được thoả thuận trái với quy định đó. Ví dụ : Điều
khoản về khung phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, về bồi thường thiệt hại.v.v
Như vậy, các bên tham gia có thể thoả thuận hay không thoả thuận các điều khoản
thường lệ thì hợp đồng vẫn hình thành khi đã có đủ các điều khoản chủ yếu.
Hai là, điều khoản chủ yếu : Là những điều khoản cơ bản quan trọng nhất của hợp
đồng mà bắt buộc các bên phải thoả thuận và ghi vào hợp đồng, nếu không thì hợp
đồng sẽ không có giá trị pháp lý. Theo điều 12 pháp lệnh hợp đồng kinh tế (đã dẫn)
các điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao gồm :
- Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao
dịch của các bên; họ tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh.
Điều khoản này gọi là điều khoản hình thức của hợp đồng, là điều khoản chủ yếu

khi chưa có quy định của pháp luật hoặc đã có quy định nhưng các bên được vận
dụng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế của mình mà không trái pháp luật.
Chẳng hạn, điều khoản về bảo hành đối với những sản phẩm, hàng hoá, công việc
chưa có quy định của Nhà nước về bảo hành; điều khoản về điều kiện nghiệm thu,
giao nhận sản phẩm, công việc; điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh
tế; điều khoản có hiệu lực của hợp đồng kinh tế Điều khoản tuỳ nghi là điều
khoản phụ nó không ảnh hưởng đến việc hình thành hợp đồng kinh tế mà chỉ là các
điều khoản nhằm kích thích hoàn thiện về nghĩa vụ hợp đồng kinh tế.
Như vậy, nội dung của hợp đồng kinh tế thể rhiện ý chí tự nguyện của các bên
nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Những hợp đồng kinh tế rơi vào
trường hợp sau đây là hợp đồng trái pháp luật và coi là vô hiệu
- Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật
- Một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật để thực hiện công việc và thoả thuận trong hợp đồng.
- Người ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo.
1.5. Hình thức của hợp đồng kinh tế
Theo Điều I và Điều II pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng phải được ký kết bằng
văn bản hoặc bằng tài liệu giao dịch. Những văn bản, tài liệu giao dịch này có chữ
ký xác nhận của các bên về nội dung thoả thuận, thể hiện dưới dạng công văn điện
báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ cho những
hợp đồng kinh tế được ký kết dưới hình thức văn bản, tài liệu giao dịch, nhằm để
ghi nhận một cách đầy đủ rõ ràng các cam kết của các bên bằng "giấy trắng mực
đen". Đây là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện các cam két trong hợp
đồng. Cũng đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của
hợp đồng , giải quyết các tranh chấp , xử lý các vi phạm nếu có.
Cùng với văn bản chính là hợp đồng, các bên còn có thể ký kết các văn bản phụ lục
hợp đồng để cụ thể hoá các điều khoản của hợp đồng kinh tế ký kết hoặc có thể là
ký kết biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào bản hợp đồng. Phụl
ục hợp đồng và văn bản bổ sung có giá trị kinh tế chính.
Theo quy định tại Điều 7 khoản ghi trong Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990

Bước 2 : Chấp nhận đề nghị : Bên được đề nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản
cho bên đề nghị trong thời gian đề nghị. Nếu thống nhất hoàn toàn với bên đề nghị
thì gọi là chấp nhận đề nghị và hợp đồng kinh tế được hình thành và có hiệu lực
pháp lý từ khi bên được đề nghị thể hiện sự thoả thuận về tất cả các điều khoản chủ
yếu của hợp đồng.
Trường hợp bên được đề nghị đưa kèm theo những đề nghị khác thì coi như bên đó
từ chối đề nghị và trở thành người đề nghị mới. Đề nghị mới phải được người đề
nghị trước đó đồng ý thì mới hình thành hợp đồng.
Vì thế, lựa chọn phương thức nào để ký kết hợp đồng kinh tế là quyền của các bên
trên cơ sở điều kiện thực tế của mỗi bên.
2. Chế độ thực hiện hợp đồng kinh tế
2.1. Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế
Sau khi hợp đồng kinh tế được ký kết và đã có hiệu lực pháp lý, các bên phải thực
hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Trong quá trình này các bên phải tuân
thủ theo những nguyên tắc do pháp luật quy định . Theo điều 288 - Bộ luật dân sự
ngày 28/10/1995 và điều 22 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (đã dẫn) những nguyên
tắc chỉ đạo việc thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
- Nguyên tắc chấp hành thực hiện : là các bên phải thực hiện đúng những điều đã
cam kết trong hợp đồng: đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,
phương thức và các thỏa thuận khác, không được tự ý thay đổi đối tượng trong hợp
đồng.
- Nguyên tắc chấp hành đúng: là nguyên tắc thực hiện một cách trung thực , đầy đủ,
chính xác nghĩa vụ đã cam kết tỏng hợp đồng, nhằm đảm bảo tính hợp tác và tin cậy
lẫn nhau .
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác cùng có lợi :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status