Lời mở đầu
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đang từng bước
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của
Nhà nước.Trong một môi trường mới,điều kiện cơ chế quản lý thay đổi,khi hiệu quả
sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã bộc lộ những yếu kém và lâm vào tình
trạng sa sút và khủng hoảng.Kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giới cho thấy,Cổ
phần hóa có vai trò rất quan trọng trongviệc đổi mới các doanh nghiệp Nhà
nước,nhất là những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam.Cổ
phần hóa có tác động mạnh mẽ và rấthiệu quả đến việc khai thác,sử dụng và phát
huy các nguồn lực về vốn, tài sản và con người để phát triển sản xuất kinh
doanh,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy Cổ phần hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình
đổi mới và phát triển DNNN nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Tìm hiểu CPH
DDNN ở nước ta,để thấy được những thành công và khó khăn trong quá trình triển
khai thực hiện ,em đã chọn "Đẩy mạnh cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp
nhà nước ở Việt Nam" làm đề tài cho bài tiểu luận kinh tế chính trị.
Kết cấu bài viết gồm:
I.Lời mở đầu
II.Nội dung
Phần I : Cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.Khái niệm,mục tiêu và thực chất cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Phần II : Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam trong thời gian
qua
1.Một số kết quả đạt được
2.Những vấn đề nảy sinh
3.Nguyên nhân
Phần III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình CPH DNNN
I.Cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.Khái niệm, mục tiêu và thực chất cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước(CPH DNNN) là Nhà nước bán một phần hay
kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị và có cơ cấu
xác định tương ứng với cơ cấu sở hữu.Do đó,sỡ dĩ CPH có thể nâng cao hiệu quả
của các DNNN là do qua CPH,cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp được thay đổi,dẫn
tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
kinh doanh cũng thay đổi theo ; từ đó tạo ra một cơ cấu động lực có chủ thể rõ ràng
và hợp lực mới mạnh mẽ hơn;đồng thời,chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo
cơ chế quản lý mới,tự chủ,năng động hơn,nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ
hơn.Cho nên,thực chất CPH nói chung chính là giải pháp tài chính và tổ chức,dựa
trên chế độ cổ phần,nhằm đổi mới cơ cấu và cơ chế phân chia quyền lợi và trách
nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Còn CPH theo
phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu,dẫn tới thay
đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗ chỉ có nhà nước nắm
quyền và chịu trách nhiệm chuyển sang chia sẻ kết quả kinh doanh,cả quyền lợi và
trách nhiệm,lợi nhuận và rủi ro cho những người tham gia góp vốn,qua đó tạo ra
động lực,trách nhiệm và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.
II.Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam trong thời gian qua
1.một số kết quả đạt được
Đổi mới,sắp xếp và phát triển DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta.Chủ trương này đã được triển khai thực hiện trong gần 20 năm qua.Mặc dù có
nhiều thăng trầm nhưng đã đem lại những kết quả đáng ghi nhận.CPH DNNN được
xem là một giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để cơ cấu lại DNNN.Thực hiện chủ
trương này,ngay từ tháng 5 năm 1990,Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ
tướng chính phủ) ra quyết định số 143-HĐBT cho phép thí điểm chuyển một số
DNNN thành công ty cổ phần.Hai năm sau,ngày 8/6/1992,Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng lại ban hành chỉ thị số 202/CT về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN
thành công ty cổ phần.Từ ngày đó đến nay đã 15 năm.Qua 15 năm thực hiện,đến hết
năm 2005,chúng ta đã thành lập được 2987 công ty cổ phần trên cơ sở CPH DNNN
và bộ phận DNNN.Kết quả thực hiện qua từng năm như sau:
Năm 1990-1992:không có DNNN nào được CPH.
Năm 1993 : 02 đơn vị
Trong các doanh nghiệp đã CPH,30% số các doanh nghiệp được hoàn toàn độc lập
tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của Nhà Nước (Nhà
Nước không nắm giữ một cổ phần nào,toàn bộ thuộc về tập thể người lao động).
Hầu hết các doanh nghiệp thuộc lại nhỏ,yếu,hiệu quả kinh doanh thấp,sức cạnh
tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN,như vậy có thêm điều kiện
để củng cố các DNNN khác.
Qua CPH,nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết:nợ xấu,tồn kho vật tư hàng hóa
kém phẩm chất,các trang thiết bị và tài sản cũ nát…Với các doanh nghiệp đã
CPH,bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi,năng động và sát với thị trường
hơn,phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp,động
lực lao động mới đang dần được tạo ra.Các biện pháp tiến hành cổ phần hóa ngày
càng được hoàn thiện hơn.Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn
độc lập(thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng.Nhiều doanh
nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Năm 2005 đã xuất hiện một điểm sáng mới cần được nhấn mạnh là trong số doanh
nghiệp CPH đã có nhiều doanh nghiệp làm ăn khá,quy mô vốn lớn,hấp dẫn các nhà
đầu tư.Có thể kể đến các công ty như : Công ty khoan và dịch vụ dầu khí,các nhà
máy thủy điện Sông Hinh (Vĩnh Sơn),Thác Bà,Phả Lại.Điện lực Khánh Hòa,Công
ty giấy Tân Mai.Công ty vận tải xăng dầu đường thủy I,Vinamilk,Công ty Kinh
Đô.Giá trị của Vinamilk lên tới 2500 tỷ đồng,trong đó vốn Nhà nước là 1500 tỷ
đồng.Nhà máy thủy điện Sông Hinh có giá trị 2114 tỷ đồng trong đó vốn Nhà nước
là 1253 tỷ đồng.Một điểm khác biệt nữa ,đó là việc xác định giá trị cổ phần được
thực hiện thông qua đấu giá công khai trên thị trường.Ngay trong ngày đầu tiên bán
đấu giá Vinamilk,bán hết hơn 1,66 triệu cổ phiếu với giá trung bình cao gấp 4,89
lần mệnh giá.Tính minh bạch và công khai đấu giá cổ phiếu của công ty Sữa Việt
Nam đã thu hút các nhà đầu tư chiến lược,trong đó có các nhà đầu tư nước
ngoài.Trong số 7 nhà đầu tư,tổ chức mua được cổ phần Vinamilk có 5 quỹ đầu tư
nước ngoài và 2 nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.Đáng chú ý là các nhà đầu tư mới
chiếm tỷ lệ thắng thầu tới 78,4%/tổng số cổ phần bán ra,các quỹ đầu tư nước ngoài
hoạt động ở Việt Nam chỉ chiếm 21,6%,và số vốn thu hút được từ các tổ chức mới
nước.Đây được coi là sự chuyển biến "có chất " nhất thể hiện sự thay đổi căn bản
quan điểm và chủ trương về CPH,góp phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy
nhanh,mạnh tiến trình cải cách hệ thống DNNN một cách công khai,minh bạch và
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia.Trong
đợt đấu giá cổ phiếu đầu tiên của công ty Sữa Việt nam đã thu hút được các nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài và họ đa mua tới 80% tổng số cổ phần bản ra.
Thứ năm, CPH là một xu hướng tất yếu,là giải pháp mang tính đột phá nhằm
chuyển đổi DNNN từ đơn sở hữu sang đa sở hữu.Các doanh nghiệp quân đội cũng
không nằm ngoài xu hướng đó.Khi triển khai thực hiện CPH các DN đã gặp rất
nhiều khó khăn,bởi vì các doanh nghiệp quân đội vốn chưa thích nghi hoàn toàn với
cơ chế thị trường,bản thân người lao động cũng chưa sẵn sàng cho việc này,nhưng
tính đến thời điểm này,đã có 16 DNQĐ triển khai thực hiện CPH,trong đó có 9 công
ty,xí nghiệp phụ thuộc hoàn thành xong(đạt 56% kế hoạch).Hình thức phổ biến nhất
là giữ nguyên vốn Nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu.
Những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõ rệt hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp CPH trên tất cả các chỉ tiêu chủ yếu :về vốn,doanh thu,lợi nhuận,nộp
ngân sách,số lượng lao động và thu nhập của lao động,cổ tức.Kết quả các cuộc điều
tra cho thấy :
• Vốn bình quân một doanh nghiệp tăng từ 24 tỷ đồng(năm 2001) lên 63,6 tỷ
đồng (năm 2004)
• Có tới 92,5% số doanh nghiệp được điều tra cho rằng có lãi,lợi nhuận trước
thuế tăng bình quân 149,8%,lợi nhuận sau thuế tăng bình quân 182,3%,mức nộp
ngân sách tăng bình quân 26,53%,năng suất lao động tăng trung bình 63,9%,thu
nhập bình quân tháng của lao động tăng 34,5% so với trước khi CPH,lao động tăng
do mở rộng sản xuất,cổ tức cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng.
Có thể nói đây là những con số rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp,khẳng định
CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các DNNN.Một điều có ý nghĩa quan trọng hơn nữa là,kết quả trên
sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh
doanh của mình một cách tích cực hơn.
gián tiếp).Do vậy trong nhiều doanh nghiệp đã CPH chưa thấy có những thay đổi
căn bản về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh theo mô hình mới của một
công ty cổ phần thực thụ.Các doanh nghiệp này vẫn chưa có hay rất thiếu những cổ
đông mới có quyền lực mạnh,các cổ đông chiến lược mới.Việc Nhà nước còn nắm
cổ phần chi phối trong nhiều doanh nghiệp đã CPH cũng cho thấy Nhà nước còn
đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và phạm vi hoạt động kinh doanh,chưa có sự tập
trung vốn cần thiết vào các lĩnh vực,các ngành hay các doanh nghiệp trọng điểm mà
ở đó cần có sự hiện diện của Nhà nước.
Mặc dù có chuyển biến trong năm 2005 là đã có những doanh nghiệp làm ăn có
hiệu quả ,có quy mô vốn lớn và một số tổng công ty đang CPH,nhưng nhìn chung
đại đa số các doanh nghiệp đã CPH đều có vốn Nhà nước quá nhỏ,điều này chứng
tỏ chúng ta mới chỉ CPH được các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ.Đó cũng là các
doanh nghiệp chủ yếu do các địa phương quản lý.Trên thực tế các doanh nghiệp này
không có vai trò đáng kể và không thể hiện được vai trò là những DNNN chủ đạo
trong nền kinh tế.Và như thế chúng ta mới thực hiện được phần dễ nhất trong toàn
bộ khối lượng công việc phải làm.
Số lượng các doanh nghiệp CPH có quy mô vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm tới
gần 60%,chỉ có 18,5% số doanh nghiệp CPH có quy mô vốn Nhà nước trên 10 tỷ
VNĐ.Điều đó dẫn đến tình trạng là về mặt số lượng DNNN đã CPH chiếm tới 53%
tổng số DNNN có tại thời điểm đầu năm 2001,nhưng về vốn mới chỉ chiếm hơn
10%.Như vậy là số vốn chưa được CPH còn rất lớn(khoảng 270.000 tỷ đồng).Số
vốn nay đang nằm trong các doanh nghiệp lớn.Việc tiến hành CPH các doanh
nghiệp này không hề đơn giản như đã làm trong thời gian qua vì vai trò,tầm quan
trọng và phạm vi kinh doanh,phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn
và phức tạp hơn nhiều.Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp này cần phải
có những giải pháp thích hợp
Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời gian qua : Chiến
lược,chính sách và cơ chế quản lý chưa phù hợp,rõ ràng,không có quy định ưu tiên
CPH đối với doanh nghiệp hay bộ phận kinh tế nào.Công tác chuẩn bị và hỗ trợ các
DNNN thực hiện CPH chưa làm tốt nên nhiều doanh nghiệp khi tiến hành CPH gặp
khủng hoảnh tài chính tiền tệ trong khu vực.Các DNNN đều thiếu vốn nghiêm
trọng,công nợ nhiều,kỹ thuật công nghệ,thiết bị lạc hậu,lao động dư thừa,sản phẩm
làm ra không có thị trường tiêu thụ,sức cạnh tranh kém.Sự hiểu biết về CPH,về
chứng khoán trong công chúng tuy có được cải thiện song vẫn còn nhiều hạn chế,do
nước ta chưa hình thành đầy đủ các loại thị trường và nền kinh tế nước ta đang
trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị
trường.Do đó người lao động,các nhà đầu tư ít hào hứng mua cổ phần tại các doanh
nghiệp CPH.
Việc lựa chọn các doanh nghiệp CPH ở các bộ ngành,các địa phưong chưa được
nhận thức đúng.Nhiều địa phương,bộ ngành chọn các doanh nghiệp kinh doanh khó
khăn,hiệu quả thấp,thậm chí không hiệu quả,tình hình tài chính chưa lành mạnh,lao
động dôi dư nhiều,nợ phải trả lớn,nợ phải thu khó đòi lớn hoặc không đủ hồ
sơ,thiếu tài sản vật tư,ứ đọng,kém,mất phẩm chất,lạc hậu về kỹ thuật để CPH dẫn
đến một số doanh nghiệp không hấp dẫn nhà đầu tư và bị vướng mắc ngay khi triển
khai thực hiện CPH.
Vấn đề quyền lợi của các cán bộ quản lý,thu nhập,việc làm của người lao động,đặc
biệt là vị trí của người quản lý trực tiếp tại DNNN là những vấn đề gay cấn đã làm
cho một số cán bộ chủ chốt chần chừ,ngại CPH,thậm chí không muốn CPH.
Đến ngay khung pháp lý vẫn chưa đầy đủ để tạo lập một môi trường kinh
doanh,cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế dẫn tới nhiều doanh nghiệp
còn do dự ,so sánh thiệt hơn khi chuyển từ DNNN sang hình thức công ty cổ phần.
III.một số giải pháp nâng cao hiệu quả của quá trình CPH doanh nghiệp nhà nước ở
việt nam
Mặc dù đã có nhiều đổi mới quan trọng,có nhiều bước tiến đáng kể trong nhiều lĩnh
vực nhưng hiện tại CPH DNNN còn gặp phải nhiều khó khăn.Thực tiễn đòi hỏi phải
đẩy mạnh CPH nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.Để hoàn thành chỉ tiêu CPH
cho các năm tiếp theo,tránh vấp phải một số vấn đề không đang có trong quá trình
CPH,để chương trình cải cách DNNN đạt kết quả tốt,em xin nêu một số giải pháp.
1.Nhận thức đúng đắn về CPH DNNN
Mục tiêu của đẩy mạnh tuyên truyền cổ động cho CPH là làm cho các cấp các
có quy mô lớn hơn.
3.2Tổ chức thực hiện kế hoạch CPH
3.2.1.Tăng cương công tác chỉ đạo
Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà Nước với vai trò chủ sở hữu ,với những biện
pháp quyết liệt hơn,khẩn trương hơn,có lộ trình cụ thể.Tiến hành mở nhanh những
vùng,lĩnh vực kinh doanh đang còn độc quyền hay mang tính độc quyền,tạo cơ hội
cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia .Cùng với
đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các DNNN lớn,chiếm
giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước,đang nắm nhiều lợi thế độc quyền nhưng
chậm đổi mới.Đối với các doanh nghiệp này,thực hiện CPH còn phải được xác định
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo,quản lý doanh
nghiệp.Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới và cải
cách,những chiến lược của chủ đầu tư- của Nhà nước.Chỉ có thực hiện thành công ở
các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự nghiệp CPH các DNNN.
Tổng điều tra đánh giá hiệu quả thực tế các doanh nghiệp sau CPH để rút ra những
kinh nghiệm về thành công và chưa thành công của các doanh nghiệp.Qua đó làm
cho mọi doanh nghiệp thấy được lợi ích rõ ràng,những bài học cụ thể từ CPH.Điều
nay sẽ có tác động làm thay đổi nhận thức ,tạo những hiểu biết tốt hơn,từ đó tạo
niềm tin và động lực từ bên trong của doanh nghiệp.Đồng thời có chiến lược hỗ trợ
một cách có hiệu quả về đào tạo nâng cao năng lực trước,trong và sau CPH.
Nhanh chóng thực hiện những biện pháp giải quyết dứt điểm những vướng mắc
hiện nay về vấn đề đất đai,tài sản và những vướng mắc về lao động và đảm bảo lợi
ích cho người lao động (không để CPH làm thiệt hại đến lợi ích của người lao động
trong doanh nghiệp).Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế ( không phải chỉ trên
giấy tờ văn bản) sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau,nhất là các DNNN đã CPH.Điều này rất quan trọng và
sẽ là một nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành CPH có hiệu quả.
Chính phủ cần tăng cường công tác chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra tiến độ
triển khai CPH của các bộ.địa phương và các tổng công ty để kịp thời tháo gỡ khó
khăn,vướng mắc cho các doanh nghiệp.Đông thời biểu dương những đơn vị làm
công ty cổ phần hay doanh nghiệp CPH làm ăn lành mạnh,có hiệu quả để tích cực
tham gia mua cổ phiếu góp vốn vào sản xuất kinh doanh cho yêu cầu ích nước lợi
nhà.
Cuối cùng để thúc đẩy tiến trình CPH DNNN,cần tạo sự bình đẳng giữa các khu
vực kinh tế,giữa đầu tư trong nước và nước ngoài,xóa bỏ bao cấp cho kinh tế quốc
doanh dưới mọi hình thức để không còn chỗ dựa tạo đặc quyền,đặc lợi như trước
đây.
3.2.3Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính như miễn thuế lợi tức,thuế
thu nhập trong thời gian đầu của doanh nghiệp CPH để kích thích các thành phần
kinh tế tham gia mua cổ phiếu.
Theo điều 13 NĐ 44/1998/NĐ-CP về chuyển DNNN thành CPH,khi CPH DNNN
được hưởng 6 ưu đãi chính:
- DNNN chuyển thành CPH là hình thức đầu tư mới,được hưởng ưu đãi theo NĐ
của luật khuyến khích đầu tư trong nước.Nếu không đủ điều kiện trên thì được giảm
50% thuế lợi tức trong 2 năm liên tiếp từ sau khi chuyển sang hoạt động theo luật
doanh nghiệp.
- Được miễn thuế tước bạ đối với việc chuyển nhượng tài sản thuộc quyền quản lý
và sử dụng của DNNN CPH thành sởhữu của công ty cổ phần.
- Được tiếp tục vay vốn tại Ngân hàng thương mại,công ty tài chính
- Được tiếp tục xuất nhập khẩu hàng hóa theo các chế độ quy định hiện hành đối với
DNNN trước khi CPH.
- Được duy trì và phát triển phúc lợi dưới dạng hiện vật
- Các khoản chi phí thực tế,hợp lý và cần thiết cho quá tình chuyển DNNN thành
công ty cổ phần được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước theo mức quy
định của Bộ Tài chính.
Thực tế tiến hành CPH DNNN cho thấy ưu tiên trên là hợp lý và phù hợp với thực
tiễn của công tác CPH và được sự đồng tình của các doanh nghiệp.
3.2.4Các giải pháp khác
3.2.4.1.Nhà nước cần có chính sách giúp đỡ để công nhân viên chức có khả năng
mua cổ phiếu ở các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa
khích người lao động tự nguyện thôi việc,khuyến khích thành lập các trung tâm đào
tạo và tuyển dụng lại lao động đã dư.Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ cho các
hoạt động này.
3.2.4.5.Thay đổi các tiêu chí về lương thưởng đối với người lãnh đạo,cán bộ quản lý
doanh nghiệp cũng như chính sách phân bổ quỹ lương,quỹ phúc lợi.
3.2.4.6.Mở rộng chủ trương huy động vốn trong toàn xã hội,bao gồm cả các nhà đầu
tư trong ngoài nước,những người có khả năng góp vốn và năng lực quản lý với
những doanh nghiệp mà Nhà nước không nên khống chế số lượng cổ phần của các
pháp nhân,cá nhân.
3.2.4.7.Việc định giá doanh nghiệp cần chi tiết và cụ thể hơn dựa trên nguyên tắc thị
trường
Thủ tục định giá cần gọn nhẹ và các tiêu chí rõ ràng,khách quan,tránh tình trạng áp
đặt theo ý kiến chủ quan của các chuyên gia định giá doanh nghiệp.Muốn vậy cần
phải có chính sách công khai tài chính doanh nghiệp,có hệ thống hạch toán kế toán
theo thông lệ quốc tế để đảm bảo tính minh bạch,rõ ràng trong các báo cáo tài chính
doanh nghiệp.
3.2.4.8.Có chính sách yêu cầu các doanh nghiệp CPH báo cáo két quả hoạt động
kinh doanh của mình để làm cơ sở đánh giá kết quả CPH và tạo lòng tin cho các
doanh nghiệp khác.
3.2.4.9.cuối cùng cần có chính sách và chương trình trong việc sử dụng tiền bán cổ
phần tránh để l•ng phí vốn "chết" tại kho bạc vì theo quy định hiện hành tiền bán cổ
phần của Nhà nước khi thực hiện CPH được nộp đầy đủ vào kho bạc Nhà nước nơi
doanh nghiệp đóng trụ sở chính.Công ty cổ phần không được sử dụng số tiền này
vào bất cứ việc gì,gây nên tình trạng vốn "chết" tại kho bạc.Quyết định số
177/1999/QĐ- TTg ngày 30/08/1999 đã hướng dẫn cụ thể về sử dụng cụ thể nguồn
thu này,nhờ vậy một số vấn đề như lao động dư thừa,đào tạo,đã bước đầu được giải
quyết.
Kết luận
Doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận quan trọng có vai trò nòng cốt trong hệ
thống kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.Tuy nhiên trong nền