Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Mỏ than Cọc Sáu là một trong những mỏ than lộ thiên lớn của ngành Than
Việt Nam. Sản lượng khai thác năm 2005 đạt hơn 100.000 tấn. Theo thiết kế được
duyệt thì độ sâu đáy mỏ khu Tả Ngạn mỏ Cọc Sáu là mức –150, khu Thắng lợi –
120 với trữ lượng công nghiệp còn lại trên 10 triệu tấn.
Hiện tại đáy móng khu Tả Ngạn mỏ Cọc Sáu đã khai thác xuống đến mức –
150, trữ lượng than còn lại khoảng 500 ngàn tấn và dự kiến sẽ kết thúc khai thác
khu Tả Ngạn mỏ Cọc Sáu vào mùa khô 2005-2006. Đồng thời khu moong Tả
Ngạn sẽ trở thành bãi thải trong của mỏ Đèo Nai và Cọc Sáu.
Theo các tài liệu địa chất mới lập: Báo cáo thăm dò khu Bắc phay B Tả Ngạn
Cọc sáu do Công ty Phát triển Tin học, Công nghệ và Môi trường thực hiện năm
2000, Báo cáo thăm dò bổ sung khu giáp biên Đèo Nai-Cọc Sáu do Công ty Địa
chất Mỏ lập năm 2003 đã được Tổng Công ty than Việt Nam phê duyệt thì khu
vực phía Bắc và dưới gầm moong Tả Ngạn Cọc Sáu trữ lượng than còn rất lớn trên
60 triệu tấn.
Để đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng chung của Tổng Công ty trong những
năm tiếp theo, việc Đầu tư mở rộng sản xuất Công ty than Cọc Sáu là công việc rất
cần thiết.. Để đánh giá tác động của việc mở rộng khai thác than của Công ty trong
thời gian tới đến chất lượng môi trường khu vực, từ đó chủ động có kế hoạch, biện
pháp phòng tránh, hạn chế các tác động xấu đến môi trường tôi tiến hành nghên
cứu đề tài: “Phân tích những tác động môi trường và đánh giá hiệu quả kinh
tế môi trường của dự án cải tạo mở rộng khai thác kinh doanh than - mỏ than
Cọc Sáu”.
Mục đích của đề tài là nhằm đánh giá, dự báo về các tác động tích cực và
tiêu cực, trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn của dự án tới môi trường. Trên
1
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cơ sở đó đề xuất những biện pháp giảm thiểu (biên pháp quản lý ) nhằm phát huy
- Tổng hợp dữ liệu khí tượng, thuỷ văn, địa chất, địa chất thuỷ văn, động thực
vật... trong khu vực khai thác mỏ và khu vực cần đánh giá.
- Công tác khảo sát thực địa bao gồm xác định những nguồn gây ô nhiễm chủ
yếu và thứ yếu do khai thác mỏ gây tác động đến môi trường.
- Thu thập các tài liệu quan trắc môi trường đã thực hiện tại khu vực.
- Quan trắc đo đạc bổ sung một số chỉ tiêu đặc trưng đối với chất lượng môi
trường đất, môi trường nước mặt, nước ngầm và môi trường không khí ...
- Điều tra xã hội học để phân tích những tác động tích cực và tiêu cực đến
cộng đồng dân cư khu vực xung quanh.
2. Phân tích, tổng hợp và dự báo thông tin.
Trên cơ sở dữ liệu đã tổng hợp, quan trắc bổ sung, hiệu chỉnh số liệu nhằm
chính xác hoá các thông tin về môi trường không khí, môi trường nước, môi
trường biển, các sự cố, rủi ro, môi trường văn hoá - kinh tế - xã hội để kết luận về
hiện trạng và dự báo các tác động có thể có của dự án đến môi trường tự nhiên, xã
hội trong khu vực.
3. Phương pháp so sánh.
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá mức độ tác động, mức độ ảnh
hưởng của dự án dựa theo TCVN 1995 và một số tiêu chuẩn ISO 14000.
4. Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng
Dùng để đánh giá hiệu quả sản xuất khi tính tới các lợi ích và chi phí về môi
trường.
5. Phương pháp kế thừa.
Ngoài các số liệu về hiện trạng, có thể sử dụng các số liệu thống kê về môi
trường khu vực để giải thích, lập luận, đánh giá các tác động môi trường.
3
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC THAN
Các nguồn ô nhiễm của dự án đầu tư mở rộng khai thác than
STT Các hoạt động của dự án
Các yếu tố gây ô nhiễm, suy thoái
môi trường
1
Giai đoạn 1: Giai đoạn xây
dựng cơ bản
- Chuẩn bị MB và xây dựng
các công trình trên mặt bằng.
- Xây dựng tuyến băng tải
than.
- Lắp ráp thiết bị, máy móc,
đường dây tải điện, hệ thống
cấp nước và các thiết bị phụ
trợ trên MB.
- Trôi lấp chất thải rắn trong quá
trình san gạt và xây dựng nhà trạm
( Đất đá do san gạt mặt bằng, phế
thải vật liệu xây dựng, đất đá …)
- Ô nhiễm bụi, khí thải do quá trình
san gạt và vận chuyển nguyên vật
liệu xây dựng (CO, SO
x
, NO
x
,
Gydrocacbon).
- Ô nhiễm tiếng ồn, rung bởi máy thi
công
- Nước thải sinh hoạt của công nhân
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
Giai đọan 3: Giai đoạn đóng
cửa mỏ
- San gạt phục hồi
- Tháo rỡ công trình mặt bằng
- Bốc xúc vận chuyển, đổ thải.
- Bụi, khí độc do nổ mìn phá rỡ, bốc
xúc, vận chuyển đổ thải…
- Tiếng ồn, rung do máy móc thi
công, vận tải.
- Nước thải …
III. KHẢ NĂNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC HOẠT
ĐỘNG KHAI THÁC THAN NÓI CHUNG
6
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
6
Chuyờn thc tp tt nghip
S TC NG TI MễI TRNG CA CC D N KHAI THC
THAN
Bụi, tiếng ồn, khí thải NO
x
, SO
x
Đất đá, CTR
Khai thác hầm lò
Đá thải
MỎ THAN CỌC SÁU VÀ DỰ ÁN “CẢI TẠO VÀ MỞ RỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH THAN – MỎ THAN CỌC SÁU”
I. LỊCH SỬ THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC:
1. Lịch sử thăm dò.
Mỏ than Cọc Sáu được phát hiện và khai thác từ cuối thế kỷ XIX, thuộc công
ty than Bắc Kỳ do người Pháp quản lý công tác thăm dò tại mỏ than Cọc Sáu đã
tiến hành với khối lượng khá lớn qua nhiều giai đoạn
2. Lịch sử thiết kế khai thác.
8
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
Chú giải
- Dây chuyền sản xuất
- Gây ra các nhân tố ô nhiễm
- Tác động tới môi trường
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm 1976 Viện thiết kế Ghiprosac Liên Xô lập thiết kế cải tạo mở rộng mỏ.
Đến năm 1997, Viện Ghiprosac Liên Xô tiến hành thiết kế tổng thể mỏ Cọc Sáu
theo tài liệu địa chất năm 1973. Về sau mỏ nhiều lần thiết kế cải tạo mở rộng khai
thác sang khu Đông Thắng Lợi.
II. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC:
Theo thiết kế cải tạo mở rộng mỏ do Viện thiết kế Ghiprosac Liên Xô lập năm
1976 và đã được phê duyệt, mỏ gồm 2 công trường là công trường Tả Ngạn và
Công trường Thắng Lợi, khai thác vỉa dày và vỉa G(I). Độ sâu thiết kế khai thác
của công trường Tả Ngạn là mức -150m và của công trường Thắng Lợi là mức –
77m. Hiện tại mỏ đã khai thác khu Đông tụ Bắc Tả Ngạn với đáy moong ở mức
-150 m. Khai trường được chia làm 3 khu vực Tả Ngạn, Thắng Lợi và khu Đông
Nam (khu xưởng bảo dưỡng ô tô hiện nay). Khu Tả Ngạn bao gồm 2 đông tụ Bắc
và Nam có dải sơn tụ làm ranh giới. Đông tụ Nam đã kết thúc khai thác và hiện
đang là nơi chứa bùn nước. Đông tụ Bắc đã khai thác đến mức -150m.
- Vận chuyển đất đá: Bằng ô tô tự đổ trọng tải 30-42 tấn.
- Vận chuyển than: Bằng ô tô tự đổ trọng tải 12-30 tấn kết hợp với vận tải
bằng băng tải.
4. Sàng tuyển:
Mỏ có 2 cụm sàng chính là cụm sàng Gốc Thông (mức +15,6) và cụm sàng II
(mức +25,5). Ngoài ra còn một số công trường làm than thủ công có tính chất tận
thu như công trường than 2 (mức +84,5), công trường than 3 (mức +26,8). Than
sàng tuyển chủ yếu ở cụm sàng Gốc Thông và cụm sàng II. Cụm sàng Gốc Thông
chỉ sàng than nguyên khai loại 1 (NK1) là chủ yếu:
Than nguyên khai loại 1 qua cụm sàng Gốc Thông để sàng bớt đất đá và bán
cho Tuyển than Cửa Ông để sàng tuyển.
Than nguyên khai loại 2 bao gồm than chất lượng xấu từ bãi chứa 19/5, than
tận thu vách, trụ, than bùn bơm moong và bã sàng lần 1 của sàng Gốc Thông được
cấp vào cụm sàng 2 để sàng phân loại tận thu than cám 5, cám 6, tách cấp 15-
35mm để nghiền thành cám 6.
0-50mm
Sàng Gốc Thông
Than NK1
Sàng song tĩnh a=100
Nhặt tận thu than
10
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sàng phân loại φ50
+50mm
Đi sàng 2 để sàng lại
Đi máng ga B bán TT Cửa Ông
Than cám 5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sang khu vực mà xe gạt đã tạo xong đê bao an toàn và tiếp tục đổ thải ở khu vực
này mà ôtô không thể đổ thải được nữa. Quá trình trên cứ lặp đi lặp lại cho đến khi
kết thúc quá trình đổ thải.
Hiện mỏ đang tiến hành đổ thải tại 2 bãi thải chính là Đông Cao Sơn và Đông
Bắc Cọc Sáu.
5. Thoát nước:
a. Thoát nước cưỡng bức:
- Trạm bơm cống +30: Trạm có nhiệm vụ bơm toàn bộ lượng nước từ phía
Đèo Nai chảy về hố tụ nước +30. Từ hố tụ nước +30 bơm lên mức +70, theo
mương thoát nước chảy về lò thoát nước +28. Hố chứa nước +30 có dung tích V
= 12.000m
3
. Trạm đặt 1 máy bơm Đ -1250 và 1 bơm Z300, bơm Đ -1250 có lưu
lượng Q = 1250m
3
/h áp lực đẩy H = 125m, công suất động cơ P = 630KW, điện áp
6000V, bơm Z300 có lưu lượng Q = 1000m
3
/h, áp lực đẩy H= 100m, công suất
động cơ điện 400KW, điện áp 6000V. Mỗi bơm làm việc với 1 tuyến đường ống
đẩy Dy = 300mm, trạm đặt cố định.
- Trạm bơm Động tụ Bắc: Trạm có nhiệm vụ bơm toàn bộ lượng nước ở Đông
tụ Bắc mức -150 sang Động tụ Nam mức -34. Trạm có 3 máy bơm(3 bơm ∆-1250,
mỗi bơm có lưu lượng Q = 1250m
3
/h, áp lực đẩy H = 125m, công suất động cơ P =
630KW. Đường ống đẩy gồm 3 tuyến đường ống Dy = 300mm. Trạm đặt cố định.
- Trạm bơm Động tụ Nam: Trạm có nhiệm vụ bơm toàn bộ lượng nước ở
Động tụ Nam mức - 34 lên lò thoát nước ở mức +28 để chảy ra biển. Trạm đặt 4
Fax: 033 863936
Cơ quan lập dự án: CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ MỎ VÀ CÔNG
NGHIỆP
Địa chỉ: 565 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.
Điện thoại: 04.8544252; 04.8544153
Fax: (84-4) 8543164.
13
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
B. NỘI DUNG DỰ ÁN
1. Công suất thiết kế:
Công suất mỏ được xác định phù hợp với “Tổng sơ đồ phát triển ngành than
giai đoạn 2001 – 2010 có xét triển vọng đến 2020” của Tổng Công ty đã lập và đã
được Chính phủ phê duyệt, đồng thời đảm bảo doanh thu, việc làm ổn định cho
công nhân Công ty than Cọc Sáu. Công suất khai thác mỏ được xác định tối đa
trên cơ sở điều kiện địa chất mỏ và tốc độ xuống sâu tối đa 15m/năm là 170.000
tấn than nguyên khai/năm tương ứng với khối lượng đất đá bóc tối đa là 0,2-1 triệu
m
3
/năm.
2. Tuổi thọ của mỏ:
Tuổi thọ của mỏ được xác định trên cơ sở trữ lượng than khai thác và công
suất thiết kế mỏ. Tuổi thọ của mỏ được xác định là 11 năm (2006 – 2017).
3. Trình tự khai thác:
Để nâng cao hiệu quả sản xuất của Công ty than Cọc Sáu, Đèo Nai, cần tập
trung khai thác tối đa khu Động Tụ Bắc Tả Ngạn để sớm kết thúc khai thác khu
vực này tạo điều kiện đổ bãi thải trong, rút ngắn cung độ vận tải đất đá thải của
Công ty than Cọc Sáu, Đèo Nai trên 1,5km so với đổ thải ở các bãi thải khác
(Đông Cao Sơn, Nam Đèo Nai…). Đồng thời song song tiến hành khai thác và bóc
tiêu thụ qua cảng Đá Bàn của mỏ.
Trong thời gian tới mỏ khai thác ngày càng xuống sâu, đáy moong khai thác
ngày càng chật hẹp và để giảm chi phí vận tải than nhằm năng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của mỏ, thực hiện phương án vận tải than sau:
Than nguyên khai từ các gương tầng khai thác được ôtô chở về bunke băng
tải +30 ở phía Đông khai trường khu Tả Ngạn, tiếp đó được băng tải chuyển về bãi
than sàng Gốc Thông. Từ bãi than sàng Gốc Thông, than đạt tiêu chuẩn cấp cho
tuyển 2 Cửa Ông được vận chuyển bằng ôtô tự đổ về máng ga B trung chuyển qua
phương tiện vận tải đường sắt về Cửa Ông. Để thực hiện phương án này cần xây
15
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dựng bổ sung 1,56 km tuyến băng tải và một số công trình phụ trợ khác để phục
vụ cho việc vận tải than.
d. Vận tải đất đá:
Khối lượng đất đá bóc hàng năm của mỏ từ 18 ÷ 28 triệu m
3
với cung độ vận
tải thay đổi từ 0,5 ÷ 6 km, trung bình 2,3 km. Hiện tại đất đá thải được vận chuyển
ra bãi thải bằng ôtô tự đổ tải trọng 30 ÷ 36 tấn
7. Đổ thải:
a. Vị trí bãi thải và lịch đổ thải:
Mỏ Cọc Sáu nằm trong cụm mỏ lộ thiên Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn và Đông
Cao Sơn (mới tách ra cụm Cao Sơn để đấu thầu khai thác). Khối lượng đất đá bóc
còn lại của cụm mỏ trên rất lớn: khoảng hơn 10 triệu m
3
. Hiện nay việc đổ thải của
cụm mỏ trên gặp nhiều khó khăn phức tạp do thiếu diện đổ thải, nhiều mỏ đổ
chung một bãi thải (Nam Đèo Nai, Đông Cao Sơn,…). Để tránh chồng chéo làm
9. Thoát nước mỏ:
a. Sơ đồ thoát nước tự nhiên:
Hệ thống mương rãnh thoát nước
- Tận dụng tối đa hệ thống thoát nước tự chảy hiện có của mỏ.
- Hệ thống thoát nước tự nhiên của mỏ Cọc Sáu năm 1990 thay đổi do việc
phát triển khai trường mỏ Cọc Sáu, bãi thải Đông Cao Sơn. Vì vậy, hướng thoát
nước về phía Bắc vào suối Mông Dương bị chặn lại, hiện nay và đến khi kết thúc
khai thác toàn bộ hướng thoát nước của mỏ đổ về phía Nam qua các công trình
thoát nước hiện có thoát ra biển.
- Để đảm bảo an toàn cho công tác sản xuất, việc cải tạo và xây dựng mới hệ
thống thoát nước cần được tiến hành trên cơ sở tận dụng các công trình thoát nước
hiện có, việc bảo dưỡng và tu sửa các công trình thoát nước cần được tiến hành
thường xuyên vào trước các mùa mưa lũ.
b. Sơ đồ thoát nước cưỡng bức - thiết bị thoát nước:
17
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Căn cứ vào hiện trạng các trạm bơm và lịch khai thác các khu vực khi đáy
khai trường xuống sâu các mức -15, - 150, -210, 240 và -255 cần thiết phải bố trí
các trạm bơm thoát nước
C. CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CẦN ĐẶT RA.
Mỏ than Cọc Sáu là mỏ lộ thiên lớn nhất đã được khai thác từ thời Pháp thuộc
và liên tục được mở rộng phát triển cùng với sự phát triển của toàn ngành than.
Năm 1999, mỏ đã lập Báo cáo ĐTM để đánh giá hiện trạng môi trường và các tác
động của hoạt động khai thác than tới môi trường khu vực, từ đó đề ra các biện
pháp xử lý ô nhiễm, giảm thiểu các tác động tiêu cực. Cho tới nay, công tác bảo vệ
môi trường đã được mỏ Cọc Sáu thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, khi thực hiện dự án
“Duy trì và mở rộng khai thác kinh doanh than - mỏ than Cọc Sáu”, các vấn đề
môi trường cần đặt ra trong những năm tới như sau:
Đèo Nai sang với độ cao trên 150m. Phía Bắc và phía Nam địa hình thấp hơn, độ
cao địa hình ở dãy cao từ 70 đến 100m. Đặc điểm chung của địa hình khu vực hiện
nay là địa hình có dạng lòng chảo, thấp dần từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam
và bị phân cắt bởi các công trường khai thác, các bãi thải và các tuyến đường mỏ
hình thành.
Hiện nay, do quá trình khai thác lộ thiên, làm cho địa hình nguyên thuỷ bị
biến đổi hoàn toàn. Địa hình mỏ hiện nay được thay thế bằng các moong, các tầng
đất đá và các bãi thải …đáy mỏ đang khai thác xuống sâu tới độ sâu – 150 m tại
công trường Tả Ngạn (theo tài liệu cập nhật của mỏ đến 01/01/2004).
B. ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, THUỶ VĂN VÀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH
KHU VỰC.
1. Điều kiện khí hậu.
Khu mỏ Cọc Sáu nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ
rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
19
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mưa thường lớn nhất vào tháng 7, 8 hàng năm. Sau đây là các thông số đáng lưu ý
về lượng mưa:
- Vũ lượng lớn nhất trong ngày là 324mm(ngày 11/7/1960)
- Vũ lượng lớn nhất trong tháng là 1089,3mm(tháng 8/1968).
- Vũ lượng lớn nhất trong mùa mưa là 2850,8mm(1960).
- Số ngày mưa nhiều nhất trong mùa mưa là 103mm(năm 1960).
- Vũ lượng lớn nhất trong một năm là 3076mm(năm 1966).
- Số ngày mưa nhiều nhất trong 1 năm là 151 ngày.
Vào mùa khô nhiệt độ thay đổi từ 9 - 18
0
C, trung bình là 15
0
qua lò thoát nước mức +28 số 2 rồi đổ vào suối Hoá Chất thoát ra biển.
- Mương +90 phía Tây đón nước từ mức +90 trở lên ở phía Tây và một phần
nước từ Đèo Nai chảy sang rồi qua cống P
3
(2φ1500) và thoát về phía Nam qua
mương ra biển.
- Mương +30 phía Tây đón nước ở phía Tây từ mức +30 trở lên và nước của
mỏ Đèo Nai chảy sang rồi chảy qua lò thoát nước mức +28 số 1 và tiêu thoát qua
mương ra biển.
Khi mưa, toàn bộ nước của bờ Bắc khai trường và nước từ mức +30 trở
xuống đều tập trung chảy xuống đáy moong và được bơm lên qua lò +28 theo suối
Hoá Chất ra biển.
Trong quá trình khai thác các đoạn mương nằm trên tầng công tác luôn được
dịch chuyển theo sự phát triển của khai trường và được cố định khi các tầng đó đi
vào bờ kết thúc.
b. Nước ngầm:
Nước ngầm của mỏ Cọc Sáu được tàng trữ và vận động trong tầng tiềm thuỷ
phân bố trên trụ vỉa Dày(2) và tầng chứa nước áp lực nằm phía dưới trụ vỉa dày(2).
Hai tầng chứa nước này được ngăn cách bởi lớp đá sét kết và bột kết dày.
Trong những năm qua, do quá trình đào sâu của mỏ đã làm thay đổi động thái
của các tầng chứa nước, cao trình các tầng chứa nước bị hạ thấp từ 30 đến 50m so
với ban đầu.
3. Đặc điểm địa chất công trình.
21
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mỏ Cọc Sáu có cấu trúc, kiến tạo địa chất phức tạp, khu mỏ bị phân cắt thành
các khối kiến tạo có tính chất và đặc điểm cấu trúc khác nhau.
Có mặt trong địa tầng chứa than với các loại nham thạch chủ yếu sau: Cuội
nhân trần, dạ cầm, chân chim, sim, mua, dương xỉ… và một số loại cỏ như cỏ
tranh, cỏ lau…
Bao quanh bờ moong khai thác, các bờ vách mỏ chỉ là đất đá đã bị phong hoá
nứt vỡ mà không có màu xanh của thực vật. Đôi chỗ có các loài cỏ lau, cỏ tranh
phát triển nhưng rất ít.
23
SV. Bùi Văn Đức Lớp: Kinh tế môi trường - K44
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện trạng thảm thực vật như vậy không đủ điều kiện sống cho các loài động
vật, kể cả tập đoàn các loài chim. Trên thực tế ở khu vực khảo sát không còn thấy
các loài động vật hoang dã trước đây nữa.
D. HIỆN TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG, KINH TẾ XÃ HỘI.
1. Khái quát chung.
Mỏ than Cọc Sáu là một mỏ lộ thiên lớn, do vậy từ lâu đã được đầu tư và phát
triển một cơ sở hạ tầng khá hoàn thiện. Trong khu vực có hệ thống nhà trẻ, nhà
mẫu giáo, trạm xá, trường học, các khu vực tập luyện thể thao vui chơi giải trí…
Mạng lưới giao thông trong vùng cũng khá hoàn chỉnh. Từ mỏ có đường ô tô
nối với quốc lộ 18A, có đường sắt vận chuyển than tới nhà máy tuyển than Cửa
Ông. Nội bộ mỏ có hệ thống đường dày đặc phục vụ cho vận chuyển than, đất đá
thải và các nguyên vật liệu cần thiết.
2. Cấp điện
Nguồn cung cấp điện là điện áp 35kV từ 2 đường dây trên không 35kV:
- Lộ 373 từ Hòn Gai đến trạm biến áp 35/6 kV Cọc Sáu
- Lộ 374 từ Mông Dương đến trạm biến áp 35/6 kV Cọc Sáu
Từ trạm biến áp 35/6 kV Cọc Sáu có 12 khởi hành cho 12 đường dây tải điện
6kV, cung cấp điện chủ yếu cho khu vực khai trường, khu sân công nghiệp, trạm
bơm thoát nước khai trường, khu máng ga, sàng, bốc rót than và các thiết bị phụ
tải điện sử dụng điện áp 6kV như máy xúc, máy khoan.
3. Cấp nước