A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời kì đầu của xã hội loài người do sự lạc hậu của lực lượng
sản xuất,nên sản xuất xã hội mang tính tự cung tự cấp khiến nhu cầu của
con người bị bó hẹp trong một giới hạn nhất định. Khi lực lượng sản xuất
phát triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh
tế tự nhiên và chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Nền kinh tế
hàng hoá phát triển càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế
thị trường. Kinh tế thị trường có những ưu việt của nó , đó là sự thoả
mãn tối đa nhu cầu của con người vói một khối lượng hàng hoá khổng lồ.
Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế , nhất là trong chế độ xã hội
TBCN , một chế độ xã hội ở đó chỉ có lợi nhuận được chú trọng hàng đầu
dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc và quyền bình đẳng trong xã hội bị
xem nhẹ.
Nhận biết trước tình hình đó, trong quá trình nghiên cứu về hình
thái kinh tế xã hội Mac và Anghen đã đưa ra dự đoán: CNTB sớm muộn
cũng bị thay thế bởi một chế độ xã hội cao hơn , chế độ xã hội trong đó
con người hoàn toàn tự do, văn minh và bình đẳng, có nền kinh tế phát
triển bền vững, xã hôị công bằng. Đó là chủ nghĩa cộng xản mà giai đoạn
thấp của nó là CNXH - thời kì chuyên chính của giai cấp vô sản.
Nước ta sau khi giành được độc lập ở miền bắc , Đảng đã xác
định đưa đất nước lên tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
Khi miền bắc hoàn toàn được giảI phóng thì cả nước bước vào thời kì quá
độ lên CNXH. Đại hội Đảng VI (1986) là một bước ngoặt lịch sử của
nền kinh tế vói đường lối mới của Đảng để phát triển đất nước. Theo đó
ta xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Tư
tưởng ấy càng được nhấn mạnh trong các kì đại hội tiếp theo của Đảng.
Cho tới nay, sau hơn mười năm đổi mới ta đã gặt hái được nhiều
thành tựu đáng kể. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có khá nhiều những mặt
cần điêù chỉnh.
Một số suy nghĩ và giải pháp qua nghiên cứu kinh tế hàng hoá,
lao động tăng lên và làm cho trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu. Nó là cơ
sở của sản xuất hàng hoá.
Hai là: Có chế độ tư hữu hoặc các hình thức sở hữu khác nhau về
tư liệu sản xuất và sản phẩm. đIều này làm cho người sản xuất hàng hoá
độc lập với nhau và mỗi người có quyền chi phối sản phẩm của mình, có
quyền đem sản phẩm của mình trao đổi với người khác.
Như vậy : Phân công lao động xã hội làm người sản xuất phụ
thuộc vào nhau còn chế độ tư hữu lại chia rẽ họ làm họ độc lập với nhau
đây là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua trao
đổi, mua bán sản phẩm của nhau. Sản xuất hàng hoá ra đời bắt nguồn từ
yêu cầu của cuộc sống.
* Sơ lược về lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá ra đời từ sản xuất tự cấp tự túc và thay thế nó
trong quá trình lịch sử lâu dài.
Ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá là sản xuất
giản đơn chỉ giữ vai trò phụ thuộc. Tuy nhiên chính sản xuất hàng hoá
giản đơn đã tạo khả năng phát triển lực lượng sản xuất thiết lập các mối
liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó vốn tách biệt nhau.
Quan hệ hàng hoá phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ phong
kiến tan rã và góp phần thúc đẩy quá trình đó diễn ra mạnh mẽ hơn.
Hình thức điển hình nhất, cao nhất, phổ biến nhất của sản xuất
hàng hoá là sản xuất hàng hoá TBCN. Dưới CNTB quan hệ hàng hoá
thâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi chức năng của nền sản xuất xã hội,
hàng hoá trở thành tế bào của nền sản xuất xã hội . Nó mang đặc điểm:
Dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động trên cơ sở bóc lột
lao động làm thuê dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư.
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển dưới CNXH. Đặc
điểm của sản xuất hàng hoá XHCN là nó không dựa trên cơ sở chế độ
người bóc lột người và nó nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh
thần của mọi thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh .
Trong nền kinh tế đã và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, sở hữu tư nhân
TBCN, sở hữu hỗn hợp, đồng sở hữu,…Chế độ xã hội hoá sản xuất giữa
các ngành, các xí nghiệp trong cùng một hình thức sở hữu vẫn chưa đều
nhau. Sở dĩ như vậy là do cơ cấu kinh tế của ta giờ là cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần, sự tồn tại của các thành phần kinh tế là một tất yếu khách
quan .
Sản xuất hàng hoá là để trao đổi đáp ứng nhu cầu của xã hội nên
người sản xuất có điều kiện để chuyên môn hoá cao. Trình độ tay nghề
được nâng lên do tích luỹ kinh nghiệm, tiếp thu được tri thức mới. Công
cụ chuyên dùng được cải tiến, kỹ thuật mới được áp dụng do đó cạnh
cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến cho năng suất lao động được nâng
lên, chất lượng sản phẩm ngày càng được cải thiện và tốt hơn. Hiệu quả
kinh tế được trú trọng làm mục tiêu đánh giá sự hoạt động của các thành
phần kinh tế. Việc trao đổi hàng hoá dựa trên nguyên tắc ngang giá khiến
cho người sản xuất luôn tìm cách tiết kiệm giảm đến mức tối đa những
chi phí cá biệt, giảm giá trị hàng hoá cá biệt để có lợi nhuận khi trao đổi.
Trên cơ sở phân công lao động, sản xuất hàng hoá phát triển. Khi sản
xuất hàng hoá phát triển sẽ làm phân công lao động ngày càng cao hơn,
sâu hơn. Quan hệ hàng hoá, tiền tệ, quan hệ thị trường ngày càng được
chủ thể sản xuất hàng hoá vận dụng có hiệu quả hơn và từ đó ngoài các
quan hệ kinh tế phát triển mà các quan hệ pháp lý xẫ hội, tập quán, tác
phong cũng thay đổi.
Chính từ tính ưu việt rất riêng, rất có lợi ( tuy bên cạnh đó vẫn
còn có những khuyết tật ) của sản xất hàng hoá mà tại đại hội VII Đảng ta
đã xác định phương hướng : Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng XHCN vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước.
b. Đặc điểm của kinh tế hàng hoá trong thời kì quá độ lên
chuyển dịch kinh tế mà Đại hội Đảng VIII đã đề ra. Nó đảm bảo cho mọi
người, mọi doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đều được tự do kinh
doanh theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền
thu nhập hợp pháp. Nó còn làm cho các chủ thể kinh tế được hoạt động
theo cơ chế tự chủ, hợp tác cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật.
Thứ ba:_Nền kinh tế hàng hoá theo cơ cấu kinh tế “mở”giữa
nước ta với các nước trên thế giới.
Trước kia với cơ cấu kinh tế “khép kín”, với tình trạng “bế quan
toả cảng”, luẩn quẩn sau luỹ tre làng nên kinh tế nước ta lâm vào bế tắc,
kém phát triển có thể nói là lạc hậu nhất thế giới. Vì vậy sự ra đời của nền
kinh tế hàng hoá TBCN đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động trong sự
gắn bó với thị trường thế giới. Do sự phân bố phát triển không đều về tài
nguyên thiên nhiên, sức lao động và thế mạnh giữa các nước từ quy luật
phân công và hợp tác lao động quốc tế, đời sống mang tính quốc tế hoá
…dẫn đến nhu cầu khách quan là mở cửa nền kinh tế hàng hoá để đạt
được hiệu quả cao và phát triển với tốc độ nhanh nền kinh tế.
Thứ tư: Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN với
vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước và sự quản lý kinh tế vĩ mô của nhà
nước.
Trong các thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo do bản chất vốn có và lại nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt và
trọng yếu, nên đảm bảo cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo
định hướng XHCN. Tuy nhiên vai trò của nó chỉ được khẳng định khi nó
phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế khác, nó
sớm chuyển đổi cơ chế quản lý theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu
quả để đứng vững và chiến thắng trong môi trường hợp tác và cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế.
Nền kinh tế hàng hoá bên cạnh mặt tích cực là làm thay đổi bộ
mặt của đất nước không tránh khỏi những khuyết tật nhất định về mặt xã
hội như: phá sản, khủng hoảng , áp bức bất công, tàn phá môi trường,
của kinh tế nhà nước và vai trò quản lý của nhà nước ở nước ta. Nhà nước
là của dân và vì dân quyết định.
c. Phương hướng phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta:
Trong giai đoạn hiện nay khi mà chiến lược ổn định về kinh tế,
chính trị, xã hội đã được xác định rõ, kết cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng
xã hội được xây dựng ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng, hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước được củng cố và trong sạch
hoá, số lượng các nhà quản lý, nhà kinh doanh giỏi thích nghi với cơ chế
thị trường ngày càng đông đảo, tay nghề khá cao. Đảng đã xác định
hướng đi của nền kinh tế cho phù hợp với các điều kiện tiền đề hiện có:
Trước hết phải thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng XHCN với các hình thức sở hữu đa
dạng: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp …
Thứ đến: cần sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước theo hướng
nắm khâu mặt hàng trọng yếu chuyển dần sang hạch toán kinh doanh, tự
chủ về mọi mặt đủ sức đứng vững và giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Ba là: sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế của kinh tế tư bản
nhà nước để phát huy sức mạnh hỗn hợp của tư bản trong và ngoài nước
với nhà nước về các mặt vốn, công nghệ và tài năng quản lý.
Bốn là: đẩy mạnh phân công lao động và hợp tác lao động theo
hướng chuyên môn hoá kết hợp đa dạng hoá sản xuất kinh doanh, tăng
cường và phát triển ngành sản xuất phi vật chất, coi trọng lao động trí tuệ.
Năm là: đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá coi
trọng việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ của loài người.
Dẫn đến đẩy mạnh kinh tế hàng hoá phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu và làm tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của nước ta trên thị trường
khu vực và quốc tế.
Sáu là: xây dựng và phát triển thị trường hướng ngoại nhưng
phải lấy thị trường trong nước làm cơ sở, phải có mặt hàng mũi nhọn có
khả năng cạnh tranh dựa trên cơ sở thế mạnh và lợi thế so sánh. Bởi vì
định .
-Vai trò: Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu
thông hàng hoá, nơi ra đời và phát triển cùng qúa trình ra đời và phát triển
của sản xuất và lưu thông hàng hoá, sản xuất hàng hoá phát triển, lượng
sản hẩm lưu thông trên thị trưtờng ngày càng dồi dào phong phú-thị
trường mở rộng- khái niệm thị trườngđược mở rộng hơn. Đó là lĩnh vực
trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới. ở đây người mua và
người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá
lưu thông trên thị trường.
Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất
hàng hóa. Những vấn đề cơ bản của nền sản xuất hàng hoá là
sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?và cho ai? đều phải thông
qua thị trường. Vì vậy, thị trường đóng vai trò hoạt động và
phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
- Thị trường các yếu tố sản xuất hay thị trường đầu vào là nơi
mua bán các yếu tố sản xuất. Thông qua thị trường này mà nhà
kinh doanh mua được các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất,
sức lao động, có vốn để sản xuất kinh doanh. Ngược lại, người
có tư liệu sản xuất, sức lao động vốn, thực hiện được việc mua
bán, có thu nhập để tái sản xuất ra các yếu tố đó. Thông qua việc
trao đổi mua bán trên thị trường các chủ thể kinh tế có được thu
nhập,lượng thu nhập này có thể nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào tính