Mở đầu
Với tình hình đất nước ta hiện nay, một đất nước đang trên đà phát triển, đang đứng
trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế Quốc tế. Mà nền công nghiệp nặng, khoa học kỹ
thuật của ta còn hạn chế, không thể cạnh tranh với các nước khác. Tuy nhiên tiềm
năng của nước ta nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bao gồm: Nông nghiệp, dệt
may thuỷ sản là những mặt hàng ít nhiều cũng đã tạo một chỗ đứng trên thị trường
thế giới.
Để có được kết quả trên và quan trọng hơn hết là để nó luôn được tồn tại ở người tiêu
dùng trong nước cũng như nước ngoài thi đòi hỏi người quản lý phải càng nổ lực, càng
phấn đấu nhiều hơn nữa, để làm sao sản phẩm của mình có thể cạnh tranh một cách
lành mạnh về mẫu mã, chất lượng và đặc biệt là về giá cả. Chính vì thế công tổ chức tổ
chức hạch toán chi phí luôn là vấn đề đặt ra: là làm thế nào để có được 1 giá thành phù
hợp đến với người tiêu dùng, mà chất lượng sản phẩm luôn đặt ra yêu cầu hàng đầu.
Cũng vì lý do đó, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thuỷ Sản Đà Nẵng em
đã mạnh dạn chọn đề tài "Hạch toán tiêu thụ và tính giá thành sản phẩm trong sản xuất
kinh doanh".
Với nội dung được gói gọn trong 3 phần như sau:
Phần I. Đặc điểm, cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Thuỷ Sản Đà Nẵng.
Phần II. Tổ chức công tác kế toán và tình hình hạch toán chi phí tính giá thành sản
xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Thuỷ Sản Đà Nẵng.
Phần III. Nhận xét và một số ý kiến đề xuất về tình hình hạch toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Thuỷ Sản Đà Nẵng.
Do thời gian thực tập có hạn cũng như kiến thức còn là lý thuyết nên việc chọn vấn đề,
nhìn nhận và đánh giá sự việc không tránh khỏi thiếu xót. Mong quý cơ quan, các cô
chú anh chị trong phòng Kế toán Tài vụ ở Công ty Cổ phần Thuỷ Sản Đà Nẵng, quý
thầy cô và các bạn thông cảm cho em.
Em mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các anh, chị, cô, chú trong phòng, thầy
cô và các bạn để em có thể hiểu nhiều hơn nữa, nhằm phục vụ cho công việc của em
sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Phần I: ĐẶC ĐIỂM, CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THUỶ SẢN
Sau một thời gian duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy trình sẵn có, đồng
thời tích cực chuẩn bị tổ chức lại kinh doanh theo quy trình mới. Đến đầu năm 1998
công ty Cổ phần khai thác và dịch vụ thuỷ sản Đà Nẵng đã chính thức đi vào hoạt
động.
Đánh giá khái quát về kết quả kinh doanh của công ty:
Trong 3 năm đi vào hoạt động (1998 - 2000), công ty Cổ phần khai thác và dịch vụ
thuỷ sản Đà Nẵng đã đạt được những kết quả như sau:
Tổng doanh thu : 80.014.000 đồng
Kim ngạch xuất khẩu : 80.014.000 đồng
Lợi nhuận : 938.000.000 đồng
Các khoản phải nộp cho ngân sách : 495.000.000 đồng
Thu nhập bình quân người lao động : 83.330 đồng
Đóng góp cho xã hội : 1.361.920.000 đồng
Cổ tức được chia cho cổ đông : 18,55% trên 3 năm
Cuối năm 2000, đàu năm 2001 Công ty Cổ phần khai thác và dịch vụ thuỷ sản Đà
Nẵng đã đổi tên thành Công ty Cổ phần Thuỷ sản Đà Nẵng.
Hiện nay, Công ty Cổ phần Thuỷ sản Đà Nẵng có 2 xí nghiệp sản xuất trực thuộc:
- Xí nghiệp sản xuất số 1: Xí nghiệp Thuỷ sản Hoà Cường tại 71 Trương Chí Cương,
Quận Hải Châu - thành phố Đà Nẵng.
- Xí nghiệp sản xuất số 2: Xí nghiệp Thuỷ sản Nại Hưng tại phường Nại Hiên Đông,
Quận Sơn Trà - thành phố Đà Nẵng.
- Văn phòng chính của công ty đặt tại 71 Trương Chí Cương, quận Hải Châu thành
phố Đà Nẵng.
Với số vốn hoạt động:
+ Tổng số vốn hoạt động : 7.102.293.000 đồng
Trong đó: - Giá trị còn lại của TSCĐ : 5.467.761.000 đồng
- Giá trị TSLĐ : 1.634.532.000 đồng
+ Vốn điều lệ : 3.892.500.000 đồng
+ Vốn kinh doanh : 4.118.645.000 đồng
- Lao động toàn công ty:
ngành chế biến nói chung, có đầy đủ tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, mở tài
khoản tại ngân hàng và được quyền sử dụng con dấu riêng theo mẫu quy định.
b. Nhiệm vụ chủ yếu của công ty :
Hiện nay nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất và chế biến hàng thuỷ sản đông lạnh
xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Sản xuất phục vụ hậu cần cho nghề cá.
Nhập khẩu vật tư, thiết bị và hàng hoá tiêu dùng. Đóng mới và sửa chữa các loại tàu
thuyền phục vụ nghề cá. Tổ chức thu mua các loại thuỷ hải sản (chủ yếu là hải sản)
phục vụ chế biến, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
2. Đặc điểm quy trình công nghệ chế biến sản phẩm đông lạnh tại xí nghiệp:
Thuỷ hải sản đông lạnh là những sản phẩm không đòi hỏi cao về kỹ thuật chế biến mà
chỉ yêu cầu cao trong khâu bảo quản lạnh. Do đó, quy trình chế biến thuỷ sản tương
đối đơn giản và sử dụng lao động chủ yếu là thủ công.
3. Cơ cấu sản xuất và quản lý của công ty:
3.1. Cơ cấu sản xuất và quản lý:
Bộ máy của Công ty Cổ phần Thuỷ sản Đà Nẵng được tổ chức theo mô hình trực
tuyến chức năng. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình này vừa đảm bảo cho
người lãnh đạo toàn quyền quyết định và quản lý điều hành hoạt động của toàn công
ty, đồng thời phát huy được khả năng chuyên môn, sự sáng tạo của các phòng ban
chức năng, cũng như toàn bộ cán bộ công nhân viên thông qua sự tham mưu, giúp việc
của của các phòng cho thủ trưởng.
Công ty hoạt động theo bộ máy sau:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ Ở CÔNG TY
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
3.2. Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
Hội đồng quản trị: là tổ chức thành lập ra công ty, là người đề ra phương hướng sản
xuất kinh doanh và điều hành công ty trong quá trình tổ chức kinh doanh.
Giám đốc công ty: do hội đồng quản trị cửa ra, và có trách nhiệm quản lý hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Để có thời gian về những vấn đề lớn, giám đốc công
Phần II:TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VÀ TÌNH HÌNH HẠCH TOÁN CHI PHÍ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THUỶ SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THUỶ
SẢN ĐÀ NẴNG.
A. TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY:
1. Tổ chức bộ máy kế toán:
1.1. Tổ chức hình thức kế toán:
Hệ thống kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình tổ chức kế toán phân tán. Bộ
phận kế toán được hình thành ở các xí nghiệp. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại từng
xí nghiệp từ chi tiết đến hạch toán tổng hợp, do bộ phận kế toán của xí nghiệp đó tự
hạch toán và ghi sổ. Định kỳ bộ phận kế toán tại từng xí nghiệp lập báo cáo về công
tác hạch toán cũng như kết quả sản xuất kinh doanh ở đơn vị mình và nộp lên phòng
kế toán tài vụ của công ty. Tại phòng Kế toán - Tài vụ của công ty chỉ hạch toán các
nghiệp vụ thu chi nội bộ, ngoài ra, phòng kế toán - tài vụ của công ty còn đảm nhận
chức năng xuất nhập khẩu, uỷ thác cho các xí nghiệp, cơ sở của mình, hằng tháng, kế
toán tổng hợp toàn công ty (đồng thời là kế toán trưởng), tiến hành hạch toán tổng hợp
và nộp báo cáo cho văn phòng công ty theo định kỳ (thường là quý), kế toán trưởng
căn cứ vào các báo cáo kế toán do các xí nghiệp nộp lên, cùng với báo cáo tại văn
phòng công ty để lập báo cáo cho toàn công ty theo chế độ quy định.
1.2. Hình thức kế toán công ty áp dụng:
Do quy mô của công ty lớn, các đơn vị trực thuộc có đặc thù ngành nghề mặc khác các
đơn vị trực thuộc lại bố trí ở địa điểm cách xa nhau, cho nên việc áp dụng kế toán phân
tán là phù hợp. Công việc thu thập và xử lý thông tin được tiến hành nhanh chóng và
kịp thời, điều này giúp cho cấp lãnh đạo ra quyết định đúng lúc và hợp lý, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này gặp nhiều hạn chế như: không đảm bảo được sự
chỉ đạo tập trung, thống nhất cho nên dễ sai lệch trong việc định hướng mục tiêu của
doanh nghiệp, bộ máy kế toán cồng kềnh.
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của các phần hành kế toán trong công ty:
Kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm về tổ chức công tác kế toán của công ty,
kiểm tra toàn bộ tình hình thu, chi , xử lý chứng từ, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế
vật tư trong kho để cung cấp các số liệu kịp thời cho việc dự trữ vật tư, đảm bảo cho
hoạt động sản xuất được tiến hành liên tục. Kế toán vật tư đồng thời là thủ quỹ của xí
nghiệp.
Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng: thực hiện công tác kế toán thu chi thanh toán thu
chi thanh toán bằng tiền mặt. Hằng ngày vào sổ chi tiết để theo dõi đối chiếu. Thực
hiện các nghiệp vụ kế toán thông qua ngân hàng các khoản tiền gửi, việc nộp tiền vào
tài khoản tại ngân hàng, rút tiền gửi ngân hàng về nhập quỹ.
2. Hình thức ghi sổ ở công ty:
Hiện nay ở công ty cũng như các xí nghiệp đưa kế toán máy vào trong khâu quản lý:
hằng ngày khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh kế toán nhập vào máy theo hình thức
Nhật ký chung đồng thời cũng sử dụng hệ thống sổ sách, khi cần kế toán có thể đối
chiếu, và sẽ in ra đóng thành tập nộp lên cho cấp trên khi cấp trên yêu cầu.
2.1. Sơ đồ nhật ký chung tại Công ty Cổ phần Thuỷ sản Đà Nẵng:
Hằng ngày, căn cứ vào chứng từ gốc kế toán lập định khoản phản ánh các sổ chi tiết
liên quan. Riêng các nghiệp vụ thu chi tiền mặt được ghi vào sổ nhật ký tiền mặt, các
nghiệp vụ liên quan đến thu chi tiền gửi vào rút ra tiền gửi ngân hàng thì được ghi vào
sổ nhật ký TGNH, các nghiệp vụ cần theo dõi chi tiết thì được ghi vào các sổ thẻ kế
toán chi tiết.
Các nghiệp vụ còn lại được ghi vào sổ nhật ký chung, sau đó kế toán tiến hành ghi vào
các sổ cái liên quan.
Cuối tháng, kế toán tổ chức kết sổ kế toán, tiến hành lập các bảng chi tiết, kết sổ quỹ,
cộng sổ cái của tháng và ghi vào sổ luỹ kế. Sau đó kế toán tiến hành đối chiếu giữa sổ
cái với sổ tổng hợp chi tiết và sổ quỹ, sau đó đối chiếu và điều chỉnh (nếu có) cho
khớp đúng, kế tiếp kế toán lập bảng cân đối số phát sinh trong từng tháng.
Đến cuối quý căn cứ vào 3 bảng cân đối số phát sinh của ba tháng trong quý để lập
bảng cân đối số phát sinh quý. Từ bảng cân đối số phát sinh quý, bảng tổng hợp chi
tiết tổng quý và báo cáo tài chính của từng nộp lên, kế toán lập bảng báo cáo cho toàn
công ty theo các bảng biểu quy định.
B. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH:
I. KHÁI NIỆM HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
c. Phân theo cách ứng xử chi phí: có 2 loại:
Chi phí cố định (định phí): là những chi phí mà khối lượng sản phẩm sản xuất ra
không làm ảnh hưởng hoặc có nhưng không đáng kể đến sự thay đổi của chi phí này,
chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí quản lý
doanh nghiệp những chi phí tính trên đơn vị sản phẩm là biến đổi.
Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi theo tỷ lệ trực tiếp sản lượng sản
phẩm làm ra như: chi phí nhân công trực tiếp những chi phí tính trên một sản phẩm
là cố định.
1.3. Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất:
a. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí, nhằm
tính chính xác giá thành sản phẩm. Đối tượng tập hợp chi phí các chi phí có thể là sản
phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại, chi tiết hoặc nhóm chi tiết sản phẩm, đơn đặt
hàng giai đoạn công nghệ phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất.
b. Phương pháp phân bổ chi phí : 2 phương pháp:
b1. Phương pháp gián tiếp: phương pháp này áp dụng trong tập hợp chi phí sản xuất
liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí riêng biệt, chi phí này áp dụng
trong trường hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, kế toán
không thể căn cứ vào chứng từ để tập hợp chi phí cho từng đối tượng mà phải tiến
hành phân bổ cho từng đối tượng, theo công thức sau:
Chi phí phân bổ cho đối tượng i = Tổng chi phí cần phân bổ x Tiêu
chuẩn dùng phân bổ của đối tượng i
Tổng chỉ tiêu cần phân bổ
b2. Phương pháp trực tiếp: là những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng chi phí
và khi hạch toán thì tính trực tiếp vào đối tượng đó.
2. Giá thành sản phẩm:
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm: giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của tổng
số các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp dùng để sản
xuất một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định.
2.2. Phân loại giá thành:
a. Phân loại phạm vi phát sinh chi phí:
Giá thành sản phẩm là cơ sở để định giá bán, cũng như ra các quyết định trong việc
chấp nhận đơn đặt hàng. Do đó muốn đứng vững trên thị trường , doanh nghiệp cần
phải không ngừng phấn đấu sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả tài sản, vật tư, lao
động vốn nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác những khả năng tiềm tàn để giảm
chi phí sản xuất , hạ giá thành sản phẩm, tính chính xác giá thành là tiền đề cho xác
định kết quả kinh doanh được chính xác.
2. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành và tổ chức
tập hợp chi phí theo đúng đối tượng.
Xác định chính xác chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Ghi chép và phản ánh chính xác các khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản
xuất sản phẩm. Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, dự đoán chi phí
nhằm thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm.
Tính toán chính xác kịp thời giá thành sản phẩm, lao vụ dịch vụ hoàn thành nhằm phục
vụ cho việc xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tham gia lập báo cáo phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm.
Từ đó đề xuất biện pháp sử dụng tiết kiệm vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp.
III. PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT, TRÌNH TỰ HẠCH
TOÁN VÀ TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT:
1. Hạch toán và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621
"Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp"
Nội dung kết cấu tài khoản 621:
TK 621
Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sang TK 154
Tài khoản này không có số dư và mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí (sản
phẩm, đơn đặt hàng)
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
1.2. Hạch toán và phân bổ chi phí nhân công:
trọng lớn trong tổng giá thành sản phẩm.
3.2. Phương pháp tính theo ước lượng hoàn thành :
Theo phương pháp này sản phẩm dở dang phải tính đủ 3 khoản mục chi phí đó là: chi
phí NVL, chi phí nhân công trực tiếpvà chi phí sản xuất chung. Nhưng khoản mục chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp ta áp dụng theo công thức trên, còn 2 khoản mục chi phí
nhân công và chi phí sản xuất chung được tính theo sản phẩm đã ước lượng:
CPCB tính cho DDCK = CPCB tính cho DDĐK + CPCB PSTK
SLSP hoàn thành + (SLSPDDCK + Mức độ hoàn thành * SLSPDD *
Mức độ hoàn thành )
Từ đó ta có giá trị dở dang cuối kỳ:
Giá trị SP dở dang cuối kỳ = Chi phí NVL trực tiếp tính cho cuối kỳ + Chi
phí chế biến tính cho dở dang cuối kỳ
3.3. Phương pháp tính giá sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến:
Phương pháp này có cách tính như trên nhưng mức độ hoàn thành là 50%.
3.4. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo giá thành định mức:
Phương pháp này dựa vào các định mức hao giá thành định mức để xác định giá trị sản
phẩm dở dang.
IV. PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH:
1. Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn):
Tổng GT sản phẩm (z) = Giá trị SP dở dang đầu kỳ + CP SX phát sinh
trong kỳ - Giá trị SPDD cuối kỳ - Phế liệu thu hồi (nếu có)
Từ đó suy ra:
Giá thành đơn vị sản phẩm (z) = Tổng giá thành sản phẩm (z)
Số lượng sản phẩm hoàn thành
2. Phương pháp hệ số: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp trong cùng một quy
trình sản xuất, sử dụng cùng một loại nguyên liệu nhưng kết quả sản xuất thu được
nhóm sản phẩm cùng loại.
GT đơn vị SP chuẩn (SP quy đổi) = Giá trị SPDD đầu kỳ + CPSXPS trong kỳ -
GTSPDD cuối kỳ
Số lượng sản phẩm quy đổi
Nguyên vật liệu chính là thành phần cấu tạo nên sản phẩm, chiếm tỷ trọng rất lớn
trong giá thành. Do vậy việc hạch toán nguyên vật liệu một cách khoa học và chặt chẻ
sẽ giúp cho việc xác định giá thành sản phẩm chính xác, đồng thời giúp cho việc cung
ứng nguyên liệu theo đúng yêu cầu tiến độ sản xuất kinh doanh và sử dụng nguyên vật
liệu tiết kiệm và hiệu quả.
Nguyên liệu dùng sản xuất sản phẩm ở Công ty Cổ phần Thuỷ sản Đà Nẵng là các loại
hải sản tươi như mực, cá, tôm rất đa dạng về chủng loại, kích cở, có đặc điểm riêng
nên việc nhập xuất nguyên liệu được thực hiện ngay trên hoá đơn hằng ngày, nguyên
liệu được mua từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu là mua từ các Nậu Vực, tất cả các
nguyên liệu thu mua được tập trung qua tổ thu mua sau đó chuyển thẳng cho phân
xưởng chế biến, thông qua chỉ thực hiện trên thủ tục, nếu khối lượng khả năng chế
biến thì được bảo quản ở kho lạnh, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn không có tồn
kho nguyên liệu.
Về thủ tục mua, sau khi hoàn thành thủ tục tiếp nhận, cân, kiểm tra chất lượng cán
bộ thu mua nhập phiến nguyên liệu, lập thành 2 liên: một liên giao cho người bán đem
tới phòng kế toán làm thủ tục thanh toán tiền hàng, liên còn lại thế hai giữ lại ở tổ thu
mua. Về giá cả cán bộ thu mua căn cứ vào mức giá đã được giám đốc quy định sẵn
cho từng loại nguyên liệu.
Tại phòng kế toán khi nhận được phiếu tiếp nhận nguyên liệu sẽ làm thủ tục thanh toán
rồi tập hợp lên bảng kê "Mua nguyên liệu" đồng thời theo dõi tình hình nhập nguyên
liệu trên bảng kê nguyên liệu, bảng này được lập hằng ngày khi phát sinh nghiệp vụ.
Do nguyên liệu mua vào được chuyển qua.
Chế biến ngay nên phiếu tiếp nhận nguyên liệu cũng chính là phiếu xuất nguyên liệu.
Giá xuất nguyên liệu cũng là giấy nhập kho nguyên liệu.
Giá nguyên liệu nhập = Giá mua + Phụ giá + Chi phí mua
Trong đó : Giá mua do giám đốc quy định.
Phụ giá được áp dụng đối với các Nậu Vựa
Chi phí mua là chi phí vận chuyển nhưng rất ít vì nguyên liệu được
chở tới công ty.
Toàn bộ chi phí mua nguyên liệu được phản:
bảng ghi rõ số lượng thực tập, tên vật tư, đơn vị tính ngày tháng nhập hoá đơn rồi
chuyển xuống kho, thủ kho căn cứ vào phiếu nhập kho tiến hành nhập kho các loại vật
tư và ghi vào cả 4 bản: một bản thủ kho giữ lại, một bản chuyển cho phòng kế hoạch,
một bản giao cho kế toán vật tư và một bản giao cho kế toán thanh toán.
Kế toán vật tư căn cứ vào chứng từ gốc để ghivào tài khoản theo dõi chi tiết tình hình
nhập - xuất - tồn của từng loại vật tư theo giá thực tế (giá mua + chi phí mua)
Sau đây là tình hình nhập xuất các vật liệu, công cụ dụng cụ, bao bì đóng gói của công
ty quý I/2003:
BẢNG NHẬP CÁC LOẠI CÔNG CỤ DỤNG CỤ BAO BÌ ĐÓNG GÓI
Quý I/2003
STT Loại vật tư hàng hoá TK đối ứng Số tiền
1 Vật liệu phụ 111 81.684.249
2 Bao bì 111 102.553.005
3 Công cụ 331 15.541.077
Dụng cụ 111 25.719.058
Tổng cộng 225.497.389
Để phản ánh kịp thời, đúng đối tượng, giá trị của vật liệu xuất dùng, kế toán vật liệu
tiến hành tổng hợp phân loại chứng từ kế toán về xuất vật liệu theo từng loại vật liệu
và từng đối tượng sử dụng, sau đó tiến hành đánh giá vật liệu xuất dùng thực tế. Theo
phương pháp này vật tư xuất dùng chưa được ghi sổ, đến cuối tháng sau khi kế toán
tính được giá thực tế bình quân vật liệu tồn đầu và nhập trong quý khi đó kế toán mới
tiến hành ghi vào sổ.
Công ty áp dụng phương pháp đơn giá bình quân gia quyền để tính trị giá VL xuất
dùng:
Giá thực tế vật liệu xuất dùng = Đơn giá thực tế bình quân vật liệu x
Số lượng vật tư xuất kho
Với
Đơn giá thực tế bình quân vật liệu = TG thực tế VL tồn đầu kỳ + TGVL
nhập trong kỳ
SL VL tồn đầu kỳ + SL VL nhập trong kỳ