Quản lý cạnh tranh trong kinh tế theo pháp
luật Việt Nam Nguyễn Thanh Hiếu Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Viết Tý
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về hoạt động quản lý cạnh tranh, pháp
luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh. Phân tích làm rõ khái niệm, nội dung
chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.Thực
trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. Làm
sáng tỏ nhu cầu và phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động quản lý cạnh tranh trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Keywords. Quản lý cạnh tranh; Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Luật Cạnh tranh 2004 ra đời, nền kinh tế thị trường của Việt Nam đã có khung pháp
lý để điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Luật Cạnh tranh là
một văn bản pháp luật có tính chất là luật "mẹ" để Nhà nước ta quản lý cạnh tranh. Nói đến Luật
Cạnh tranh là nói đến kinh tế, quản lý cạnh tranh ở đây tất yếu là quản lý cạnh tranh trong kinh tế.
Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh không bao quát hết mọi hoạt động nhằm quản lý cạnh tranh của Nhà
- Phương pháp được sử dụng có tính chất bao trùm ở luận văn này là phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, theo đó vấn đề điều chỉnh pháp luật phải
được đặt trong bối cảnh lịch sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển cơ chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: giúp cho việc tìm hiểu quan điểm tiếp cận của pháp luật
điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở phương diện quản lý cạnh tranh để tìm ra những ưu
việt và hợp lý của từng chế độ sử dụng. Hơn nữa, với phương pháp này ta còn có thể so sánh
được với pháp luật cạnh tranh của một số quốc gia để đánh giá những hợp lý, bất cập và đưa ra
giải pháp ở Việt Nam.
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập, tổng hợp và phân tích số
liệu để làm rõ những nội dung liên quan.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất: luận văn đưa ra được những vấn đề lý luận hoàn toàn mới là khái niệm về hoạt
động quản lý cạnh tranh, pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh.
Thứ hai: Có phân tích và đánh giá, đề xuất đối với cách thức quản lý cạnh tranh - nội dung vô
cùng quan trọng để nhận biết pháp luật về quản lý cạnh tranh, góp phần tạo nên hiệu quả cho hoạt
động quản lý cạnh tranh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động quản lý cạnh tranh và pháp luật điều chỉnh
hoạt động quản lý cạnh tranh;
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện
nay;
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động
quản lý cạnh tranh trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH
VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH
của hoạt động này. Theo các chuyên viên của Cục Quản lý Cạnh tranh, hiện tại không có văn bản
nào của các cơ quan nhà nước định nghĩa chính thức về hoạt động quản lý cạnh tranh. Trong
phạm vi của đề tài nghiên cứu, yêu cầu đặt ra là cần xác định rõ bản chất của hoạt động quản lý
cạnh tranh. Khái niệm về hoạt động quản lý cạnh tranh mà tôi đưa ra sau đây dựa trên nền tảng lý
luận về hoạt động quản lý và các yếu tố đặc thù của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế thị trường
Việt Nam. Mục đích nhằm xây dựng cơ sở lý luận, định hướng cho nội dung cần nghiên cứu của
tổng thể luận văn.
Hoạt động quản lý cạnh tranh là hoạt động của cơ quan được nhà nước trao thẩm quyền
nhằm thực thi pháp luật cạnh tranh, thống nhất từ khâu phát hiện, điều tra đến xử lý hành vi vi
phạm pháp luật về cạnh tranh nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh.
Hoạt động quản lý cạnh tranh của Việt Nam luôn luôn đặt tiêu chí phải trên cơ sở tôn trọng
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển.
- Tính chất của hoạt động quản lý cạnh tranh: là hoạt động gián tiếp, trong quá trình thực hiện
chức năng này, Nhà nước chỉ xuất hiện với tư cách đại diện cho quyền lợi chung của xã hội và
một người cạnh tranh bình đẳng như những người cạnh tranh khác trên thị thường.
- Chủ thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: là cơ quan quản lý cạnh tranh, Bộ trưởng Bộ
Công thương, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các điều tra viên, các cơ quan có thẩm
quyền ở địa phương.
- Khách thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: cá nhân, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh;
các hành vi gây thiệt hại tới môi trường cạnh tranh hoặc gây trở ngại cho cạnh tranh lành mạnh.
1.1.2.Thiết chế quản lý cạnh tranh
Có thể nhận thấy rằng đối với cạnh tranh thì pháp luật đã có những thiết chế để thực hiện
việc quản lý cạnh tranh. Thiết chế quản lý cạnh tranh đóng một vai trò quan trọng để phát huy
hiệu quả của việc quản lý cạnh tranh là điều tiết cạnh tranh của nền kinh tế. Ở những quốc gia có
chính sách cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh phát triển đều cho thấy mô hình các thiết chế được sử
dụng phổ biến bao gồm các cơ quan cạnh tranh, tòa án - những cơ quan chủ đạo của hoạt động quản
lý cạnh tranh. Tùy theo truyền thống lập hiến, lập pháp và tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà các
thiết chế được thành lập, đặt tên gọi, phân định thẩm quyền khác nhau. Tuy nhiên, vẫn phải chứa
đựng các yếu tố: hoạt động đảm bảo tính tin cậy cao; phải đảm bảo hoạt động và ra quyết định
vụ việc cạnh tranh được thành lập một lần để giải quyết vụ việc cụ thể và giải tán khi hoàn thành
nhiệm vụ của mình (như Hội đồng xét xử trong hệ thống Tòa án). Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh được xem là cơ quan có thẩm quyền "xét xử cấp sơ thẩm" vụ việc liên quan đến hành vi hạn
chế cạnh tranh. Hội đồng toàn thể thành viên của Hội đồng cạnh tranh là cơ quan tố tụng cấp trên
(như thẩm quyền "xét xử phúc thẩm") có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định của Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
- Tòa án nhân dân: đóng vai trò là một thiết chế trong quản lý cạnh tranh. Tòa hành chính
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm
khiếu kiện đối với quyết định của Hội đồng cạnh tranh; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao,
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết vụ việc cạnh tranh theo
thủ tục phúc thẩm/giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án hành
chính. Tuy nhiên, thiết chế này xuất hiện mờ nhạt hơn nhiều so với hai thiết chế đặc biệt là Cục
Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh.
- Các hiệp hội: Trên thực tế tất cả hầu như hoạt động kém hiệu quả, chưa phát huy được vai
trò dẫn dắt các doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh, đúng pháp luật, chưa thực hiện tốt chức
năng giám sát cạnh tranh. Để tăng cường vị thế của mình, các hiệp hội cần hợp tác chặt chẽ với
cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp và các
hiệp hội ngành hàng về pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; tích cực
phòng chống các vi phạm pháp luật nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và cơ chế
kinh tế thị trường phát triển bền vững.
Để quản lý cạnh tranh có hiệu quả cao cần có sự phối hợp hoạt động của các thiết chế có tổ
chức và cả bản thân những người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp khi tham gia thị trường.
Tuy nhiên, chỉ có những thiết chế quyền lực (cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh và
tòa án) mới thực sự có khả năng can thiệp mạnh mẽ đối với hoạt động quản lý cạnh tranh. Do
pháp luật quy định có sự liên hệ và phối kết hợp trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ
nhưng phân chia thẩm quyền rất rõ rệt nên yêu cầu đặt ra cho các thiết chế là cần sự bảo đảm bổ
trợ lẫn nhau về chức năng, tránh những xung đột về thẩm quyền.
1.1.3. Tính tất yếu của hoạt động quản lý cạnh tranh
Cạnh tranh là là hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Chính sách cạnh tranh của một quốc
gia nhằm đảm bảo tối đa hóa phúc lợi xã hội và thúc đẩy tăng trưởng xã hội. Trong bất cứ nền
lý nhà nước đối với kinh doanh; Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày
30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị
định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa
cấp; Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy
định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh; Nghị định số
06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/20006 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ
chức của Cục Quản lý cạnh tranh; Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11/2005 của Bộ
Thương mại hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của
Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.
Bên cạnh đó cũng ghi nhận sự đóng góp của một số văn bản luật có sự điều chỉnh đối với
hoạt động quản lý cạnh tranh theo ngành nghề, trong đó hoạt động quản lý cạnh tranh được xác
định thuộc về cơ quan chuyên ngành: Luật Viễn thông, Luật Điện lực, Luật Chứng khoán, Luật
Ngân hàng… Xu hướng đưa các vấn đề cạnh tranh vào luật chuyên ngành như vậy đã và đang
được thể hiện rõ nét bằng sự ra đời của nhiều luật điều tiết ngành trong đó có đề cập đến phạm vi
quản lý cạnh tranh thuộc về cơ quan quản lý ngành. Với những phân tích trên đây, tác giả luận
văn nêu lên một số đặc điểm của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh Việt Nam đó
là: tính mềm dẻo; có sự vận dụng các án lệ (của tòa án, quyết định của cơ quan cạnh tranh) bổ
sung cho luật thành văn bởi các quy định trong các văn bản luật cạnh tranh thường rất chung
chung; tính xuyên suốt và tính toàn cầu.
1.2.2.Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh
- Cách thức quản lý cạnh tranh
Cách thức (hay còn gọi là phương thức) quản lý cạnh tranh được đánh giá có mức độ quan
trọng hơn rất nhiều so với mức độ quản lý cạnh tranh. Cách thức quản lý là một vấn đề đặc biệt
có ý nghĩa vì quyết định sự hiệu quả quản lý bên cạnh những vấn đề cần nghiên cứu như cơ quan
quản lý cạnh tranh, xử lý vi phạm về cạnh tranh. Không có một biện pháp nào có thể thay thế cho
phương thức mà pháp luật can thiệp vào hoạt động quản lý cạnh tranh thông qua các điều luật,
các văn bản… Cách thức quản lý cạnh tranh tập trung vào việc quy định cách kiểm soát và xử lý
đối với các nhóm hành vi: các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; những hành vi bị coi là hạn
chế cạnh tranh; các hành vi lạm dụng vị thế độc quyền; quy định về hợp nhất, sáp nhập doanh
cực của kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh và yêu cầu điều tiết
cạnh tranh. Tuy nhiên, bối cảnh đặc thù của kinh tế nước ta là rất khác biệt mà không tương đồng
với một quốc gia nào.
- Nhóm các yếu tố bên ngoài:
+ Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng lớn đến pháp luật điều chỉnh
hoạt động quản lý cạnh tranh;
+ Kinh nghiệm về xây dựng và thực thi pháp luật quản lý cạnh tranh của các nước có nền
kinh tế thị trường từ rất sớm và hệ thống chính sách pháp luật về cạnh tranh phát triển. Chúng ta
đã có những học hỏi và tiếp thu kỹ thuật xây dựng luật cùng với mô hình cơ quan cạnh tranh từ
những nước đó và chọn lọc cho phù hợp với điều kiện tình hình thực tế của Việt Nam.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quy định pháp luật điều chỉnh cách thức quản lý cạnh tranh
2.1.1. Chế độ cung cấp thông tin
- Quy định pháp luật:
+ Cung cấp thông tin từ các bên liên quan về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế
đang được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý theo Điều 32 Luật Cạnh tranh.
+ Trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng,
kế toán, kiểm toán và các tổ chức cá nhân khác cho cơ quan cạnh tranh
+ Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp
thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình.
+ Hội đồng cạnh tranh có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin,
tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng.
+ Xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo Điều 11 Luật Cạnh tranh thông
qua việc doanh nghiệp phải cung cấp thông tin về thị phần của mình trên thị trường liên quan theo
tháng, quý, năm là nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp.
+ Cục Quản lý cạnh tranh đã xây dựng một chuyên mục về cung cấp thông tin trực tuyến trên
website riêng của mình.
trình hoạt động của doanh nghiệp, qua đó có những điều chỉnh kịp thời về quản lý. Với cơ chế
này, giúp cho nhà làm luật muốn sàng lọc được những doanh nghiệp hiệu quả từ khâu đầu vào.
Từ Nhưng có thể thấy rằng không phải lúc nào chế độ đăng ký cũng là phù hợp bởi vì nếu không
sử dụng hợp lý nó sẽ mang tính hình thức, và hiệu quả sàng lọc các doanh nghiệp hiệu quả vẫn
chỉ là mong ước. Nếu các điều kiện pháp luật đưa ra không phù hợp sẽ tạo nên sự bất khả thi
trong nhiệm vụ thực hiện. Nhà nước khi quản lý thông qua pháp luật cần cân nhắc phương thức
sử dụng phù hợp tùy vào từng nội dung của loại hình kinh doanh mà quy định cần phải áp dụng
chế độ đăng ký hay chỉ đơn giản hơn là chế độ thông báo. Áp dụng chế độ đăng ký không thích
hợp sẽ gây ra những thủ tục rườm rà mà vẫn không đảm bảo được hiệu quả quản lý.
2.1.3. Chế độ báo cáo
- Quy định pháp luật:
+ Trách nhiệm báo cáo định kỳ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp: "Định kỳ 6 tháng doanh
nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm báo cáo với Sở Thương mại - Du lịch nơi doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh về số lượng người tham gia, doanh thu và số thuế đã nộp của doanh nghiệp"
- Điều 20 Nghị định số 110/2005/NĐ-CP quy định báo cáo định kỳ của doanh nghiệp bán hàng:
+ Báo cáo khi có yếu tố liên quan đến hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh phát
sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp:
- Đánh giá quy định: Để quản lý cạnh tranh trong vấn đề ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm, cơ
quan có thẩm quyền chủ yếu dựa vào hoạt động báo cáo định kỳ của doanh nghiệp cùng với các hoạt
động khác như thanh tra, kiểm tra. Thực tế là không phải tất cả các doanh nghiệp đều chấp hành tốt
những luật lệ của nhà nước đặt ra bởi vậy mới phát sinh những vi phạm. Hơn nữa, pháp luật cạnh
tranh chưa quy định chế độ báo cáo thường kỳ của doanh nghiệp trên thị trường (trừ quy định đối với
bán hàng đa cấp như ở trên) đối với cơ quan quản lý cạnh tranh. Chế độ báo cáo cũng như các chế độ
khác trong nội dung hoạt động quản lý cạnh tranh đều có ý nghĩa, vị trí, vai trò quan trọng không thể
thiếu. Nhưng trong pháp luật về cạnh tranh xuất hiện chỉ ở rải rác các quy định của những văn bản
khác nhau nên giảm đi tính giá trị và uy nghiêm của phương thức này.
2.1.4. Chế độ thông báo
- Quy định pháp luật:
+ Được tiếp cận chủ yếu ở các hình thức tập trung kinh tế trong nội dung về kiểm soát hạn
chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh qua thủ tục: các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần
- Đánh giá quy định:
Chế độ giám sát chéo nếu được phát huy sẽ mang lại hiệu quả lớn bởi sự tác động qua lại
giữa các chủ thể. Tuy nhiên ở chúng ta, chế độ giám sát chéo chưa thực sự đạt được kết quả, chưa
được sử dụng hết lợi thế của cơ chế giám sát này và đặc biệt chưa cụ thể trong luật.
2.2. Quy định pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh.
2.2.1. Cơ quan quản lý chung
Cơ quan quản lý cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam là Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ
Công thương được quy định tại Điều 49, Điều 53 trong Luật Cạnh tranh.
- Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam - Cục Quản lý cạnh tranh:
quản lý nhà nước về cạnh tranh; quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng
các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong
thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ và thực
hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Công thương giao cho.
- Vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh: quyết định trong việc bảo đảm thực thi Luật Cạnh
tranh và 04 Pháp lệnh về chống bán phá giá, chống trợ cấp đối, tự vệ và bảo vệ người tiêu dùng.
- Tính chất của cơ quan quản lý cạnh tranh: vừa là cơ quan điều tra, xử lý, đồng thời là cơ
quan hành chính.
Thực trạng khó khăn của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay: thiếu tính độc lập do phụ thuộc
vào cơ quan chủ quản là Bộ Công thương; thiếu nguồn nhân lực; thiếu kinh phí hoạt động; các
đơn vị trực thuộc Cục còn có những đan xen, chồng chéo. Hơn nữa là chỉ tiến hành điều tra một
vụ việc cạnh tranh một cách bị động. Mô hình hai cơ quan cạnh tranh chưa hẳn đã phù hợp với
thực tiễn.
2.2.2. Cơ quan xử lý vi phạm
Bao gồm: cơ quan quản lý cạnh tranh và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh; các cơ quan
chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt với vi phạm cạnh tranh trong phạm vi nội bộ quản lý ngành
như điện lực, viễn thông, ngân hàng…; Bộ trưởng Bộ Thương mại; Tòa án (Tòa hành chính Tòa
án nhân dân cấp tỉnh); Hội đồng cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
- Một số vụ việc do Cục Quản lý cạnh tranh xử lý:
+ Vụ việc Công ty Cổ phần Liên kết trí thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán
gắt. Bởi vậy, sự công bằng trong hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò quan trọng
trong việc hình thành và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử và công
bằng trong mọi lĩnh vực kinh tế, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Thể hiện trong việc xử lý
các vụ khiếu kiện giữa chính các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công thương với các doanh nghiệp
khác kinh doanh trên thị trường. Hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh nhằm mục đích đảm bảo
cho sự công bằng - một điều kiện quan trọng và quyết định cho thành công bền vững của nền kinh tế.
Với sứ mệnh của mình thì Luật Cạnh tranh hoàn toàn có thể đem lại sự công bằng cho cả người tiêu
dùng và doanh nghiệp hoạt động trên thị trường dù môi trường cạnh tranh có gay gắt đến đâu. Khi
sử dụng thẩm quyền áp dụng Luật Cạnh tranh của mình, Cục Quản lý cạnh tranh cần đáp ứng được
đòi hỏi là duy trì sự công bằng cho các bên liên quan trong pháp luật cạnh tranh, đảm bảo sự công
bằng trong xã hội.
2.3. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
2.3.1. Các loại hình phạt và mức độ xử lý vi phạm
Hành vi vi phạm quy định pháp luật Cạnh tranh là hành vi có tính chất nguy hiểm cho kinh tế
- xã hội bởi nó cản trở việc xây dựng một thị trường cạnh tranh lành mạnh, nguy hiểm hơn là
khiến cho nhà nước khó kiểm soát được giá cả, chất lượng của sản phẩm. Pháp luật cạnh tranh
quy định cụ thể các hình phạt như sau:
Thứ nhất, Quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành
mạnh và các hành vi khác vi phạm khác.
Thứ hai, Quy định xử phạt đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh:
- Đánh giá về các hình thức xử phạt:
Nhà nước đã mạnh tay trừng phạt bằng các biện pháp mạnh mang tính quyền lực qua các
biện pháp xử phạt để kiểm soát quyền lực thị trường. Các biện pháp khắc phục hậu quả được áp
dụng sau khi có hành vi vi phạm xảy ra nhằm khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra
để khôi phục lại tình trạng cạnh tranh đã bị tác động. Luật Cạnh tranh cũng theo truyền thống lập
pháp ở Việt Nam thì phần các tội phạm dẫn chiếu vào các quy định trong Bộ luật Hình sự. Các
mức hình phạt đối với vi phạm pháp luật cạnh tranh đều nhằm bảo đảm cho cạnh tranh diễn ra. Tuy
vậy, việc xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh còn nhiều bất cập cần được giải quyết thỏa đáng.
2.3.2. Cơ chế thực thi việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
- Về các cơ quan thực thi: Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý cạnh tranh của nhà
mạnh trong khi đó số lượng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được Luật Cạnh tranh quy định
tại Điều 39 là quá ít (9 hành vi). Ngoài ra, tại khoản 10 Điều 45 còn gây khó xử cho cơ quan thực thi
khi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác mới chỉ bị cấm khi nó được Chính phủ quy định là
không lành mạnh. Với sự không rõ ràng như vậy cho nên nhiều doanh nghiệp vẫn thực hiện hoạt
động mà chúng ta có thể đánh giá là phản cạnh tranh nhưng chưa bị xử lý (trái với đạo đức kinh
doanh) vì pháp luật chưa quy định. Vì vậy, cần sửa đổi một số nội dung của Luật cho phù hợp để
quản lý kiểm soát cạnh tranh trong kinh tế.
- Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh trên cơ sở thực trạng thực
thi pháp luật quản lý cạnh tranh.
Thị trường Việt Nam còn tồn tại quá nhiều rào cản cho cạnh tranh và cho thực thi pháp luật
quản lý cạnh tranh như tư tưởng quản lý kinh tế tập trung trước đây vẫn còn tồn tại, độc quyền
hành chính, rào cản về thương mại và đầu tư nước ngoài còn lớn, vẫn còn phân biệt đối xử giữa
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khác, các hành vi cạnh tranh lành mạnh đã diễn ra ngày
một nhiều nhưng xử lý chưa nghiêm khắc. Trong bối cảnh Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và khu
vực, việc thực thi pháp luật quản lý cạnh tranh nhằm để duy trì môi trường cạnh tranh, dần xóa bỏ
các rào cản, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Việt Nam, đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp,
người tiêu dùng và nền kinh tế.
Thực thi pháp luật quản lý cạnh tranh tại Việt Nam, ở khía cạnh xử lý các vụ việc vi phạm đã
phần nào thể hiện được quyết tâm của Việt Nam trong thực thi các nội dung của pháp luật quản
lý cạnh tranh, tạo điều kiện để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, pháp luật về quản lý cạnh tranh vẫn
chưa quản lý cũng như chưa kiểm soát được hết các hành vi phản cạnh tranh đang diễn ra.
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh trên cơ sở phù hợp
điều kiện nền kinh tế thị trường đặc biệt của Việt Nam
Nguyên tắc cho việc xây dựng đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh là:
quán triệt sâu sắc và thể chế hóa đầy đủ các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng trong
việc phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước phải có những chính sách phù hợp để khuyến khích cạnh tranh lành mạnh theo
đúng quy luật của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi thực hiện được hai mục tiêu
là chống cạnh tranh không lành mạnh và chống hạn chế cạnh tranh thì sẽ bảo vệ được môi trường
động giám sát ở cơ quan có thẩm quyền; nghiên cứu thực tế và quy mô để xác định tính hiệu quả và
hợp lý của từng loại chế độ để vận dụng vào quản lý phù hợp; trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh
những công cụ điều tra mạnh.
3.2.2. Về cơ quản quản lý cạnh tranh
- Cơ quan cạnh tranh cần đảm bảo tính độc lập. Kiến nghị hướng hoàn thiện về vị trí của cơ
quan quản lý cạnh tranh nên được quy định là cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ.
- Cơ quan quản lý cạnh tranh không nên có chức năng về phòng vệ thương mại mà chuyển
cho cơ quan khác để đảm bảo quản lý cạnh tranh hiệu quả.
- Mở rộng quy mô của cơ quan quản lý cạnh tranh trên các nội dung khác nhau.
- Giới hạn thẩm quyền của Cục Quản lý cạnh tranh ở phạm vi chỉ xử lý các vụ việc cạnh tranh
không lành mạnh mà gây hậu quả chủ yếu đến các doanh nghiệp khác (liên quan đến người tiêu dùng
thì giao cho cơ quan chuyên về bảo vệ người tiêu dùng).
- Nâng cao tính năng động, linh hoạt trong xử lý công việc.
- Xây dựng và làm rõ cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký
kinh doanh, cơ quan quản lý chuyên ngành.
3.2.3. Về xử lý vi phạm
- Bổ sung và hoàn thiện các quy phạm về thủ tục và trình tự hướng dẫn xử lý vi phạm.
- Đẩy nhanh tiến độ đối với việc điều tra, xử lý vi phạm.
- Hoàn thiện pháp luật hình sự để xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh:
- Cơ quan quản lý cạnh tranh cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng phù hợp
hơn.
- Phân định rõ ràng các nhóm hành vi thuộc đối tượng xử lý của cơ quan điều tiết chuyên
ngành với nhóm hành vi do cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý
cạnh tranh ở Việt Nam
3.3.1. Xây dựng các tổ chức hỗ trợ quản lý cạnh tranh
Xúc tiến xây dựng các tổ chức hỗ trợ quản lý cạnh tranh là yêu cầu cần thiết nhằm: góp
phần tạo hiệu quả hoạt động quản lý cạnh tranh, nâng cao vai trò và năng lực của các thiết chế
quản lý cạnh tranh, xây dựng một tổ chức là cầu nối giữa chính sách của nhà nước với người
dân trong khi chính sách pháp luật cạnh tranh có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến toàn
- Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh chịu sự chi phối của nhiều yếu tố đặc thù
và tình hình hội nhập kinh tế quốc tế. Để đạt hiệu quả trong hoạt động quản lý cạnh tranh cần
phải có sự phối kết hợp của nhiều nội dung như cách thức quản lý cạnh tranh, cơ quan quản lý
quản lý cạnh tranh, phát huy vai trò của các thiết chế, nâng cao hiệu quả trừng trị và răn đe các
chế tài áp dụng với những hành vi vi phạm pháp luật.
- Từ thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam thời gian qua
và yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cần có phương hướng để hoàn thiện pháp luật
điều chỉnh quản lý cạnh tranh phải trên cơ sở thống nhất với nhiều yếu tố như: đặc trưng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các ngành luật có liên quan. Bên cạnh đó là
những giải pháp đồng bộ để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật điều chỉnh
hoạt động quản lý cạnh tranh nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy kinh
tế đất nước phát triển.
References
1. Trịnh Minh Anh, Nguyễn Như Quỳnh (2009), Tài liệu tập huấn về Luật cạnh tranh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh (2009), "Hội đồng Cạnh tranh xử phạt Vinapco 3,37 tỷ
đồng", />nuoc&action=viewNews&id=967.
3. Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh (2009), "Mạng lưới cạnh tranh quốc tế (ICN) kết nạp
Hội đồng cạnh tranh Việt Nam là thành viên thứ 104 của ICN",
4. Bộ Thương mại (2005), Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11 hướng dẫn một số
quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý
hoạt động bán hàng đa cấp, Hà Nội.
5. Lê Văn Chấn (2009), Tìm hiểu Luật Cạnh tranh - Quản lý bán hàng đa cấp, Nxb Tổng
hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Chính phủ (2005), Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về quản lý bán hàng đa
cấp, Hà Nội.
21. Phương Hoa (2009), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các văn bản mới hướng dẫn
thi hành, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
22. Nguyễn Hữu Huyên (2009), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
23. Nguyễn Hữu Huyên (2009), "Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và các luật điều tiết
ngành nhìn từ góc độ pháp lý và hội nhập quốc tế", Bản tin cạnh tranh, (10).
24. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
25. Nguyễn Như Phát, Trần Đình Hảo (2001), Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh
ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
26. Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh, Hà Nội.
27. Quốc hội (2005), Luật sở hữu trí tuệ, Hà Nội.
28. Quốc hội (2009), Luật sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội
29. Nguyễn Ngọc Sơn (2006), "Luật Cạnh tranh - sứ mệnh và triển vọng", Nghiên cứu lập
pháp, (8).
30. Nguyễn Ngọc Sơn (2006), "Pháp luật về quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở
Việt Nam", Khoa học pháp lý, (4).
31. Trần Minh Sơn (2005), Tìm hiểu về Luật Cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
32. Thành Trung (2009), "Để thúc đẩy thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh",
ngày 21/9.
33. Lê Anh Tuấn (2009), Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. An Vũ (2009), "Thực thi Luật Cạnh tranh - Một nhân tố quan trọng góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh ngành hàng không Việt Nam",
ngày 31/8.