TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHỎA
LUẬT
LỜI
CẢM
ƠN
Bộ MÔN LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI
Trải qua bốn năm học tập, với những khó khăn trong giai đoạn đầu bước chân vào
esQso
môi trường mói, môi trường học tập đầy khó khăn, thử thách. Đó là quá trình có sự nổ
lực phấn đấu của bản thân người viết, kiên trì học tập để hoàn thành đúng tiến độ của
hệ chính quy ngành luật, và hom hết, chính là công lao mà các giảng viên Khoa Luật
trường Đại học cần Thơ đã dốc hết tâm huyết để đào tạo giúp tôi vững vàng với khối
kiến thức có được, để đến khi ra trường phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội. Xin
gửi lời cảm ơn LUẬN
sâu sắcVĂN
nhất TỐT
đến Đội
ngủ Giảng
viên NGÀNH
Khoa Luật
trường Đại học cần
NGHIỆP
cử NHÂN
LUẬT
Thơ, các Thầy, các Cô đã dẫn dắt
tôi suốt
năm ngồi trên giảng đường Đại học, xin
(Khóa
33, bốn
2007-2011)
--------------
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
...........................................................................................................................................
càn thơ, ngày tháng năm 2011
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
.....................................................................................................................
càn thơ, ngày tháng năm 2011
MỤC LỤC
SOỄUGS....
LỜI NÓI ĐÀU...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VÈ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG
THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐÒNG TRONG Tư PHÁP QUỐC TẾ...............................4
1.1..............................................................................................................................Tr
ách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.............................................4
1.1.1...........................................................................................................................Tr
1.2.2.
Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ
dân
sự có yếu tổ nước ngoài..................................................................................................7
1.2.1.1.
m quyền giãi quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong một vài điển hình................................................................24
2.1.2.1.......................................................Khi sự việc xảy ra tại Việt Nam
..........................................................................................................25
2.1.2.2......................................................Khi sự việc xảy ra ở nước ngoài
..........................................................................................................26
2.1.3..............................................................................................................Pháp
luật Việt Nam về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng..........................................................28
2.1.3.1.
Khi hai quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ trách
nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng................................................................................................28
2.1.3.2.
Một số ngoại lệ về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ
trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài họp đồng....................................................................................29
2.2.......................................................................................................................Trác
h nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo điều ước quốc tế....33
2.2.1.
Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của
cá nhân và
pháp nhân.................................................................................................................34
2.2.1.1.....................Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân
..........................................................................................................34
2.2.1.2..................................................Năng lực pháp luật của pháp nhân
..........................................................................................................35
2.2.2.
ngoài và một công dân Việt Nam, làm phát sinh một tranh chấp, từ đó để giải quyết
triệt để việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, Tòa án không chỉ căn cứ trên
luật của Quốc gia mình để giải quyết hoàn toàn vụ việc trên, vấn đề này sẽ càng phức
tạp nếu có những tranh chấp về bồi thường thiệt hại mà vụ việc không chỉ phát sinh
trên lãnh thổ của quốc gia mình, mà phát sinh ở nước ngoài, hoặc không thuộc một
quốc gia nào cả...
Trong tiến trình cải cách tư pháp, trên tinh thần của Nghị Quyết 48-NQ/TW và
Nghị Quyết 49 của Bộ chính trị về việc đề ra chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam năm 2010, định hướng đến năm 2020, và thực tế vấn đề trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế còn nhiều hạn chế, thiếu sót, các
quy định còn chưa có sức điều chỉnh phổ quát, các văn bản hướng dẫn, cũng như thực
tế quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một quan hệ còn mới mẻ, việc
thích nghi để có một cơ chế điều chỉnh nhằm đối phó còn khó khăn, do chúng ta chỉ
mới trong giai đoạn đầu của hội nhập, sự quan tâm trong vấn đề này còn chưa thực sự
tương xứng với nhu càu thực tại, vì thế người viết chọn đề “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật Việt Nam và điều ước
quốc tế”, nhằm nghiên cứu, phân tích để tìm ra những nguyên nhân, vướng mắc và từ
đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các
tranh chấp trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
1
SVTH: Trần Hoàng Việt
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
Đe có được một công trình nghiên cứu hiệu quả, đánh giá được mức độ hiệu quả
nêu lên các nguyên tắc điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, và nguồn luật chủ yếu
điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chương 2. Pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
2
SVTH: Trần Hoàng Việt
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
Chương này người viết tập trung phân tích các quy phạm pháp luật của Việt Nam
và điều ước quốc tế có liên quan đến điều chỉnh quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài họp đồng, bao gồm phân tích nguyên tắc xem xét năng lực trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và pháp nhân, việc xác định thẩm quyền
giải quyết trong một vài trường hợp và việc áp dụng pháp luật giải quyết trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chương 3. Thực trạng, giải pháp và kiến nghị về quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài họp đồng trong tư pháp quốc tế
Chương 3 người viết tập trung đưa ra những vướng mắt, bất cập trong thực tiễn giải
quyết quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó có những giải
pháp và kiến nghị.
Quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nói chung và quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói riêng là quan hệ phức tạp, việc nghiên cứu còn
nhiều hạn chế, vì đề tài còn mới mẻ, cùng với sự hiểu biết là có hạn, năng lực tổng hợp
phân tích, trình bày còn non kém nên trong quá trình cố gắng làm rỏ vấn đề vẫn còn
được dự liệu trước, ta gọi đó là thiệt hại trong hợp đồng, hoặc những thiệt hại xảy ra
trên nguyên tắc không có thỏa thuận hợp đồng nào, ta gọi đó là thiệt hại ngoài hợp
đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp nói riêng sẽ được khái quát cụ thể như
sau :
1.1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là nguyên tắc cơ sở cho việc mà khi quyền dân
sự của một chủ thể bị xâm phạm , Bộ luật dân sự 2005 tại Khoản 1 Điều 604 .- “ Người
nào có loi co ý hay vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phấm, uy
tín, tài sản, quyền và ỉợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường ”(l). Có nghĩa là một khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của một chủ thể trong pháp luật dân sự bị xâm hại thì trên cơ sở đó phải được ghi
nhận trên nguyên tắc chung nhất là : “Người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại
cho người bị thiệt hại”, một ví dụ cho nguyên tắc này là khi A lái xe gây tai nạn cho
B, thì A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho B, mặc dù trên cơ sở gây tai nạn
chúng ta chưa biết được ai là chủ thể có lỗi, tuy nhiên, xét về tính chất: “gây thiệt hại
thì phải bồi thường”.
Trên nguyên tắc chung đó, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ
phát sinh khi hội đủ các yếu tố : “có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, moi
quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có loi”. Như vậy
trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng nói riêng là quan hệ pháp luật dân sự, mà trên cơ sở đó người gây ra thiệt hại
trong những điều kiện được Luật dự liệu phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ và
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
4
SVTH: Trần Hoàng Việt
một trong các bên trong quan hệ là cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo đó, theo quy định của Nghị định 138, “người
nước ngoài” là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước
ngoài và người không quốc tịch, “cơ quan, to chức nước ngoài” là cơ quan, tổ chức
không phải là cơ quan tổ chức Việt Nam được thành lập theo pháp luật nước ngoài,
bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế, “pháp
nhân nước ngoài” là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài, còn “người
Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người có gốc Việt
Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
+ Thứ hai, theo pháp luật Việt Nam, một quan hệ hay vụ việc giữa hai bên đều là
Việt Nam cũng có thể là một quan hệ hay vụ việc có yếu tố nước ngoài nếu căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt, quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, nghĩa là trong hoàn
cảnh này, các chủ thể trong quan hệ nào đó, xin đơn cử là trong quan hệ về bồi thường
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
5
SVTH: Trần Hoàng Việt
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
thiệt hại ngoài hợp đồng, mà các bên gồm bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có cùng
quốc tịch Việt Nam, nhưng việc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là hoàn toàn ở nước ngoài (hành vi gây thiệt hại, hậu quả của hành vi gây thiệt
hại ở nước ngoài).
+ Thứ ba, ngoài ra quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài còn được
hiểu là quan hệ mà tài sản có liên quan đến quan hệ đó đang ở nước ngoài.
trên nền tảng những nguyên tắc đặc thù sau đây.
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
6
SVTH: Trần Hoàng Việt
(3)
(4)
(5)
Điều 5 Chương II Bộ luật dân sự 2005. Nguyên tắc bình đẳng.
Khoản
2Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Điều 406 Bộ luật tố
tụng dân sự
2004. Quyền, nghĩa vụ
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________ cá nhân, cơ quan, tổ
tố tụng của
chức nước
1.2.1.1. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ
ngoài.
dần
sự
có yếu tổ nước ngoài
Xem
phân
của các chủ thể trong những quan hệ là không tránh khỏi, trên phương diện pháp luật
cũng không là ngoại lệ, các vấn đề giống nhau được các hệ thống luật khác nhau điều
chỉnh, ta gọi đó là xung đột pháp luật3 4 (5), đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng trên hệ
thống pháp luật của mình những qui phạm xung đột để áp dụng giải quyết các vấn đề
phát sinh, chính điều này nói lên các quốc gia đã thừa nhận là pháp luật nước ngoài có
thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh, trong đó có các quan hệ thuộc
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
7
SVTH: Trần Hoàng Việt
(6)
(7)
Khoản 1 Điều 759. Áp dụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp
luật nước
ngoài và tập quán quốc
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
tế. Bộ luật
dần sự 2005
Xem
thêmViệt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________ Khoản 3 Điều 759 Bộ
luật dân sự
2005.
đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Thực tế cho thấy, vấn đề áp dụng pháp luật
áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
<7>
Cho nên, điều này có nghĩa là một
khi việc áp dụng pháp luật của một nước khác vào quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài, cụ thể là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà hậu quả
của việc áp dụng pháp luật nước ngoài đó trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ xã
hội, trật tự công cộng thì luật nước ngoài đó không được áp dụng để giải quyết.
Như vậy, áp dụng luật nước ngoài và điều ước quốc tế vào quan hệ bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng là nguyên tắc cơ bản, việc áp dụng là thừa nhận và đảm bảo
nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các hệ thống pháp luật, điều này có 6 7
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
8
SVTH: Trần Hoàng Việt
(8)
Khoản 3 Điều 2. Hiệu lực của Bộ luật dân sự 2005.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự quốc tế. Tuy
riêng, tư pháp quốc tế có thể áp dụng các nguyên tắc khác làm cơ sở cho việc giải
quyết các vấn đề phát sinh có liên quan. 8
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
9
SVTH: Trần Hoàng Việt
(9)
Xem phân
Mục
tích
Khoản
2
Điều
773.
Bồi
thường
thệt
Luật quốc tế, hệ thuộc luật quốc tịch được áp dụng như một trong những biện pháp
giúp giải quyết có hiệu quả khi có xung đột pháp luật, bởi vì nó chỉ ra hệ thống pháp
luật được áp dụng đối với những loại quan hệ mà tư pháp điều chỉnh, nguyên tắc áp
dụng hệ thuộc quốc tịch cũng nhằm thể hiện tối đa quyền bảo hộ công dân của một
nước khi chính công dân của nhà nước đó tham gia vào quan hệ quốc tế.
Trong thực tiễn các nước, hệ thuộc luật quốc tịch thường được áp dụng ở hầu hết
các nước ở Âu Châu như : Pháp, Đức, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và một số
nước khác như Nhật Bản, Cuba...Ở Việt Nam, hệ thuộc luật quốc tịch được xem xét
giải quyết trên nhiều khía cạnh của quạn hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, cụ thể như về
điều kiện kết hôn, về năng lực của cá nhân là người nước ngoài, trong trường hợp xét
năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài, tại khoản 1 Điều 761 Bộ
luật dân sự quy định: “1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài
được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. ”, hoặc áp dụng
nguyên tắc hệ thuộc luật quốc tịch để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra
bởi tàu bay, tàu biển, một ví dụ điển hình là tại Khoản 2 Điều 773 Bộ luật dân sự về
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài: “ Việc bồi thường thiệt hại
do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc biển cả được xác định theo
pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về
hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có quy định khác<9> ”, đây là cách thức giải quyết về bồi thường thiệt hại có yếu
tố nước ngoài gây ra ở không phận quốc tế mà luật Việt Nam xét về quốc tịch của tàu
bay, tàu biển để giải quyết. Đây là nguyên tắc cũng được Việt Nam thỏa thuận trong
các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với nhiều quốc gia, Hiệp định tương trợ
tư pháp giữa Việt Nam - Lào tại Khoản 1 Điều 17 : “Năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của nước kí kết mà cá nhân đó là công dân ”,
như vậy trong trường hợp cần xem xét về năng lực pháp luật hay năng lực hành vi của
cá nhân, hai nước thỏa hiệp sẽ căn cứ vào luật của nước mà công dân mang quốc tịch. 9
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
một khi hành vi gây thiệt hại trên lãnh thổ một quốc gia này, nhưng hậu quả của hành
vi đó lại hiện diện trên một quốc gia khác, thì việc xác định luật áp dụng là điều khó
khăn, và khó thống nhất quan điểm. Trên thế giới, pháp luật một số nước quy định nơi
vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (Italia, Hy lạp). Theo quan điểm
này, thì khi giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng có yếu tố nước ngoài, các cơ quan Tư pháp của các nước này sẽ áp dụng hệ
thuộc luật nơi có hành vi gây thiệt hại xảy ra. Trong khi đó, pháp luật một số nước
khác lại quy định nơi vi phạm pháp luật là nơi phát sinh hậu quả thực tế do hành vi gây
thiệt hại gây ra (Anh, Hoa Kỳ). Như vậy, ở những nước theo quan điểm này, người ta
sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi có hiện diện của hậu quả thiệt hại để xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ket hợp cả hai quan điểm nêu trên, pháp
luật của một số nước (Đông âu) quy định áp dụng cả hai loại pháp luật. Đó là pháp luật
của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc pháp luật của nước nơi phát sinh hậu
quả thực tế tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể pháp luật nước nào có lợi hơn khi áp dụng.
Ở Việt Nam, nguyên tắc này được qui định cụ thể trong một số văn bản quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ có khả năng phát sinh việc xác định luật áp dụng để
ràng buộc trách nhiệm của người có lỗi, chẳng hạn như Khoản 1 Điều 773 Bộ luật dân
sự qui định : “ Việc bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng được xác định theo pháp luật
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
11
SVTH: Trần Hoàng Việt
(10)
Xem phân tích Khoản 1 Điều 773 tại Chương 2 Mục 2.1.3.1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
hướng, tư pháp quốc tế ấn định cho mình những phương pháp đặc thù riêng, đưa ra
phương pháp giải quyết cụ thể các quan hệ phát sinh thuộc đối tượng điều chỉnh của
mình, bằng cách dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật cụ thể hay trực tiếp tiến hành
giải quyết trên các qui định cụ thể đã được thống nhất. Với cách thức giải quyết như
vậy, Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ thuộc phạm vi của mình bằng hai phương
pháp, đó là : phương pháp thực chất và phương pháp xung đột.
1.3.1. Phương pháp xung đột
Tư pháp quốc tế với những phương pháp điều chỉnh đặc thù phù hợp với các
quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của mình, trong đó phương pháp xung đột được biết
đến như một phương pháp đặc thù, phổ biến và quan trọng trong tư pháp. Với phương
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
12
SVTH: Trần Hoàng Việt
(11)
(12)
Xem Điều 761 Bộ luật dân sự 2005.
Xem Điều
tư
phápTrách nhiệm bồi thường
17 Hiệp định tương trợ
thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
giữa Việt Nam và Lào.
luật và năng lực hành vi, như vậy quy phạm xung đột còn được các quốc gia thỏa
thuận xây dựng để lựa chọn hệ thống pháp luật giải quyết các quan hệ trong tư pháp
quốc tế, các quy phạm trong trường hợp như vậy được gọi là quy phạm xung đột thống
nhất.
Như vậy, tư pháp quốc tế với phương pháp điều chỉnh đặc thù, cũng là phương
pháp đặc trưng của mình, phương pháp xung đột sử dụng quy phạm xung đột để dẫn
chiếu chọn hệ thống pháp luật của một nước có liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong
12
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
13
SVTH: Trần Hoàng Việt
11
(13)
Xem phân tích Phương pháp thực chất tại Mục 1.3.2. Chương 1.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
các quan hệ của tư pháp quốc tế để giải quyết, tỏ ra là phương pháp hữu hiệu, và được
xây dựng rộng rãi trong tư pháp của các nước, việc xây dựng hệ thống quy phạm xung
đột riêng lẻ của từng quốc gia tuy có những mặt tích cực nhất định, xong điều này
cũng gây không ít khó khăn, bởi vì cùng vấn đề có thể nhiều hệ thống pháp luật điều
chỉnh, và mỗi quốc gia lại hướng dẫn cách chọn luật khác nhau, lấy ví dụ như: quan hệ
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
14
SVTH: Trần Hoàng Việt
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
hàng không, Công ước Rô-ma năm 1933 về thống nhất các quy phạm quy định việc
bồi thiệt hại do tàu bay gây ra v.v...Ngoài ra các quy phạm thực chất thống nhất còn
tồn tại dưới dạng các tập quán quốc tế như : FOB, CIF, v.v...Tuy hiệu quả trong việc
giải quyết trực tiếp và nhanh chóng các tranh chấp trong tư pháp quốc tế, nhưng hiện
nay các quy phạm thực chất trên thực tế chưa được các nước ký kết rộng rãi, và điều
này cũng chưa tương xứng với nhu cầu của giao lưu quốc tế, bởi vì lợi ích của các
nước là khác nhau, bên cạnh đó trình độ phát triển, phong tục, tập quán, truyền thống
lịch sử của từng nước là không giống nhau...
Vì việc điều chỉnh bằng phương pháp thực chất, đặc biệt là phương pháp thực chất
thống nhất, tuy hiệu quả của phương pháp này là không thể chối cải, tuy nhiên hiện
nay, phương pháp này chưa được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ của tư
pháp, chủ yếu sử dụng các quy phạm xung đột nhằm hướng đến các quy phạm thực
chất do từng nước xây dựng để giải quyết cho các vấn đề phát sinh, vì vậy hai phương
pháp này luôn đi đôi và bỗ trợ cho nhau trong việc giải quyết các vấn đề của tư pháp
quốc tế, bởi vì hệ thống pháp luật được chọn do phương pháp xung đột mang lại chính
là các qui phạm thực chất giải quyết triệt để quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các
bên.
1.4.
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
1.4.1. Luật quốc gia
Trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tư pháp quốc tế sử
dụng phương pháp xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của một nước liên quan
để giải quyết quyền và nghĩa vụ, với phương pháp đặc thù này, tư pháp quốc tế gián
tiếp thừa nhận luật thực chất của một nước là nguồn luật điều chỉnh của mình, đây là
nguồn quan trọng và phổ biến của tư pháp quốc tế, luật pháp của mỗi quốc gia (còn
gọi là luật Quốc nội) là nguồn của tư pháp quốc tế với một hệ thống các văn bản pháp
luật chứa đựng các nguyên tắc và phương pháp giải quyết các quan hệ phát sinh trong
tư pháp quốc tế. Cho đến nay, nguồn luật quốc gia, là nguồn chủ yếu của tư pháp quốc
tế, bởi vì đại bộ phận các quy phạm của tư pháp quốc tế là các quy phạm xung đột,
trong đó các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế chủ yếu do từng quốc gia xây
dựng và tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật, tập quán của quốc gia, như:
Hiến pháp, các Bộ luật, các văn bản dưới luật.. .íl4).
Trong đời sống thực tại, các quan hệ ngày càng trở nên mở rộng, việc giao lưu quốc
tế là xu thế tất yếu, kéo theo các quan hệ pháp lý không còn nằm trong khuôn khổ điều
chỉnh của luật Quốc nội, để bảo hộ lợi ích cho các chủ thể trong nước, cũng như hòa
nhập chung vào đời sống quốc tế, luật trong nước hướng việc điều chỉnh ra ngoài
phạm vi các quan hệ trong nước, đó là các quan hệ phát sinh không thuộc phạm vi của
một quốc gia, các quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Trên thế giới, ở các nước như : Hungari, Balan, Áo, Thụy sỹ, Séc, Nam tư
V.V...CÓ
nguồn luật điều chỉnh các quan hệ của tư pháp quốc tế được quy định thành Bộ luật tư
pháp quốc tế riêng. Ở Việt Nam, theo xu hướng đối ngoại toàn diện, và theo đướng lối
đối ngoại của Đảng và Nhà Nước ta, việc điều chỉnh của các quy phạm pháp luật phù
hợp và bắt kịp với sự vận động của các quan hệ trong giao lưu quốc tế là việc cần thiết.
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh xu hướng đối ngoại, cũng là điều chỉnh các quan
Xem Điều
Hiến pháp
1992.
Xem điều 81nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất Hiến pháp 1992.
trong nước(lí); Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đàu tư vốn,
công nghệ vào Việt Nam phù họp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc
tế, bảo đảm quyền sở hửu hợp pháp đối vói vốn, tài sản và các quyền lợi ích khác của
tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc
hửu hóa15 (16); Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài(l7) 18; Người nước ngoài định cư ở Việt Nam phải tuân theo pháp Hiến
pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền
lợi chính đáng theo pháp luật Việt Namíl8).
Ngoài ra, trong việc điều chỉnh các quan hệ của tư pháp, trên cơ sở các quy định
của Hiến pháp làm nền tảng, các Bộ luật và văn bản luật cũng được ghi nhận là nguồn
của tư pháp quốc tế : Bộ luật dân sự 2005; Luật quốc tịch 2008; Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (các
năm 1987, sửa đổi và bổ sung 1990 - 1992, 1996, 2000), Luật thuế xuất nhập khẩu;
Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005; Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006; Luật hải
quan năm 2001 và luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật hải quan năm 2005
v.v...
Các văn bản pháp quy dưới luật được Nhà nước Việt Nam ban hành cũng được
xem là nguồn của tư pháp quốc tế, trong đó có các Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ
quốc hội ban hành, gồm các : Pháp lệnh về lãnh sự 1990; Pháp lệnh hải quan 1990;
Pháp lệnh thi hành án dân sự 2009; Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của
người nước ngoài tại Việt Nam 1992; Pháp lệnh về điều ước quốc tế 1989 v.v...Cùng
với các Pháp lệnh do ủy ban thường vụ quốc hội ban hành, các văn bản hướng dẫn
khác như : Nghị định, Quyết định, Nghị quyết, Điều lệ, Quy chế v.v...nhằm quy định
chi tiết và hướng dẫn việc thi hành các Bộ luật và pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ có
yếu tố nước ngoài, đây là những văn bản có vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng
(Điều 4), Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi và bổ sung 2010 (tại chương
XI).. .Bên cạnh các quy phạm xung đột riêng lẻ được các quốc gia xây dựng là nguồn
của tư pháp quốc tế, thì các quy phạm xung đột thống nhất tồn tại trong điều ước quốc
tế được các quốc gia ký kết với nhau vừa là nguồn của luật quốc gia, và cũng là nguồn
quan trọng của tư pháp quốc tế. Ở Việt Nam, phải kể đến các Điều ước quốc tế chứa
đựng các quy phạm xung đột thống nhất như: Hiệp định tương trợ Việt - pháp, Hiệp
định Việt - Pháp về nuôi con nuôi năm 2000, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Nga
năm 1999, và các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết với các nước như
Lào, Trung Quốc, Mông cổ...
Như vậy, nguồn của tư pháp quốc tế trong luật của Việt Nam là cả một hệ thống đa
dạng các văn bản từ Hiến Pháp, Bộ luật, Luật, các pháp lệnh, với các văn bản dưới luật
và còn có cả các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các quốc gia khác...hệ
thống nguồn luật này chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong
tư pháp quốc tế, và là nguồn quan trọng của tư pháp Việt Nam.
Ở các nước tư bản phát triển thì các văn bản pháp quy là nguồn của tư pháp quốc
tế có ý nghĩa kém hơn so với án lệ, những quy phạm Tư pháp quốc tế được ghi nhận
trong các văn bản pháp quy khác nhau, hoặc được quy định thành một hệ thống Bộ
luật riêng về tư pháp quốc tế. Trong luật Pháp, Bộ luật dân sự 1804 (Bộ luật
Napôlêông) có một số điều quy định về quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài và
một số văn bản pháp quy khác.
Ở Cộng hòa liên bang Đức thì cho tới năm 1986 thi hành Bộ luật dẫn về dân sự quy
định một hệ thống các quy phạm xung đột (từ Điều 7 đến Điều 31), nhưng cũng còn
rất nhiều vấn đề chưa được quy định cụ thể. Từ 1/9/1986 Bộ luật về tư pháp quốc tế
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
18
SVTH: Trần Hoàng Việt
về điều ước song phương, trước tiên phải kể đến các Hiệp định tương trợ và hợp tác tư
pháp, hiện tại Việt Nam đã ký kết điều ước với khoản 17 quốc gia trên lĩnh vực này, cụ
thể như : Đức năm 1980; Nga năm 1981; Séc và Slovakia năm 1982; Cuba năm 1984;
Hungari 1985; Bungari 1986; Balan 1993... việc ký kết sẽ ngày càng được chú trọng
và mở rộng. Việc ký kết các Hiệp định dựa trên các tiêu chí như : Công nhận và bảo
đảm việc thực hiện tôn trọng các quyền nhân thân và tài sản của công dân (cũng như
pháp nhân) của quốc gia này trên lãnh thổ quốc gia nước kia trên cơ sở nguyên tắc tôn
trọng bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia với nhau, chú trọng đến việc hợp tác
giữa các cơ quan tư pháp và bảo vệ pháp luật, quy định thẩm quyền của tòa án của các
bên áp dụng pháp luật, vấn đề công nhận và cho thi hành án dân sự, dẫn độ tội
phạm...Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã ký kết hàng loạt các hiệp định lãnh sự với
nước ngoài như : Nga 1978; Balan 1979; Hungari 1979; Môngcổ 1979; Cuba 1981;
Lào 1985...Và không ít các Hiệp định thương mại và hàng hải với các quốc gia khác, 19
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
19
SVTH: Trần Hoàng Việt
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế theo pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế______________________________________________________
nhằm củng cố và tăng cường phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại mọi mặt với các
nước, các Hiệp định hên lĩnh vực lao động; hợp tác khoa học; kỹ thuật; đào tạo chuyên
gia; đầu tư nước ngoài...cũng được Việt Nam ký kết với các quốc gia liên quan đến
các quan hệ của tư pháp quốc tế. Với xu thế hội nhập toàn cầu như đã nêu, nước ta đi
sâu ký kết các Hiệp định đa phương, năm 1981 Việt Nam gia nhập công ước Pari 1883
về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, gia nhập Hiệp định Madrit về đăng ký quốc tế
GVHD: Diệp Ngọc Dũng
20
SVTH: Trần Hoàng Việt