ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUÁCH THỊ HƯƠNG GIANG
CHẾ TÀI ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
6
1.1.
Khái niệm chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Chế tài hành chính
25
1.3.2.
Chế tài hình sự
27
1.3.3.
Chế tài dân sự
32
1.3.4.
Mối quan hệ giữa các hình thức chế tài
36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ TÀI
ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
41
2.1.
Nguồn của pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh
41
2.1.1.
Luật Cạnh tranh
41
2.1.2.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
42
2.1.3.
Bộ luật Dân sự
43
2.1.4.
3.1.1.
Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
89
3.1.2.
Yêu cầu hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
91
3.2.
Những định hướng phát triển và hoàn thiện pháp luật về chế
tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
94
3.2.1.
Xu hướng pháp luật và việc sử dụng các chế tài đối với hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước trên thế giới
94
3.2.2.
Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế tài đối với những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
98
3.3.
Những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
99
3.3.1.
Hoàn thiện thể chế pháp lý, thiết lập chế tài đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh một cách có hệ thống và đồng bộ
99
3.3.2.
Nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc quản lý hoạt
động cạnh tranh và thực thi pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh
thị trường, không thể tránh khỏi tình trạng một số doanh nghiệp bị đào thải do
không kịp thích ứng hoặc không thể đối phó. Vì thế, bên cạnh những "nghệ
thuật" cạnh tranh, các doanh nghiệp cũng không loại trừ "thủ thuật". Hậu quả
do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra không chỉ ảnh hưởng đến
lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng
đến lợi ích của người tiêu dùng và trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 (sửa đổi) đã khẳng định: "Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp
pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý
nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của
người sản xuất và người tiêu dùng". Ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật Cạnh
tranh đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm
2
2005. Với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại bỏ các biểu hiện
không lành mạnh trên thị trường, điều chỉnh mặt trái của cạnh tranh, đạo luật
này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sự lành mạnh và khả năng phát
triển của nền kinh tế trong nước, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi
trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử, khuyến khích các chủ
thể kinh doanh cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh
doanh và thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, hiệu quả.
Luật Cạnh tranh đã pháp điển hoá các quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh và đã có những quy định xử lý vi phạm pháp luật về cạnh
tranh. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực hiện, Luật Cạnh tranh vẫn chưa đạt
được hiệu quả như mong muốn. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
sự đa dạng hoá của các thành phần kinh tế cùng với việc hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nhiều hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đã phát sinh mà chưa có biện pháp đấu tranh có hiệu quả. Các chế tài
vẫn chưa đủ mạnh để kiểm soát và loại bỏ các hành vi cạnh tranh không lành
Hiền… Các bài đăng trên tạp chí như: "Thực thi pháp luật cạnh tranh trong
viễn thông: Hiểu thế nào cho đúng?" của TS. Phan Thảo Nguyên, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 12(224)/2006; "Về thoả thuận hạn chế cạnh tranh"
của tác giả Trần Thị Nguyệt, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1(237)/2008;
"Hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt
động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhìn từ góc độ những bất
cập và yêu cầu đặt ra", của tác giả Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 4(240)/2008; "Bàn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi
có hành vi gây thiệt hại cho môi trường cạnh tranh" của TS. Dương Anh Sơn
và ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1(50)/2009… Tuy
nhiên, các công trình và các bài viết nêu trên chỉ tiếp cận ở góc độ khái quát
về khoa học pháp lý đối với quan hệ cạnh tranh nói chung và chống cạnh
tranh không lành mạnh nói riêng, hoặc nghiên cứu quan hệ cạnh tranh trong
từng lĩnh vực, dưới những góc độ khác nhau. Nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách tổng thể và chuyên sâu về các chế tài xử lý vi phạm
4
pháp luật cạnh tranh, đánh giá những bất cập của hệ thống các chế tài và cơ
chế đảm bảo thực hiện để đề xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
ngăn chặn và xoá bỏ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong các quan
hệ kinh tế đang diễn ra trên thị trường Việt Nam hiện nay.
Đề tài "Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
theo quy định của pháp luật Việt Nam" có thể xem là công trình chuyên
khảo đầu tiên, với cấp độ là Luận văn thạc sỹ Luật học.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
và các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo quy định của pháp
luật Việt Nam, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật cạnh tranh và chống cạnh
tranh không lành mạnh. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành
vi phạm, các giải pháp hạn chế, tiến tới xoá bỏ các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trên thị trường Việt Nam, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng,
công bằng, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế tài đối với các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế tài đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
6
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ CHẾ TÀI
ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1. KHÁI NIỆM CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
1.1.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là một hiện tượng xã hội diễn ra trên thị trường giữa các
chủ thể kinh doanh với nhau, biểu hiện về mặt hình thức là sự ganh đua, kình
địch giữa các doanh nghiệp nhằm mục đích tranh giành thị trường mua hoặc
bán sản phẩm. Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường
dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu và
mong muốn của người tiêu dùng. Khi có cạnh tranh, không một chính phủ
nào cần phải quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì, với số lượng,
chất lượng và giá cả như thế nào. Quan hệ cạnh tranh trực tiếp quy định
những vấn đề đó với các doanh nghiệp. Như vậy, cạnh tranh chỉ tồn tại trong
nền kinh tế thị trường.
Các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh là một
nội dung quan trọng trong pháp luật cạnh tranh. Dưới góc độ pháp lý, cạnh
tranh không lành mạnh được pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia
định nghĩa khác nhau. Theo Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp năm 1883 thì bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với hoạt động thực tiễn
trung thực, thiện chí trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 10bis - được bổ sung vào Công ước
từ năm 1900 và được sửa đổi lần cuối theo văn bản Stockholm năm 1967).
Như vậy, tiêu chí đánh giá tính lành mạnh hay không lành mạnh của
Công ước về hành vi cạnh tranh là "hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí".
8
Đó là một tiêu chí khó định lượng và có thể thay đổi, có những khác biệt giữa
các quốc gia, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, quan niệm, tập quán…
Tại Bỉ và Luxembourg, tiêu chí đó là "thông lệ thương mại trung thực"; tại
Tây Ban Nha và Thuỵ Sĩ là "nguyên tắc ngay tình"; tại Italia là "tính chuyên
nghiệp đúng đắn"; tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan là "đạo đức kinh doanh".
Luật Cạnh tranh của Mông Cổ quy định, hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bao gồm tất cả các hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên
thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh
nghiệp. Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hoà liên bang Đức
năm 1909 (sửa đổi lần cuối cùng ngày 23/7/2002) lại quy định: "Người nào
trong giao dịch kinh doanh vì mục đích cạnh tranh mà thực hiện các hành vi
trái với thuần phong mỹ tục, thì có thể bị yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm
và bồi thường thiệt hại". Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Trung
Quốc xác định cạnh tranh không lành mạnh là các hoạt động của doanh nghiệp,
của các chủ thể kinh doanh thực hiện trái pháp luật, gây thiệt hại cho quyền lợi
chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế - xã hội.
Luật Cạnh tranh của Việt Nam đưa ra định nghĩa:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh
các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
Điều 2 của Luật Cạnh tranh đã xác định rõ đối tượng áp dụng của Luật
này là các tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) thuộc mọi
thành phần kinh tế khác nhau, bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản
phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực
thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
cũng như các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam.
Đặc điểm này phản ánh phạm vi đối tượng thực hiện các hành vi cạnh
tranh và cạnh tranh không lành mạnh, xảy ra trong mọi lĩnh vực kinh tế, trên tất
cả các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh. Trên thị trường
cạnh tranh, hành vi kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là hành vi
10
cạnh tranh trong mối quan hệ tương quan với doanh nghiệp khác. Mặt khác, hoạt
động kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi và được thực hiện trên thị
trường. Như vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải là những hành vi
được các doanh nghiệp thực hiện trên thị trường, trái với các chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh và được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi.
Tuy nhiên, quy định của Luật Cạnh tranh đã không có sự thống nhất.
Như đã trích dẫn ở trên, chủ thể thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh bao gồm các doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt
Nam. Nhưng định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại nêu:
"Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp", nghĩa là đã loại bỏ mất một đối tượng chủ thể của hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được
liệt kê bao gồm cả hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi trái
với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
Đặc điểm này cho thấy bản chất không lành mạnh của hành vi và dựa
vào đó để làm cơ sở phân biệt giữa cạnh tranh lành mạnh với cạnh tranh
ta coi đạo đức như là một vấn đề nằm ngay trong bản thân hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế thị trường chưa phát triển như ở Việt Nam thì các
thông lệ, tập quán thương mại chưa đủ thời gian và trình độ để tạo thành các
chuẩn mực đạo đức kinh doanh, được chấp nhận và thực hiện thống nhất như
những quy tắc có tính bắt buộc.
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng.
Quyền tự do kinh doanh đã được Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 57
và cạnh tranh là một bộ phận cấu thành nên nội hàm của quyền tự do kinh
12
doanh. Điều 4 Luật Cạnh tranh quy định: "Doanh nghiệp được tự do kinh
doanh trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp
pháp trong kinh doanh". Tất nhiên, để được Nhà nước bảo hộ, việc cạnh tranh
đó phải thực hiện trên nguyên tắc trung thực, không xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp,
của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật Cạnh tranh.
Như vậy, khi một hành vi cạnh tranh được thực hiện nhưng không
theo nguyên tắc nói trên, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp
khác hoặc của người tiêu dùng, thì hành vi cạnh tranh đó được coi là không
lành mạnh. Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là đã có thực và xác định được
nhưng cũng có thể là thiệt hại có nguy cơ xảy ra (tiềm năng) nếu không có
biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Pháp luật cạnh tranh của Đức cấm "các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ
cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác" [8].
Pháp luật của Thái Lan cũng có quy định tương tự: "thương nhân không được
tiến hành các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình đẳng, không
trên thương trường. Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng sử dụng các biện
pháp công bằng, bình đẳng và lành mạnh để chống lại đối thủ cạnh tranh, thu
hút hệ thống khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, thu nhiều lợi nhuận, duy trì
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong thực tế kinh doanh, đã không
ít doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh bị coi là "chơi xấu", gây
phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác và tác
động xấu đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Trong những trường hợp đó, nếu các doanh nghiệp bị thiệt hại chứng
minh được tổn thất của mình là do hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
đối thủ gây ra thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp chế tài đối với bên vi phạm.
14
Luật Thương mại lành mạnh và những quy định về độc quyền của
Hàn Quốc quy định cụ thể các chế tài áp dụng đối với từng hành vi vi phạm
nhất định liên quan đến cạnh tranh, bao gồm: đình chỉ hành vi, công bố công
khai về hành vi vi phạm, phạt tiền, bồi thường thiệt hại hoặc phạt tù.
Theo Luật Cạnh tranh Thổ Nhĩ Kỳ, mọi thoả thuận, hành vi cấu kết
của các doanh nghiệp, các quyết định và hành vi của các hiệp hội doanh
nghiệp có tác động hoặc ảnh hưởng gây kìm hãm, bóp méo hoặc hạn chế cạnh
tranh trên thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ một cách trực tiếp hay gián tiếp,
đều là bất hợp pháp và bị nghiêm cấm. Khi xảy ra hành vi vi phạm, cơ quan
có thẩm quyền sẽ yêu cầu doanh nghiệp hoặc hiệp hội doanh nghiệp chấm dứt
hành vi vi phạm, thông báo về các biện pháp tiến hành hay không tiến hành
để duy trì cạnh tranh và khôi phục lại tình trạng như trước khi có hành vi vi
phạm; buộc nộp phạt, bồi thường thiệt hại.
Về vấn đề chống độc quyền và cạnh tranh tự do, Luật Cạnh tranh
thương mại của Vương quốc Thái Lan quy định: Trong trường hợp thương
nhân vi phạm các quy định của Luật này, cơ quan có thẩm quyền quản lý cạnh
tranh có quyền ra lệnh bằng văn bản hướng dẫn thương nhân tạm hoãn, đình
Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan hệ xã hội được pháp luật
cạnh tranh điều chỉnh, chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được chia thành nhiều loại: chế tài hành chính, chế tài hình sự và chế tài dân
sự. Việc áp dụng chế tài phụ thuộc vào những đặc điểm của lợi ích mà pháp
luật cần bảo vệ, tính chất của hành vi phạm pháp, thiệt hại do các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh gây ra.
Ngoài đặc điểm chung của chế tài, như: chỉ áp dụng khi có vi phạm
pháp luật xảy ra; là hình thức cưỡng chế của Nhà nước đối với chủ thể vi
phạm; chủ thể vi phạm phải gánh chịu một hậu quả bất lợi nhất định, chế tài
đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam còn có
những đặc điểm riêng:
16
- Chủ thể bị áp dụng chế tài là các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề
hoạt động ở Việt Nam.
Như đã xác định ở trên, đối tượng chủ thể của quan hệ cạnh tranh
được quy định tại Điều 2 Luật Cạnh tranh bao gồm các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế và các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam,
trong tất cả các ngành nghề kinh tế, các khâu, các công đoạn của quá trình đầu
tư. Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, nếu các chủ thể đó vi
phạm các quy định về cạnh tranh lành mạnh thì sẽ bị áp dụng chế tài xử lý.
- Bên bị áp dụng chế tài phải gây ra thiệt hại cho bên kia khi thực hiện
hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Bản thân hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã mang đặc điểm là
luôn gây ra một thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại (thiệt hại ở dạng tiềm năng)
cho chủ thể kinh doanh khác, tác động xấu đến môi trường kinh doanh và trật
tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Như vậy, thiệt hại là một dấu hiệu để nhận
diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, thiệt hại đó phải do
hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh
tranh gây ra, khi đó chủ thể thực hiện hành vi mới phải chịu một hình thức
vào các hành vi kinh doanh không bình đẳng vi phạm những quy định về
kinh doanh không lành mạnh" [6. Điều 24-2]. Luật Cạnh tranh thương mại
của Thái Lan cho phép "người bị hại do những hành vi vi phạm quy định về
độc quyền có quyền đệ trình đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại từ người vi
phạm" [7. Điều 40]. Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hoà
Liên bang Đức quy định: "Người nào trong giao dịch kinh doanh vì mục đích
cạnh tranh mà thực hiện các hành vi trái với thuần phong mỹ tục, thì có thể bị
yêu cầu chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại" [8].
Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng có quy định đảm bảo cho các
doanh nghiệp quyền được khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh về hành
vi vi phạm của đối thủ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
18
Như vậy, các quy phạm pháp luật cạnh tranh cùng với những chế tài
của nó được các quốc gia xây dựng đã tạo điều kiện và cơ chế đảm bảo cho
các chủ thể kinh doanh tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trừng
phạt các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh, đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của các doanh nghiệp và trật tự thị trường.
Các chế tài còn có vai trò ngăn chặn các doanh nghiệp thu lợi bất
chính bằng việc thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, kiềm chế các
chủ thể kinh doanh thực hiện hành vi trái pháp luật, nâng cao nhận thức của
họ về "đạo đức trong kinh doanh", đảm bảo chữ "tín", khích lệ sự năng động,
tự chủ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp.
(ii) Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (khách hàng).
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp luôn gắn liền với thị
trường khách hàng, buộc các doanh nghiệp phải luôn xác định: sản xuất cái
gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Khách hàng thường có xu hướng
lựa chọn các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích và
túi tiền của mình. Điều đó sẽ định hướng cho các doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Nói cách khác, khách hàng là
do kinh doanh của các doanh nghiệp. Pháp luật cạnh tranh nói chung và
những thiết chế chế tài của nó đã bảo vệ thị trường và quan hệ cạnh tranh
bằng cách chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trong thị trường tự do, các doanh nghiệp không chịu sự chi phối nào từ
phía Nhà nước và các doanh nghiệp khác. Các quy luật kinh tế khách quan, trong
đó có quy luật cạnh tranh, sẽ tự thân tác động và quyết định các quan hệ kinh tế,
quyết định đến hoạt động của các doanh nghiệp. Vì thế, trên thị trường thực tế đã
nảy sinh rất nhiều tiêu cực phát sinh từ cạnh tranh. Bằng các thủ đoạn bất chính,
những toan tính không phù hợp với truyền thống kinh doanh lành mạnh, nhiều
doanh nghiệp đã thực hiện các hành vi xâm hại đến trật tự kinh doanh, gây ra
hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng.
20
Thông qua việc loại trừ các hành vi phản đạo đức kinh doanh, giành
giật lợi nhuận một cách bất hợp pháp của các doanh nghiệp, chế tài đối với
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã góp phần vào việc bảo vệ quyền
tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường, bảo vệ môi
trường cạnh tranh và các quan hệ thị trường và đẩy nhanh tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
1.2. CĂN CỨ ÁP DỤNG CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH
Căn cứ áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
cũng như căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý nói chung, bao gồm: hành vi vi
phạm (hành vi cạnh tranh không lành mạnh), thiệt hại do hành vi gây ra, mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại, lỗi thực hiện hành vi.
1.2.1. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Như đã phân tích và luận giải ở trên, hành vi cạnh tranh có bản chất là
hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh
nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh
giả tạo.