Pháp luật về tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Luận văn ThS. Luật - Pdf 28



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CHU THỊ GIANG PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG CẠNH TRANH ĐỐI VỚI
CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc
HÀ NỘI - 2012
3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ
tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN Chu Thị Giang


1.1.
Khái niệm pháp lý về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
5
1.1.1.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của
pháp luật Việt Nam
6
1.1.2.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới
13
1.2.
Nguồn của pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh
17
1.2.1.
Pháp luật tố tụng cạnh tranh của Việt Nam
17
1.2.2.
Pháp luật tố tụng cạnh tranh một số nước trên thế giới
19
1.3.
Tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh
22
1.3.1.
Khái niệm tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh
22
1.3.2.

Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và hậu quả pháp lý
33

Chƣơng 2: những bất cập trong tố tụng cạnh tranh đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
37
2.1.
Những bất cập trong các quy định pháp luật
37
2.1.1.
Quy phạm pháp luật nội dung
37
2.1.2.
Xung đột thẩm quyền
42
2.1.3.
Cơ quan quản lý cạnh tranh
43
2.1.4.
Vấn đề tranh tụng
46
2.1.5.
Chứng cứ
48
2.2.
Những bất cập trong các quy định về trình tự và thủ tục tố
tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
52
2.2.1.
Thụ lý hồ sơ khiếu nại

Hợp tác của cơ quan điều tiết ngành, tổ chức và doanh
nghiệp trong quá trình điều tra
69
2.3.3.
Nhận thức của doanh nghiệp, tổ chức ngành nghề về pháp
luật cạnh tranh
70

Chƣơng 3: phƣơng hƣớng và các giảI pháp nâng cao hiệu quả của
pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam
73
3.1.
Bảo đảm tính hệ thống của pháp luật tố tụng cạnh tranh đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam
73
3.2.
Hoàn thiện năng lực thể chế và khả năng thực thi pháp luật
cạnh tranh của Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam
79
3.3.
Bảo đảm tính phù hợp của pháp luật tố tụng cạnh tranh của
Việt Nam với pháp luật tố tụng cạnh tranh thế giới
85
3.4.
Nâng cao nhận thức cộng đồng về tố tụng cạnh tranh đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
86

KếT LUậN

sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
1.1
Cơ cấu quản lý của Cục quản lý cạnh tranh
26
1.2
Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh
35
8
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Điều 57 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
quy định: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật"
[22].
Điểm 1 Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng quy định: "Doanh nghiệp
được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền
cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh" [25].
Sản xuất hàng hóa, hoạt động kinh tế là hoạt động cơ bản để duy trì
đời sống vật chất của xã hội; cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất
hàng hóa, nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế. Việt Nam đang tiến lên xây
dựng nền kinh tế thị trường trong bối cảnh văn hoá pháp lý và văn hoá cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nền kinh tế Việt Nam
phát triển chưa cao lại tạo dung môi cho những hành vi cạnh tranh không lành
mạnh phát triển. Môi trường kinh doanh của Việt Nam chưa thực sự tạo ra sự

chung, cơ cấu của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, về mô hình pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh, từ đó kiến nghị cơ chế để thực thi có
hiệu quả pháp luật cạnh tranh. Tiến sĩ Bùi Nguyên Khánh với những nghiên
cứu hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập trên cơ sở mối
tương quan với pháp luật cạnh tranh của một số nước như Đức, Mỹ, các nước
ASEAN: "Những thách thức pháp lý đặt ra đối với việc thực thi nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 9, 2004; "Hiện đại hóa pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh của Cộng hòa Liên bang Đức trên nền tảng của quá trình hài hòa hóa
pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của Liên Minh Châu Âu", Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 11, 2004 Những nghiên cứu, đóng góp đã góp
phần hoàn thiện các chế định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, song 10
vấn đề tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh dường
như ít được quan tâm.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài: "Pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam", luận văn mục đích trước hết là
hệ thống một cách cơ bản về tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh tại các lĩnh vực kinh tế theo quy định của pháp luật Việt
Nam. Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu, đề ra một số giải pháp kiến nghị
nhằm hoàn thiện và nâng cao tính hiệu quả của pháp luật tố tụng cạnh tranh
đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật tố tụng cạnh tranh đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý
phát sinh trong tố tụng: Thành phần tham gia tố tụng cạnh tranh, các giai đoạn
của tố tụng cạnh tranh, vấn đề áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thời hạn,

cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả của
pháp luật tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam.
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỐ TỤNG CẠNH TRANH
ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1.1. KHÁI NIỆM PHÁP LÝ VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội" và Hiến pháp năm 1992 xác định: Đưa nền kinh tế nước ta phát triển
thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, nền kinh tế
Việt Nam đã chuyển mình, từng bước được thị trường hoá, cơ chế quản lý nền
kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính giảm dần, các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh và tập thể được thừa nhận, bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động.
Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới,
đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương
mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định chống đánh thuế
hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Năm 2007, Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chấp nhận các đòi hỏi về tự do hoá
thương mại. Kinh tế phát triển, quyền lợi của các nhóm người trong xã hội
trỗi dậy, đan xen và ràng buộc lẫn nhau kìm hãm mọi quá trình cải cách trong
nền kinh tế; tham ô, tham nhũng bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế
xã hội.
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, là

ích, doanh nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước
và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.
Khách thể của hành vi: Lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp
của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Mặt khách quan: Hành vi trong quá trình kinh doanh trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh. Đạo đức kinh doanh trên cơ
sở của hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung là một dạng đạo đức 14
nghề nghiệp có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh với các nguyên tắc và
chuẩn mực:
Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm
lời, trung thực trong chấp hành luật pháp; không thực hiện những dịch vụ có
hại cho thuần phong mỹ tục; trung thực trong giao tiếp với bạn hàng và người
tiêu dùng; không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử
dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, bán phá giá
theo lối ăn cướp; tôn trọng con người; tôn trọng cộng sự và dưới quyền; tôn
trọng khách hàng, đối thủ cạnh tranh,… Tùy từng ngành, nghề, theo khu vực
địa lý, khái niệm đạo đức kinh doanh lại có những nét đặc thù.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật Cạnh
tranh năm 2004 bao gồm:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
Xâm phạm bí mật kinh doanh;
Ép buộc trong kinh doanh;
Gièm pha doanh nghiệp khác;
Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
Phân biệt đối xử của hiệp hội;

nước. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện bởi chủ thể kinh doanh. Trong
cơ chế thị trường, việc tự do hình thành và xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ
là quyền của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, mọi hoạt động vật chất đều có
những quy luật nhất định, giá cả được hình thành dưới sự thúc đẩy của nhu
cầu, lợi nhuận và sự điều tiết của quy luật giá trị, quy luật cung, cầu trên thị
trường. Những hành vi bán hàng dưới hoặc bằng mức chi phí sản xuất đều 16
được coi là những toan tính phi kinh tế bởi doanh nghiệp thực hiện hành vi đã
chấp nhận hy sinh lợi nhuận, thậm chí là lỗ để chỉ nhằm chiếm lĩnh vi trí độc
quyền trên thị trường sản phẩm bằng cách loại bỏ các đối thủ cạnh tranh - phá
giá độc quyền; hoặc, mở rộng thị trường nhằm làm suy yếu đối thủ cạnh
tranh, qua đó mở rộng thị phần của mình - hành vi phá giá nhằm mở rộng thị
trường. Hành vi bán phá giá thực chất là hành vi lạm dụng ưu thế tài chính
của bên bán phá giá, dẫn đến thiệt hại trực tiếp cho bên bị cạnh tranh, cho
ngành hàng và cho người tiêu dùng.
Bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng giá hoặc hạ giá gây thiệt
hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác, của
người tiêu dùng và lợi ích của nhà nước. Đây là hành vi mang bản chất gian
dối bằng những thông tin không có thật về giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường gây rối hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động tiêu dùng của người
tiêu dùng, ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế. Doanh nghiệp tạo ra
thông tin gian dối hoặc chỉ loan truyền thông tin gian dối do người khác tạo ra
đều vi phạm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá.
Định giá sai để lừa dối người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân hợp tác
sản xuất, kinh doanh với mình; Tăng hoặc giảm giá giả tạo bằng cách thay đổi
số lượng, chất lượng, địa điểm giao nhận hàng hóa, dịch vụ. Đây cũng là hành
vi mang bản chất gian dối, chủ thể kinh doanh giảm giá nhưng không tôn
trọng nguyên tắc của việc giảm giá, không cung cấp thông tin về việc đồng

Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật cấm kinh doanh hoặc cấm
quảng cáo.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009
Sở hữu công nghiệp là một lợi thế trong thương mại, đặc biệt trong môi
trường kinh tế hiện đại, sở hữu công nghiệp ngày càng chiếm vị trí quyết định
tạo lợi thế cạnh tranh trong thương mại. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh 18
xuất hiện ở mọi lĩnh vực sở hữu công nghiệp, nó mang những đặc tính chung
của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và những biểu hiện riêng biệt của
lĩnh vực sở hữu trí tuệ với khách thể là quyền sở hữu công nghiệp; chủ thể có
thể là người không nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có thể do chính chủ thể
kinh doanh nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ, với tính độc quyền cản trở hoạt
động thương mại do xuất hiện mâu thuẫn giữa một bên là độc quyền cá nhân
và một bên là nguyên tắc tự do cạnh tranh, nhu cầu của xã hội trong việc sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho phát triển. Các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có thể liệt kê, gồm những hành
vi dưới đây:
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt
động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ.
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất,
tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về
điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều
ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn
hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ
sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu
nhãn hiệu và không có lý do chính đáng.

mật của tổ chức tín dụng cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật
kinh doanh của tổ chức tín dụng này; tiếp cận thông tin, thu thập thông tin
thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng này đang
làm các thủ tục hành chính nhà nước (ví dụ: Đăng ký thêm loại hình dịch vụ
ngân hàng), hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống thông tin bảo mật
của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về tổ chức tín dụng khác nhằm
mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình. 20
Đầu cơ dẫn đến lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng và thị trường tiền tệ.
Trên cơ sở các dấu hiệu cấu thành của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
theo Luật Cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức tín
dụng còn có thể kể đến như: ép buộc khách hàng trong kinh doanh; gièm pha
tổ chức tín dụng khác, gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; lạm dụng cơ chế lãi suất
trong cạnh tranh (ví dụ: Các tổ chức tín dụng đưa ra mức lãi suất huy động
tiền gửi trong dân cư ở mức chấp nhận lỗ để giành thị phần, hoặc Ngân hàng
nhà nước đã có chỉ thị về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán nhưng một số
ngân hàng vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc hoặc vẫn tìm cách lách quy định
này); phân biệt đối xử của hiệp hội.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dạng thức vô cùng đa
dạng lại được nhân lên cùng với bội số của các lĩnh vực, ngành nghề, đã tạo
nên một tập hợp đông đảo. Dựa vào các căn cứ khác nhau, có thể phân chia
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành các nhóm khác nhau. Căn cứ
vào đối tượng điều tra để xác định có hay không có hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, luận văn đề xuất phân chia hành vi cạnh tranh không lành mạnh
theo hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: Đối tượng điều tra là các thực thể hiện hữu, thông qua
việc phân tích các yếu tố cấu thành nên thực thể, từ đó xác định có hay không

Theo đó, cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 10bis là
bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và
thương mại, cụ thể:
Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình
thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của
người cạnh tranh; 22
Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng
gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh
của người cạnh tranh;
Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt
động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình
sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng hàng hoá.
Theo pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của các nước Châu Á
Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các nước Châu á như Nhật
Bản, Hàn Quốc và Đài Loan có sự tồn tại song song hai hệ thống quy định về
cạnh tranh không lành mạnh: Hệ thống gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ
và hệ thống nằm trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh.
Tại Nhật Bản, bên cạnh Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh năm
1993 được sửa đổi, bổ sung lần cuối vào tháng 6 năm 2005 quy định về hành
vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, quảng cáo gian dối,
gièm pha doanh nghiệp khác, xâm phạm tên miền Ủy ban Thương mại lành
mạnh. Quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh cũng ngăn cấm
một loạt các hành vi mang tính chất hạn chế cạnh tranh ở mức độ thấp như:
Phân biệt đối xử, từ chối giao dịch, bán kèm hàng hóa, giao dịch loại trừ, mua
hàng với giá thấp bất hợp lý, bán hàng với giá cao bất hợp lý, lạm dụng vị thế
giao dịch và can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp khác.
Theo pháp luật Hàn Quốc, hành vi cạnh tranh được điều chỉnh bởi hai

dối, một số hành vi hạn chế cạnh tranh như bán hàng dưới giá thành, áp đặt
điều kiện bất hợp lý, đấu thầu thông đồng, được coi là những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh.
Theo pháp luật cạnh tranh Thái Lan
Luật Cạnh tranh thương mại Thái Lan năm Phật lịch 2542 (năm
1999), điều chỉnh về hoạt động cạnh tranh trong thương mại. Trên cơ sở các 24
quy định về chống độc quyền, Luật gồm 08 chương quy định về Uỷ ban cạnh
tranh thương mại, Văn phòng Ủy ban thương mại, đồng thời, cụ thể hoá các
hành vi độc quyền, quy định trình thực thủ tục tố tụng áp dụng đối với hành vi
độc quyền. Theo đó, Luật không phân loại rõ rệt hai nhóm hành vi: Hành vi
hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, một số
hành vi độc quyền có mang ít nhiều biểu hiện của hành vi cạnh tranh không
lành mạnh:
Điều 28 cấm đối với thương nhân có hành vi thông qua quan hệ với
thương nhân nước ngoài làm mất đi cơ hội mua hàng hoá dịch vụ của người
dân có nhu cầu trực tiếp từ thương nhân nước ngoài.
Điều 29 cấm thương nhân tiến hành các hành vi gây thiệt hại, cản trở
hoặc hạn chế đối với hoạt động của những thương nhân khác, ngăn chặn
những thương nhân khác hoạt động kinh doanh hoặc buộc thương nhân khác
phải kết thúc hoạt động kinh doanh của mình.
Điều 53, thông qua việc quy định chế tài đối với các hành vi độc
quyền đã quy định cấm thương nhân có hành vi tiết lộ những thông tin, số liệu
liên quan đến thương nhân hoặc hoạt động của thương nhân, mà những thông
tin này thường không được phép lộ. Chế tài được áp dụng đối với chủ thể tiết
lộ thông tin và chủ thể tiếp nhận thông tin bị tiết lộ mà tiết lộ thông tin đó
theo cách có thể gây thiệt hại cho người khác.
Như vậy, các hành vi có tính chất độc quyền theo quan niệm của Thái

Khoản 4 Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm 2010 của Việt Nam
quy định rõ: "Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án" [31]. Việc giải

Trích đoạn Phỏp luật tố tụng cạnh tranh của ViệtNam Phỏp luật tố tụng cạnh tranh một số nƣớc trờn thế giớ Khỏi niệm tố tụng cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh khụng lành mạnh Cỏc nguyờn tắc tố tụng cạnh tranh Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status