Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
MỤC LỤC
1
SVTH: Nguyễn Mai Lan
1
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ST
T
1
2
3
TÊN VIẾT TẮT
GIẢI NGHĨA
DN
TNHH
QLCT
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Mai Lan
3
SVTH: Nguyễn Mai Lan
3
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
LỜI MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài
Luật Cạnh tranh có hiệu lực từ ngày 1/7/2005 đã đi vào đời sống kinh tế-xã hội,
tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế tham gia, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhằm
đáp ứng tốt hơn nữa những yêu cầu của thị trường cũng như phù hợp với thông lệ quốc
tế khi Việt Nam chính thức mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong
số những hành vi cạnh tranh được Luật điều chỉnh, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh nằm trong nhóm các hành vi bị cấm thực hiện.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, không thể phủ nhận vai trò
đặc biệt quan trọng của hoạt động quảng cáo.. Ở đâu có kinh tế, có cạnh tranh thì ở đó
có quảng cáo.Thị trường quảng cáo Việt Nam đang thực sự sôi động với sự tham gia
của nhiều loại hình quảng cáo, đến từ mọi loại thành phần doanh nghiệp, với các hình
thức và nội dung truyền tải ngày một đa dạng, hấp dẫn và phong phú. Đặc biệt, trong
đến nay hiệu quả mà nó mang lại chưa cao, những hành vi quảng cáo như so sánh, gian
dối gây nhầm lẫn .ngày càng diễn ra phổ biến, có phần tinh vi hơn và rất khó kiểm soát.
Những nguyên nhân đó bắt nguồn từ đâu và pháp luật của chúng ta đã điều chỉnh hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh này như thế nào. Cần phải có những
biện pháp nào để bảo vệ các doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như hiện nay. Việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh là rất cần thiết. Đồng
thời, thấy được rằng hoạt động quảng cáo đã có tầm ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển
của nền kinh tế thị trường nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
Và trong suốt thời gian thực tập tại công ty cổ phần công nghệ và thương mại
Mặt Trời Việt, một công ty chuyên về lĩnh vực quảng cáo, do đó em càng có Điều kiện
tốt hơn để hiểu sâu các vấn đề về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại đây.
Đó là lý do mà em đã chọn đề tài:“ Pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần công nghệ và
thương mại Mặt Trời Việt” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Tại Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực pháp luật về quảng cáo, đã có một số công
trình nghiên cứu về vấn đề này như luận văn thạc sĩ Luật học: “Điều chỉnh hoạt động
quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh cạnh tranh tại Việt Nam” của Đoàn
Tử Tích Phước, năm 2007; luận văn thạc sĩ Luật học: “ Pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam”, năm 2003. Trong đó, luận văn
“Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam”
ra đời trong bối cảnh Việt Nam chưa ban hành Luật Cạnh tranh. Do vậy, những quan
điểm và kết quả nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh thông qua định hướng xây dựng một đạo luật
cạnh tranh trong tương lai. Trong khi đó, luận văn “ Điều chỉnh hoạt động quảng cáo
trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh Việt Nam” ra đời năm 2007 khi đã xây dựng và
5
SV: Nguyễn Mai Lan
Khi nghiên cứu đề tài này, khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu dưới hai khía cạnh:
trước hết là đi sâu phân tích những quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo và thực trạng của việc áp dụng pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo tại công ty cổ phần công nghệ và
thương mại Mặt Trời Việt như thế nào. Trên cơ sở đó đề xuất và đưa ra một số kiến
nghị để hoàn thiện hơn về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng
cáo để góp phần hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời góp phần phát triển
kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
6
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu những quy định của
pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Thực trạng thực
hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi này tại công ty cổ phần công nghệ và
thương mại Mặt Trời Việt.
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về hành vi quảng cáo cạnh
tranh không lành mạnh của doanh nghiệp kể từ khi Luật cạnh tranh 2004 được ban
hành cho đến nay.
Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam nói chung và tại công ty cổ phần công nghệ và thương mại Mặt Trời Việt
Thông qua việc thu thập, phân tích thông tin trên cơ sở các số liệu thu được từ
các nguồn thứ cấp như Báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh... Từ việc phân
tích, thống kê các dữ liệu số liệu sẵn có nhằm đưa ra các kết luận về thực trạng thực
hiện hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp trên thị
trường. Khóa luận đã sử dụng phương pháp thống kê thường để rút ra được thực trạng
thi hành áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, khóa luận còn
sử dụng các nguồn bài báo cáo, nghiên cứu, sách báo để tạo nền tảng cơ sở cho việc
nghiên cứu về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp.
Qua việc nghiên cứu, tác giả sẽ tạo được tính mới và tính cấp thiết cho khóa luận.
6. Kết cấu khóa luận
Kết cấu luận văn ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung
chính được chia làm 3 chương:
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI
QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI QUẢNG
CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI MẶT TRỜI VIỆT.
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan
ban nghành, giáo viên hướng dẫn. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng trong quá trình
nghiên cứu đề tài nhưng do khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những sai sót. Do đó,em rất mong được sự đóng góp ý kiến và bổ sung của quý thầy, cô
để cho đề tài khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
8
SV: Nguyễn Mai Lan
Thứ nhất, nó là hành vi cạnh tranh trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà hành
vi này vi phạm nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh hay những quy định của pháp
luật về cạnh tranh. Đó có thể là vi phạm những thỏa thuận trong kinh doanh, một tập
quán kinh doanh mà những nhà sản xuất, kinh doanh đều hiểu và tuân theo hay đó là
những hành vi vi phạm những quy định rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh để thu lợi bất
chính, làm giảm uy tín của những đối thủ cạnh tranh hoặc có thể dẫn đến những đối thủ
cạnh tranh bị phá sản.
9
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
Thứ hai, nó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho nhà sản
xuất chân chính, người tiêu dùng hay gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước.
Điều này có thể thấy được thông qua những tác động trực tiếp của các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh gây ra như: làm uy tín của doanh nghiệp bị bôi nhọ dẫn
đến mất lòng tin của khách hàng vào sản phẩm, hàng hóa của mình hoặc hành vi đó sẽ
gây ra những thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, đến sự phát triển của nền kinh tế như
độc quyền sản phẩm, nâng giá quá cao…
1.1.1.2. Quảng cáo
Theo cách hiểu thông thường, quảng cáo là một hình thức truyền thông thu hút
sự chú ý của người xem, cung cấp thông tin và hàm chứa giá trị về giải trí nhằm tạo sự
phản hồi từ phía người tiêu dùng. Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được điều chỉnh bởi
hai loại văn bản pháp luật: các văn bản pháp luật về quảng cáo nói chung và các văn bản
quy định về quảng cáo thương mại.
Quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là một trong số các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, hiện nay khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận tại
Khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành
vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu
dùng”.
Nhìn chung định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận trong Luật
Cạnh tranh 2004 tương tự như Điều 10bis Công ước Paris và pháp luật các nước có nền
kinh tế thị trường trên thế giới, đây được đánh giá là khái niệm mở. Các nhà lập pháp
nước ta có sự học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm từ các nước có nền kinh tế phát triển và
nền kinh tế có sự phát triển tương đồng với nước ta.
Theo quan điểm của một số nước trên thế giới như Hiệp hội Hoa Kỳ (AMA) đưa
ra khái niệm quảng cáo “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin trong đó nếu rõ ý
đồ của quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của quảng cáo trên cơ sở thu phí
quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người tiêu dùng”. Khái niệm này được đưa
ra dựa trên sự phát triển thực tại của nền kinh tế và hoạt động quảng cáo tại nơi đó. Còn
ở Việt Nam thì đưa ra khái niệm quảng cáo tại Điều 4 Pháp lệnh 39/2001/PLUBTVQH10 quy định “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm có dịch vụ sinh lời và dịch vụ không mục đích sinh
lời”. Như vậy, hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp là những nỗ lực nhằm tác động
tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung
cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của
người bán nhằm thu được lợi nhuận một cách hiệu quả nhất. Mặt hàng của hoạt động
quảng cáo phong phú và đa dạng gồm hàng hóa và dịch vụ.
Theo quy định Luật cạnh tranh 2004 không có quy định nào định nghĩa cụ thể
quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh nhưng tại Điều 45 có liệt kê danh sách những
hành vi bị cấm nhằm hạn chế hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh “1.
So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của
11
SV: Nguyễn Mai Lan
loại thì hành vi ấy được kinh tế coi là quảng cáo liên kết chứ không phải là so sánh. Ví
dụ, quảng cáo về sản phẩm bột giặt Omo có sử dụng nước xả vải hương Downy…:
(2) Sản phẩm bị so sánh phải là là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất
hoặc kinh doanh. Nếu nội dung quảng cáo so sánh các sản phẩm cùng loại do doanh
nghiệp thực hiện việc quảng cáo kinh doanh như: so sánh sản phẩm mới và sản phẩm
trước đây để cho khách hàng thấy được tính năng của sản phẩm mới thì việc quảng cáo
đó không coi là quảng cáo so sánh.
12
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
Hai là, hành vi quảng cáo so sánh phải là so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng
loại của doanh nghiệp khác. Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn không khẳng
định như thế nào là so sánh trực tiếp. Về vấn đề này, có nhiều khả năng sẽ xảy ra khi
định nghĩa về sự trực tiếp trong việc so sánh:
Thứ nhất, so sánh trực tiếp có thể là việc doanh nghiệp vi phạm điểm mặt, chỉ tên
sản phẩm và doanh nghiệp cụ thể mà nó muốn so sánh đến (còn gọi là xâm phạm trực
tiếp đến đối thủ cụ thể) – Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Tiến sĩ Lê Danh Vĩnh, nhà
xuất bản Tư pháp, năm 2006. Với khả năng này, các trường hợp quảng cáo so sánh với
những thông tin chung chung như so sánh độ tẩy trắng của bột giặt Tide với bột giặt
thường hoặc hình ảnh so sánh nước xả vải Downy với hình ảnh mờ mờ của nước xả
vải khác nhưng không xác định cụ thể là sản phẩm nào, của ai cso thể sẽ không bị
coi là vi phạm;
Thứ hai, sự so sánh sẽ là trực tiếp nếu như những thông tin đưa ra làm cho khách
Một số biểu hiện của sự so sánh trong quảng cáo bằng những thông tin rất chung
chung hoặc bằng những hình ảnh mờ mờ, sản phẩm quảng cáo cũng có ý định so sánh
với sản phẩm của một nhóm doanh nghiệp xác định. Các chương trình quảng cáo trên
các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta sẽ gặp những kiểu quảng cáo so sánh đưa
thông tin mập mờ như bột giặt của Tide, Omo tẩy sạch các vết dầu mỡ mà các “bột giặt
thường” không thể tẩy được; Thuốc đánh răng P/S diệt khuẩn bảo vệ rang suốt cả ngày
bởi P/S có chất diệt khuẩn còn thuốc đánh răng thường chỉ cps chất Flour… Sự so sánh
với sản phẩm “thường” ở đây là loại sản phẩm nào? Hay thực chất họ muốn khẳng định
rằng sản phẩm của họ có ưu thế hơn hẳn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
1.1.2.2. Dấu hiệu phân biệt hành vi quảng cáo bắt chước
Như thế nào là “bắt chước” biểu hiện của hành vi này trên thực tế ra sao mới
được xem là vi phạm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh. Trong các mẫu quảng cáo
thì có rất nhiều thành phần để tạo thành nó như ý tưởng về hình ảnh, nhạc nền, âm
thanh, khung cảnh,…nếu như một mẫu quảng cáo nào đó mà chỉ giống về nhạc nền mà
không giống nhau về các thành phần khác thì đừng nên vội kết luận đây là hành vi
quảng cáo bắt chước vì muốn xác định đây là quảng cáo bắt chước thì phải có sự nhầm
lẫn của khách hàng, nghĩa là khách hàng khi xem mẫu quảng cáo bắt chước mà nghĩ là
sản phẩm quảng cáo của mẫu quảng cáo bị bắt chước thì khi đó mới được xem là quảng
cáo bắt chước.
Ví dụ, khách hàng thường rất quen thuộc với cá khúc nhạc nền của mẫu quảng
cáo sản phẩm của doanh nghiệp A, doanh nghiệp B lấy nhạc nền của mẫu quảng cáo
này đem về copy vào mẫu quảng cáo của mình và làm một mẫu quảng cáo với nhạc nền
giống như quảng cáo sản phẩm của doanh nghiệp A nhưng cuối mẫu quảng cáo có phần
đọc địa chỉ bán hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp B mà mẫu quảng cáo sản phẩm A
14
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
15
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
+ Quảng cáo so sánh: là quảng cáo trong đó có nội dung so sánh giữa hàng hoá
dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp( người quảng cáo) với đối tượng
cùng loại của một hay một số doanh nghiệp.
Ví dụ cụ thể cho loại quảng cáo này: Vụ việc Acecook kiện Masan lên Cục Quản
lý cạnh tranh vì cho rằng quảng cáo mỳ "Tiến Vua bò cải chua" vi phạm Khoản 1 Điều
45 Luật Cạnh tranh cấm "so sánh trực tiếp hàng hóa, sự việc Acecook kiện Masan lên
Cục Quản lý cạnh tranh vì cho rằng quảng cáo mỳ "Tiến Vua bò cải chua" vi phạm
Khoản 1 Điều 45 khi Masan cho phát sóng một đoạn quảng cáo với hình ảnh so sánh
một vắt mì màu vàng nhạt (vắt mì Tiến Vua bò cà chua - sản phẩm của Masan) và một
vắt mì màu vàng sậm (của một DN khác) cùng với thông điệp rằng nếu cho nước vào
vắt mì mà “nước chuyển sang vàng đục chứng tỏ sợi mì có nhuộm màu”. Như vậy,
Acecook có lập luận rằng, Masan đã "so sánh trực tiếp" với sản phẩm của Acecook.
Về bản chất, hành vi quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể
được xem xét dưới góc độ lợi dụng uy tín hoặc công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh.
Quảng cáo so sánh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khi thu hút khách hàng về phía
mình thông qua hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Về nội dung, quảng cáo so sánh bao gồm nhiều nội dung nhưng chủ yếu so sánh
về giá và quảng cáo so sánh về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ như tính năng, công
dụng, chất lượng…đây là những nội dung mà khách hàng quan tâm khi lựa chọn hàng
hóa, dịch vụ.
nghiệp. Nên pháp luật cạnh tranh không lành mạnh cần đặt hành vi này trong sự giám
sát chặt chẽ chống lại việc lạm dụng.
+ Quảng cáo bắt chước: là quảng cáo được thực hiện với nội dung, cách thức
giống hệt hoặc tương tự quảng cáo của người khác.
Ví dụ về nhãn hiệu gây nhầm lẫn : Cà phê Trung Nguyên
Công ty cà phê Trung Nguyên với thương hiệu G7 nổi tiếng cũng bị quy vào một
trong những doanh nghiệp có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Công ty Trung Nguyên đã sử dụng nhãn hiệu ba chiều hình cốc đỏ của Nestlé để so
sánh trực tiếp sản phẩm G7 của họ với sản phẩm Nescafé của Nestles. Đó chính là
quảng cáo bắt chước sản phẩm của doanh nghiệp khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Quảng cáo bắt chước được quy định tại Khoản 2 Điều 45 Luật cạnh tranh 2004
“Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng”. Tính chất
không lành mạnh của quảng cáo bắt chước thể hiện ở việc lợi dụng thành quả đầu tư lợi
thế cạnh tranh của người khác gây hậu quả tạo sự nhầm lẫn không đáng có cho khách
hàng (người tiêu dùng). Nhầm lẫn có thể chia ra nhiều loại khác nhau như nhầm lẫn về
nguồn gốc, nhầm lẫn về liên hệ…
Nhầm lẫn về nguồn gốc: khi khách hàng trực tiếp nhận những quảng cáo giống
nhau gây nên sự ngộ nhận rằng hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùng
17
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
một chủ sản xuất, nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa chính là thương hiệu của sản phẩm,
để tạo nên lòng tin cho người tiêu dùng, khi người tiêu dùng có nhầm lẫn về nguồn gốc
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
Nhưng người tiêu dùng đã “ngã ngửa” vì kết quả kiểm định mẫu mỳ Tiến Vua
cho thấy hoàn toàn ngược lại với thông điệp đoạn quảng cáo đưa ra. Cụ thể, theo kết
quả phân tích mẫu số 10071105/107315 của Công ty Cổ phần Khoa học công nghệ Sắc
Ký Hải Đăng (TP.HCM) thì trong một gói mỳ Tiến Vua, tỷ lệ chất transfat là 0,097%,
chứ không phải hoàn toàn không có như đã quảng cáo.
Rõ ràng, hành vi quảng cáo này đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới người tiêu dùng.
Tính trung thực được đánh giá theo tác động đến đối tượng của hành vi quảng
cáo trực tiếp đặt ra là khách hàng và người tiêu dùng. Nhưng bên cạnh đó không thể phủ
nhận những tác động của quảng cáo gây nhầm lẫn đến đối thủ cạnh tranh khi khách
hàng mua sản phẩm dựa trên những thông tin sai lệch và chịu thiệt hại nhất định về kinh
tế thì đồng nghĩa với việc các đối thủ cạnh tranh mất khách hàng này. Quảng cáo gây
nhầm lẫn tạo nên hậu quả xấu làm thị trường trở nên không minh bạch và phúc lợi nền
kinh tế bị tổn hại.
19
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
bảo hộ cho quyền tự do kinh doanh của kinh doanh.
Thứ ba, nhu cầu chấp thuận các luật chơi chung trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Khi nhập vào sân chơi chung của thương mại quốc tế, bất cứ quốc gia nào trong đó
có Việt Nam phải chấp nhận các luật chơi đã được thừa nhận cho dù chúng có xuất xứ từ
đâu. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ không cho phép thị trường các nước thành
20
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
viên thiếu các nền thiết chế cần thiết để duy trì trật tự kinh doanh. Vì thế, một trong những
yêu cầu cần phải được đáp ứng triệt để để Việt Nam gia nhập WTO là phải có được những
khung pháp lý căn bản của thị trường, trong đó pháp luật liên quan đến quảng cáo cạnh
tranh không lành mạnh là một bộ phận khá quan trọng. Mặt khác, trong quá trình nước ta
mở cửa thị trường thông qua việc ký kết các hiệp định song phương, đa phương đã và sẽ
xuất hiện những công ty đa quốc gia hoạt động ở Việt Nam. Với sức mạnh kinh tế của
mình, các công ty này dễ dàng sử dụng các hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh
nhằm loại bỏ các doanh nghiệp khác. Vì lẽ đó, sự ra đời của pháp luật về hành vi quảng cáo
cạnh tranh không lành mạnh không chỉ là Điều kiện cần của quá trình hội nhập mà còn là
sự cần thiết cho việc bảo hộ năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trước
sóng gió của hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư, nhu cầu tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng. Xây
dựng thị trường từ những thành quả của cơ chế kế hoạch hóa cho nên trong quá trình
vận động của mình, thị trường Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều tư duy quản lý
cũ còn xót lại cả ở phía các nhà kinh doanh và cán bộ, cơ quan nhà nước. Mặc dù
quảng cáo thương mại, theo Điều 102, Luật này và quy định về các hành vi quảng cáo bị
pháp luật cấm theo Khoản 4, Điều 45, Luật Cạnh tranh 2004. Những hành vi quảng cáo bị
cấm này được quy định từ Khoản 1 đến Khoản 9, Điều 109, Luật Thương mại 2005.
c) Luật Quảng cáo 2012
Luật Quảng cáo 2012 là văn bản điều chỉnh gián tiếp hành vi quảng cáo cạnh
tranh không lành mạnh. Khoản 1, Luật này cung cấp khái niệm về quảng cáo nhằm làm
rõ quảng cáo là gì. Và tại Điều 8, Luật này quy định về vấn đề hành vi cấm trong quảng
cáo, giúp bổ sung vào Khoản 4, Điều 45, Luật Cạnh tranh 2004 về các hành vi quảng
cáo mà pháp luật có quy định cấm.
d)Nghị định 71/2014/NĐ-CP, Nghị định Chính phủ năm 2014
Nghị định Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực cạnh tranh điều chỉnh hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mại tại
chương 1, những quy định chung và mức phạt đối với hành vi quảng cáo cạnh tranh không
lành mạnh được quy định tại Khoản 1, Điều 33, Nghị định này. Và thẩm quyền xử phạt đối
với hành vi này được quy định tại Điều 40, mục 1, chương 3, Nghị định này.
Từ những liệt kê về hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo cạnh tranh
không lành mạnh nêu trên em cho rằng việc quy định như vậy là chưa đủ với pháp luật
về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh. Việc chưa đủ này thể hiện ở chính
thực trạng đang xảy ra ngày càng nhiều vụ việc vi phạm pháp luật quảng cáo cạnh tranh
không lành mạnh mà pháp luật không thể điều chỉnh được, ví dụ như hành vi quảng cáo
so sánh gián tiếp sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Chính
vì những thực tế còn đang nhức nhối trên mà pháp luật về quảng cáo cạnh tranh không
lành mạnh cần phải được điều chỉnh và bổ sung tại các văn bản Luật, cũng như các
Nghị định hướng dẫn đi kèm sao cho pháp luật về khía cạnh này được đầy đủ và đóng
vai trò là cán cân công lý giúp cho sự vận hành của kinh tế thị trường được diễn ra lành
mạnh. Theo em nên có một nghị đinh hướng dẫn về hành vi quảng cáo cạnh tranh
không lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu hiều luật và thực hiện luật của không chỉ các
doanh nghiệp mà còn cả các cơ quan thực thị pháp luật nữa. Qua hơn 10 năm đi vào
thực tiễn nhưng những Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh lại chưa có Nghị định nào
quy định chi tiết về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh. Mà thực tế, hành vi
tục xử lý vụ việc cũng như các biện pháp chế tài được áp dụng, với mục đích chống lại
các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, thiết lập và bảo vệ môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh là những quy tắc xử sự chung, được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận qua
việc thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật, quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật.
23
SV: Nguyễn Mai Lan
Lớp:K48P2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Tình
1.3.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh
1.3.2.1. Hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hoá,
dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác .
Quảng cáo so sánh là việc các doanh nghiệp trong quá trình quảng cáo đã đưa ra
những thông tin có nội dung so sánh với sản phẩm của doanh nghiệp khác.
Về bản chất, hành vi quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể
được xem xét dưới góc độ lợi dụng uy tín hoặc công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh.
Quảng cáo so sánh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khi thu hút khách hàng về phía
mình thông qua hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Về nội dung, quảng cáo so sánh bao gồm nhiều nội dung nhưng chủ yếu so sánh
về giá và quảng cáo so sánh về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ như tính năng, công
Bắt chước sản phẩm quảng cáo là việc dùng thông tin, hình ảnh, âm nhạc, màu
sắc, chữ viết…giống với sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp khác đã công bố trước
đó với mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, về chất
lượng… của sản phẩm được quảng cáo. Biểu hiện của hành vi “bắt chước” này trên
thực tế như thế nào mới được xem là vi phạm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh.
Nếu hành vi bắt chước này chỉ giống sản phẩm quảng cáo khác một phần thì có thể xem
là vi phạm hay không? Trong các mẫu quảng cáo thì có rất nhiều thành phần để tạo
thành nó như ý tưởng về hình ảnh, nhạc nền, âm thanh, khung ảnh,…nếu như một mẫu
quảng cáo nào đó mà chỉ giống về nhạc nền mà không giống nhau về các thành phần
khác thì không thể vội kết luận đây là hành vi quảng cáo bắt chước vì muốn kết luận
đây là hành vi quảng cáo bắt chước thì phải có sự nhầm lẫn của khách hàng, nghĩa là
khách hàng khi xem mẫu quảng cáo bắt chước mà nghĩ là sản phẩm của mẫu quảng cáo
bị bắt chước thì khi đó mới được xem là quảng cáo bắt chước.
Ví dụ, khách hàng thường rất quen thuộc với ca khúc nhạc nền của mẫu quảng
cáo sản phẩm của doanh nghiệp A, doanh nghiệp B lấy nhạc nền của mẫu quảng cáo
này đem về copy vào mẫu quảng cáo của mình và làm một mẫu quảng cáo với nhạc nền
giống như quảng cáo sản phẩm của doanh nghiệp A nhưng cuối mẫu quảng cáo có phần
đọc địa chỉ bán hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp B mà mẫu quảng cáo sản phẩm A
có thể có hoặc không có.Vì vậy, khi đăng quảng cáo trên phương tiện truyền hình đã
gây ra nhiều nhầm lẫn cho khách hàng. Nếu như một người quá quen thuộc với nhạc
nền mẫu quảng cáo của doanh nghiệp A, nếu như khách hàng chỉ nghe mà không nhìn
vào mẫu quảng cáo này thì rất có thể sẽ gây nhầm lẫn.
1.3.2.3. Hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho
khách hàng .
Quảng cáo gian dối, được hiểu là việc nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ, thông
qua hoạt động quảng cáo, cố ý phổ biến những thông tin không chính xác nhằm tạo ra
sự nhầm lẫn, dẫn đến việc giao kết không bình đẳng theo hướng bất lợi cho người tiêu
dùng.
25