Pháp luật Việt Nam về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn thực hiện - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những chiêu thức được các doanh nghiệp, chủ kinh doanh sử
dụng rất hiệu quả để kích thích nhu cầu mua sắm của khách hàng đó là đưa ra
các chương trình khuyến mại. Khi các chương trình khuyến mại được thực
hiện sẽ giúp khách hàng không những mua được sản phẩm như mong muốn
mà còn nhận được nhiều lợi ích khác. Việc các doanh nghiệp và chủ kinh
doanh sử dụng khuyến mại để tăng doanh thu còn nhằm mục đích cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác. Thế nhưng bên cạnh những mặt tích cực đó chúng
ta phải nhìn nhận những mặt trái của vấn đề. Liệu có phải tất cả các chương
trình khuyến mại đều dành lợi ích cho khách hàng hay không hay chỉ là một
chiêu thức lừa đảo? Liệu việc các doanh nghiệp, chủ kinh doanh thực hiện
chương trình khuyến mại của mình có đúng với quy định của pháp luật, có là
hành vi cạnh tranh lành mạnh hay không? Chính vì thế bài viết sau đây sẽ đi
tìm hiểu những vấn đề trên qua đề tài “Pháp luật Việt Nam về khuyến mại
nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn thực hiện”.
NỘI DUNG
1. Khái quát về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
1.1 Khái niệm.
Dưới góc độ pháp lý, hoạt động khuyến mại được định nghĩa tại khoản
1 điều 88 Luật Thương mại năm 2005 như sau: “Khuyến mại là hoạt động
xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh lần đầu tiên được ghi nhận tại
khoản 4 điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004: “Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái
với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc


có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.


2


Hai là, phân biệt đối xử không chính đáng: Hành vi phân biệt đối xử
trong khuyến mại được coi là cạnh tranh không lành mạnh nếu như trong
cùng chương trình khuyến mại, chủ thể thực hiện khuyến mại dành cho những
khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau những lợi
ích không giống nhau.
Ba là, xóa bỏ thói quen tiêu dùng của khách hàng với hàng hóa, dịch
vụ của đối thủ cạnh tranh một cách không chính đáng: Việc xây dựng hình
ảnh cho sản phẩm của doanh nghiệp mình, từ đó lôi kéo khách hàng sử dụng
hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp mình cung cấp là nhu cầu tất yếu của bất
kỳ chủ thể kinh doanh nào. Tuy nhiên để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, pháp
luật không cho phép doanh nghiệp nâng cao sản phẩm của mình bằng cách hạ
thấp sản phẩm của doanh nghiệp khác. Vì vậy, những hành vi khuyến mại
tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu đổi hàng hóa cùng
loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang dùng dở được xác
định là hành vi mang tính chất tạo dựng thói quen sử dụng sản phẩm của
doanh nghiệp thực hiện khuyến mại bằng cách thức không lành mạnh và bị
cấm theo pháp luật.
2. Nội dung pháp luật chống hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không
lành mạnh.
2.1 Cấm thực hiện hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành
mạnh.
Đối với hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, Luật
Cạnh tranh 2004 liệt kê các dạng hành vi khuyến mại không lành mạnh bị
cấm sau đây:
2.1.1 Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng.
Hiểu được tâm lý người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp tổ chức những

Cũng có dấu hiệu lừa dối khách hàng như ở hành vi khuyến mại gian
dối về giải thưởng song ở hành vi này, chủ thể thực hiện khuyến mại sử dụng
lợi ích mà khách hàng được hưởng để tạo ra nhận thức sai lệch về hàng hóa,
dịch vụ được khuyến mại.
Khuyến mại không trung thực là việc đưa ra các thông tin khuyến mại
hàng hóa, dịch vụ gian dối nhằm lừa dối khách hàng để khách hàng tiếp cận
hàng hóa, dịch vụ đó.
1

Theo tin từ: http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Khuat-tat-trong-chuong-trinh-khuyen-mai-rut-tham-trungthuong-cua-LG/45190315/218/

4


Ví dụ: Chương trình “Quà tặng đầu xuân” của Hãng sữa Enfa Mama
thuộc Công ty Mead Johnson (Hoa Kỳ) diễn ra từ ngày 10/2 đến ngày
31/3/2004 có khuyến mại rất hấp dẫn: cứ 2 nắp lon Enfa Mama loại 400g sẽ
được đổi 1 trong 4 đĩa Giao hưởng thông minh I, Giao hưởng thông minh II,
VCD chăm sóc thai nhi và VCD nuôi con bằng sữa mẹ. Thế nhưng rất nhiều
khách hàng tại TP Hồ Chí Minh mặc dù đã mua hàng đủ điều kiện để hưởng
khuyến mại nhưng lại không nhận được quà tặng khuyến mại với những lý do
rất “vô lý” như: nắp cũ, nhân viên tiếp thị ra về, không tìm thấy bàn đổi quà
của Enfa Mama...2
Thực tế rất khó để tách bạch giữa khuyến mại không trung thực và
khuyến mại gây nhầm lẫn. Ở cả hai hành vi đều có sự gian dối, không trung
thực dẫn đến những hiểu biết nhầm lẫn của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ.
Vì vậy khuyến mại không trung thực và khuyến mại gây nhầm lẫn thường đi
cùng với nhau. Cả hai hành vi này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi
ích của người tiêu dùng. Nó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường cạnh
tranh lành mạnh. Vì thế hành vi này cũng bị cấm theo quy định của pháp luật

những khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau
những lợi ích không giống nhau phải được tiến hành ở cùng một chương trình
khuyến mại. Việc dành những lợi ích không giống nhau ở các chương trình
khuyến mại khác nhau đương nhiên không phải là hành vi khuyến mại nhằm
cạnh tranh không lành mạnh.
Ví dụ: Một số chương trình khuyến mại của các mạng di động như:
tặng 50% giá trị thẻ nạp, 100 tin nhắn chỉ với 3000 đồng, 60 phút gọi chỉ với
2000 đồng...Nhưng những chương trình đó đều có một thông tin đó là
“Chương trình khuyến mại chỉ áp dụng dành cho những thuê bao nhận được
tin nhắn này”. Vậy phải chăng đây cũng là một hình thức khuyến mại vi phạm
pháp luật vì có sự phân biệt đối xử giữa các khách hàng.
2.1.4 Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu
khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách
hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình.
Hành vi này được coi là hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh bởi
doanh nghiệp tạo dựng thói quen sử dụng hàng hóa của mình trong người tiêu
dùng trước tiên không phải bằng chất lượng, giá thành hay những ưu đãi kèm
theo mà bằng cách thức thủ tiêu hình ảnh của sản phẩm cùng loại do doanh
nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng. Đây được coi là biện
pháp không chính đáng để xóa bỏ thói quen tiêu dùng của khách hàng, là dấu

6


hiệu của hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Chính vì thế
để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, pháp luật nghiêm cấm hành vi
khuyến mại này.
Ví dụ: Chương trình khuyến mại “Miễn phí đối cũ lấy mới 1000 nồi
canh Supor” từ ngày 24/5-7/6/2010 của công ty TNHH Supor Việt Nam. Nội
dung chương trình: khách hàng mang 1 nồi canh cũ lấy bất kỳ do doanh

b. Hình thức xử lý.
Căn cứ điều 4 và điều 36 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005
về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, đối với mỗi hành vi
khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, doanh nghiệp vi phạm phải
chịu một trong các hình thức xử phạt hành chính sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt
tiền. Theo đó, mức phạt tiền thấp nhất là 15 triệu và cao nhất là 50 triệu đồng.
Ngoài hình thức xử phạt chính, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp
dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh và/hoặc biện pháp khắc
phục hậu quả buộc cải chính công khai.
c. Thẩm quyền xử lý.
Căn cứ điểm d khoản 2 điều 49 Luật Cạnh tranh 2004 và điều 42 Nghị
định 120/2005/NĐ-CP thì thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành
mạnh thuộc về cơ quan quản lý cạnh tranh, tức Cục quản lý cạnh tranh thuộc
Bộ Công thương.
d. Khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và khởi kiện quyết
định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Trường hợp không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh của Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh, các bên
có quyền khiếu nại lên Bộ trường Bộ Công thương. Đơn khiếu nại được gửi
tới Cục quản lý cạnh tranh kèm theo chứng cứ chứng minh cho khiếu nại cua
mình là có căn cứ và hơp pháp. Cục quản lý cạnh tranh có trách nhiệm kiểm
tra tình hợp lệ của đơn khiếu nại và chuyển lên Bộ trưởng Bộ công thương.
Bộ trưởng Bộ công thương có trách nhiệm giải quyết khiếu nạii trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại (thời hạn này có thể được gia
hạn không quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt phức tạp). Quyết định giải
quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành ngay.

8


Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Ép buộc trong kinh doanh

phân bón
50
17
8

Ngân hàng

Viễn

25
5
12

thông
1
0
0

3

Theo: “Tổng hợp các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh được Cục Quản lý cạnh tranh điều tra và xử lý
trong năm 2009” – Lê Văn Thái.

9



mạnh
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

0
0

10
5

0

khác
Nguồn: Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế.
Thông qua bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy hành vi khuyến mại
nhằm cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trong cả lĩnh vực sản xuất hàng hóa
cũng như lĩnh vực dịch vụ làm ảnh hưởng tới rất nhiều doanh nghiệp tham gia
thị trường. Cụ thể: kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng của hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sản xuất phân bón là 33%; trong lĩnh vực ngân hàng là 45% và linh
vực viễn thông là 100%.
Hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia
tăng với mức độ ảnh hưởng lớn, trong khi số vụ việc khuyến mại nhằm cạnh
tranh không lành mạnh được Cục quản lý cạnh tranh điều tra và xử lý còn khá
khiêm tốn. Điều này khiến cho chúng ta phải suy nghĩ về hiệu quả thực thi
pháp luật cạnh tranh trong việc chống lại các hành vi khuyến mại nhằm cạnh
tranh không lành mạnh.
4. Một số kiến nghị.
4.1 Hoàn thiện pháp luật chống hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh
không lành mạnh.

nghiêm khắc của nhà nước trong việc chống lại các hành vi khuyến mại nhằm
cạnh tranh không lành mạnh.
4.2 Nâng cao ý thức pháp luật của chủ thể kinh doanh và cộng đồng.
Như trên đã phân tích, một trong những nguyên nhân của tình trạng gia
tăng hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh chính là sự thiếu hiểu biết pháp
luật. Vì vậy, công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật nói chung và
pháp luật về cạnh tranh nói riêng cần được đẩy mạnh tránh những trường hợp
4

Tham khảo: Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam:
khóa luận tốt nghiệp – Hà Thị Doánh, Đại học Luật Hà Nội.

11


vi phạm do thiếu hiểu biết đồng thời giúp cho bên bị vi phạm có thể bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua pháp luật. Bên cạnh đó, việc
tuyên truyền các hình thức chế tài nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm sẽ
góp phần răn đe các chủ thể kinh doanh trong quá trình thực hiện hoạt động
khuyến mại tránh những trường hợp cố tình vi phạm.
4.3 Nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật.
Việc nâng cao năng lực của cơ quan thực thi pháp luật cần được thực
hiện bằng các biện pháp sau đây:
- Tiếp tục đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội
ngũ cán bộ thực thi pháp luật cạnh tranh thông qua các khóa đào tạo như:
khóa đào tạo nghiệp vụ điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.
- Tăng cường thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản
lý cạnh tranh với các cơ quan quản lý chuyên ngành. Đồng thời có sự phối
hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh với tòa án để thuận lợi cho công tác xử
lý bồi thường thiệt hại, xử lý hình sự cũng như việc giải quyết đơn khởi kiện

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status