Pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG LAN PHƯƠNG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THƯƠNG MẠI HÓA
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Hải

Hà nội – 2011
2

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Tình hình nghiên cứu 9
3. Mục tiêu nghiên cứu 12
4. Phạm vi nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Ý nghĩa của luận văn 14
7. Kết cấu của luận văn 14
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI
HÓA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 15
1.1. Khái quát chung về quyền Sở hữu trí tuệ 15
1.1.1. Khái niệm về quyền Sở hữu trí tuệ 15
1.1.2. Các đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ 17
1.2. Khái quát chung về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ. 25

2.2.6. Quy định của pháp luật Việt Nam về định giá quyền Sở hữu trí tuệ 78
2.3. Những bất cập của pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền Sở hữu
trí tuệ 82
2.3.1. Bất cập trong quy định về chuyển nhượng quyền sở hữu 82
2.3.2. Bất cập trong quy định về chuyển quyền sử dụng 89
2.3.3. Bất cập trong quy định về nhượng quyền thương mại 90
2.3.4. Bất cập trong quy định về góp vốn bằng quyền Sở hữu trí tuệ 94
2.3.5. Bất cập trong quy định về định giá quyền Sở hữu trí tuệ 96
4

CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VỀ THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 106
3.1. Thực trạng thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 106
3.1.1. Thực trạng của việc chủ sở hữu tự khai thác quyền Sở hữu trí tuệ của
mình 107
3.1.2. Thực trạng về chuyển nhượng quyền sở hữu 107
3.1.3. Thực trạng về chuyển quyền sử dụng 114
3.1.4. Thực trạng về nhượng quyền thương mại 119
3.1.5. Thực trạng về góp vốn bằng quyền Sở hữu trí tuệ 120
3.1.6. Thực trạng về định giá quyền Sở hữu trí tuệ 123
3.2. Nguyên nhân của việc thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ chưa hiệu
quả ở Việt Nam 125
3.2.1. Nguyên nhân từ phía pháp luật 125
3.2.2. Nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về Sở hữu trí tuệ126
3.2.3. Nguyên nhân từ phía chủ sở hữu 127
3.2.4. Các nguyên nhân khác 127
3.3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thương mại hóa
quyền Sở hữu trí tuệ 128
3.3.1. Thống nhất các quy định của pháp luật Việt Nam về thương mại hóa


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO được hơn 4
năm với việc đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính
ràng buộc của WTO kể từ thời điểm gia nhập. Song do là nước đang phát
triển nên Việt Nam đã được WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển
đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan tới thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp
phi nông nghiệp, quyền kinh doanh Riêng đối với việc bảo hộ quyền SHTT,
trong cam kết WTO, Việt Nam đã cam kết tuân thủ các quy định kể từ khi gia
nhập WTO. Pháp luật Việt Nam về quyền SHTT đã thực hiện đúng các cam
kết của mình với các quy định tương đối phù hợp với các quy định về SHTT
của WTO kể từ khi gia nhập. Theo đó, quyền SHTT bao gồm 3 nhóm quyền
đó là: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là
“quyền liên quan”), quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. Để thúc
đẩy sự sáng tạo không ngừng và đồng thời để bảo vệ quyền của các tác giả,
chủ sở hữu quyền SHTT, pháp luật Việt Nam đã đưa ra những quy định về
việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Bên cạnh đặc trưng là sản phẩm trí tuệ
của con người thì quyền SHTT cũng mang bản chất thương mại và khả năng
sinh ra lợi nhuận rất lớn. Điều này được ghi nhận trong BLDS 2005, theo đó,
quyền SHTT là một trong những quyền tài sản được ghi nhận tại Điều 181
BLDS 2005. Quyền này là “quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển
giao trong giao dịch dân sự”. Việc thương mại hóa quyền SHTT sẽ đem lại
cho các chủ sở hữu hoặc những người được chủ sở hữu cho phép những giá
trị kinh tế lớn.
Thương mại hóa quyền SHTT là một đòi hỏi tất yếu của việc phát triển
kinh tế và hội nhập của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là
8


ngành tuy mới được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 sau 4 năm áp dụng cũng
chỉ quy định các nội dung của việc bảo vệ và thực thi quyền SHTT và đề cập
tới một phần về thương mại hóa quyền SHTT. Ngoài ra việc định giá quyền
SHTT là một hoạt động quan trọng để đem tới hiệu quả của việc thương mại
hóa quyền SHTT cũng chưa được ghi nhận thống nhất tại một văn bản pháp
luật nào. Những bất cập này của pháp luật đã khó thúc đẩy việc thương mại
hóa quyền SHTT ở Việt Nam.
Chính vì những bất cập của pháp luật Việt Nam về thương mại hóa
quyền SHTT, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về thương mại
hóa quyền Sở hữu trí tuệ” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình. Với đề tài
này, tác giả tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về thương mại hóa
quyền SHTT, trong đó có so sánh với các quy định của pháp luật quốc tế về
thương mại hóa quyền SHTT; tìm hiểu những bất cập của pháp luật khi quy
định các hình thức thương mại hóa quyền SHTT; việc thương mại hóa quyền
SHTT trên thực tế ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện các
quy định pháp luật để thúc đẩy quá trình thương mại hóa quyền SHTT ở Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Mặc dù đã mang bản chất thương mại, khả năng sinh ra lợi nhuận song
những nỗ lực để khai thác, phát huy giá trị của các đối tượng của quyền SHTT
ở Việt Nam chưa thực sự được hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về
việc thương mại hóa quyền SHTT chỉ đề cập tới một vài khía cạnh, hình thức
của thương mại hóa quyền SHTT như:
+ Vũ Đặng Hải Yến (2008), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
10

Luận án đề cập tới các quy định của pháp luật Việt Nam về NQTM và
thực tiễn của hoạt động này, bất cập của pháp luật về NQTM và hướng hoàn

cập tới bản chất, hình thức, đặc điểm hợp đồng license các đối tượng của
quyền SHTT nói riêng gần như không được đề cập một cách sâu sắc trong
luận văn.
+ Nguyễn Hà Phương (2009), “Pháp luật về hoạt động góp vốn vào
doanh nghiệp bằng nhãn hiệu hàng hóa”, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học
Luật Hà Nội.
Hoạt động góp vốn cũng là một hình thức thương mại hóa quyền
SHTT. Có rất nhiều loại tài sản có thể góp vốn vào doanh nghiệp trong đó có
quyền SHTT. Luận văn đã đề cập tới khía cạnh góp vốn vào doanh nghiệp
bằng một đối tượng của quyền SHTT đó là “nhãn hiệu hàng hóa”. Tuy nhiên,
tác giả đã sử dụng không đúng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” vốn là thuật
ngữ được dùng trong các văn bản pháp luật trước khi ban hành Luật SHTT.
Ngoài ra, luận văn mới chỉ đề cập tới việc góp vốn bằng nhãn hiệu mà trong
khi đó còn có rất nhiều những đối tượng khác của quyền SHTT có thể đem
góp vốn được là sáng chế, KDCN, BMKD…
+ TS. Bùi Ngọc Cường (2007), “Hoàn thiện khung pháp lý về Nhượng
quyền thương mại”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 103, tháng 8 năm 2007.
(website: />phap-ly-ve-nhuong-quyen-thuong-mai/?searchterm=%22TÀI%20SẢN%22).
Bài viết đã đề cập tới bản chất của NQTM, các đặc trưng và hình thức
của NQTM, những bất cập của pháp luật và những kiến nghị hoàn thiện
những bất cập đó về NQTM. Tuy nhiên, NQTM chỉ là một hình thức để
thương mại hóa quyền SHTT do đó bài viết trên cũng chỉ đề cập được 1 phần
của thương mại hóa quyền SHTT.
12

+ Đào Minh Đức (2006), “Một số vấn đề về định giá nhãn hiệu”, Tạp
chí Khoa học pháp lý số 6 (37) năm 2006.
(website:
Định giá đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thương mại hóa
quyền SHTT, các đối tượng của quyền SHTT có được định giá thì mới có khả

năm 2005 đến 2010;
Tuy nhiên, để tiện cho việc so sánh, tác giả còn điểm tới các văn bản
pháp luật được ban hành trước thời điểm năm 2005.
- Những văn bản pháp luật quốc tế về thương mại hóa quyền SHTT mà
Việt Nam đã tham gia;
- Những văn bản pháp luật quốc tế về thương mại hóa quyền SHTT mà
Việt Nam chưa tham gia nhưng có khả năng tham gia trong tương lai.
+ Phạm vi không gian:
Khảo sát tại Công ty TNHH Tầm nhìn và Liên danh (Vision &
Associates Co., Ltd), Công ty TNHH Vĩnh Đạt (Lacom Co., Ltd).
+ Phạm vi về nội dung:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những bất cập của pháp luật Việt
Nam về thương mại hóa quyền SHTT.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp phỏng
vấn sâu.
Trong luận văn tác giả đã phỏng vấn:
14

- Ông Nguyễn Văn Bảy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo –
Cục SHTT;
- Bà Nguyễn Thị Thu Hương, chuyên viên của Phòng Nhãn hiệu -
Công ty TNHH Vĩnh Đạt (Lacom Co.,Ltd).
6. Ý nghĩa của luận văn
+ Ý nghĩa lý luận: Luận văn đưa ra những bất cập của pháp luật về
thương mại hóa quyền SHTT.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đưa ra những giải pháp để khắc phục
những bất cập của pháp luật về thương mại hóa quyền SHTT để từ đó có thể

Từ định nghĩa trên của Luật SHTT chúng ta thấy rằng quyền SHTT
chính là quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ. Như vậy khái niệm về quyền
SHTT gắn liền với khái niệm tài sản trí tuệ. Quyền SHTT gồm 3 nhóm quyền:
quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giống cây
trồng.
Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản vô hình và theo nghĩa thông dụng thì
tài sản trí tuệ được hiểu là tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ, do hoạt
16

động trí tuệ của con người sáng tạo ra thông qua sự tư duy, sáng tạo. Tài sản
trí tuệ có những đặc tính cơ bản:
+ Có khả năng lan truyền nhanh chóng và vô tận;
+ Có thể được nhiều chủ thể cùng chiếm hữu và sử dụng (khác biệt với
tài sản hữu hình, tại một thời điểm chỉ duy nhất một chủ thể có thể chiếm hữu
và sử dụng);
+ Dễ bị sao chép, bắt chước;
+ Có khả năng bị hao mòn vô hình [29; 5].
Tuy nhiên, không phải bất cứ một tài sản trí tuệ nào được sáng tạo ra
bởi trí tuệ và hoạt động tư duy của con người cũng là đối tượng được bảo hộ
theo quy định của pháp luật về SHTT. Vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác
giả chỉ tập trung nghiên cứu các tài sản trí tuệ là đối tượng được bảo hộ quyền
SHTT theo quy định của pháp luật về SHTT của Việt Nam.
Đối với một tài sản hữu hình, quyền sở hữu đối với các loại tài sản này
được pháp luật Việt Nam ghi nhận gồm 3 quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt. Đối với tài sản trí tuệ, quyền sở hữu đối với loại tài
sản này lại có những nét rất đặc biệt.
+ Quyền chiếm hữu
“Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” (Điều 182
BLDS 2005).
Đối với một tài sản hữu hình, tại một thời điểm thì chỉ có 1 chủ thể duy

18

Quyền tác giả: Tác phẩm: văn học, nghệ thuật, khoa học
- Cuộc biểu diễn
Quyền liên quan: - Bản ghi âm, ghi hình
- Chương trình phát sóng
SHTT - Tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa

- Sáng chế
- Kiểu dáng công nghiệp
SHCN - Nhãn hiệu
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
- Chỉ dẫn địa lý
- Tên thương mại
- Bí mật kinh doanh

Quyền đối với giống cây trồng Vật liệu nhân giống
Vật liệu thu hoạch

Hình 1.1. Các đối tượng của quyền SHTT

 Quyền tác giả và quyền liên quan
+ Quyền tác giả
Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT định nghĩa: “Quyền tác giả là quyền của
các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.
Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam là các tác phẩm văn
học, nghệ thuật, khoa học.
* Đặc điểm của quyền tác giả:
(i) Chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, không bảo hộ nội dung, giá trị của
tác phẩm. Do đó, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được định

chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật… để tạo nên tác phẩm).
+ Quyền liên quan:
20

Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền liên quan là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình
phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.
Như vậy, đối tượng của quyền liên quan là cuộc biểu diễn; bản ghi âm,
ghi hình; chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hóa.
Cũng giống như quyền tác giả, quyền liên quan cũng được bảo hộ theo
nguyên tắc “bảo hộ tự động” tức là nó phát sinh ngay khi cuộc biểu diễn; bản
ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được mã hóa được định hình. Việc đăng ký bảo hộ quyền liên quan với
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không phải là điều kiện bắt buộc.
 Quyền SHCN
“Đối tượng của quyền SHCN bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, KDCN, tên
thương mại, BMKD, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và chỉ dẫn địa lý”
(Khoản 2 Điều 3 Luật SHTT).
+ Sáng chế
“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên” (Khoản 12 Điều 4 Luật SHTT).
Điều kiện để một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc
quyền sáng chế là: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng
công nghiệp.
Điều kiện để một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc
quyền giải pháp hữu ích là: có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp.
Quyền SHCN đối với sáng chế và quyền SHCN đối với giải pháp hữu
ích được bảo hộ trong thời hạn Bằng độc quyền có hiệu lực. Tại Việt Nam,

22

+ Chỉ dẫn địa lý
“Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” (Khoản 22 Điều 4 Luật
SHTT).
Ví dụ: Nước mắm Phú Quốc, Vải thiều Lục Ngạn, Gạo tám xoan Hải
Hậu, Chuối ngự Đại Hoàng…
Đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thì chủ sở hữu duy nhất là Nhà
nước Việt Nam và Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời
hạn kể từ ngày cấp. Các tổ chức, cá nhân khác chỉ có quyền quản lý hoặc sử
dụng chỉ dẫn địa lý (nếu trong Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý ghi
nhận điều này).
+ Tên thương mại
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh. Tên thương mại sẽ không được bảo hộ nếu trùng hoặc
tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử
dụng từ trước trên cùng một khu vực kinh doanh và trong cùng một lĩnh vực
kinh doanh, hoặc trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của
người khác hoặc chỉ dẫn địa lý đang còn hiệu lực bảo hộ từ trước khi bắt đầu
sử dụng tên thương mại đó, hoặc thuộc các đối tượng không được bảo hộ như:
tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoặc các chủ thể khác
không liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Tên thương mại được tự động bảo hộ (không cần phải đăng ký) khi đáp
ứng các yêu cầu nêu trên. Tên thương mại được bảo hộ chừng nào chủ sở hữu
vẫn còn duy trì hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.
+ Bí mật kinh doanh
23


thiết kế bố trí bắt đầu từ ngày cấp Văn bằng bảo hộ và chấm dứt vào ngày
sớm nhất trong số những ngày sau: (i) Ngày kết thúc 10 năm, kể từ ngày nộp
đơn; (ii) Ngày kết thúc 10 năm, kể từ ngày thiết kế bố trí được người có
quyền nộp đơn hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại lần
đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới; (iii) Ngày kết thúc 15 năm, kể từ ngày
tạo ra thiết kế bố trí.
 Quyền đối với giống cây trồng
“Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được
hưởng quyền sở hữu” (Khoản 5 Điều 4 Luật SHTT).
Đối tượng của quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và
vật liệu thu hoạch. Trong đó:
Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển
thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng.
Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo
trồng vật liệu nhân giống.
Để được bảo hộ thì giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng
được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc Danh mục loài cây trồng
được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành,
có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.
Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 25 năm
đối với giống cây thân gỗ và cây nho; đến hết 20 năm đối với các giống cây
trồng khác. Bằng bảo hộ giống cây trồng mới do Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn cấp (Khoản 1 Điều 4 Nghị định 88/2010/NĐ-CP về việc quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT (sau đây gọi là
Nghị định 88/2010/NĐ-CP) và Điểm g Khoản 5 Điều 2 Nghị định

Trích đoạn Góp vốn bằng quyền Sở hữu trí tuệ Các phương pháp định giá quyền Sở hữu trí tuệ Quy định của pháp luật quốc tế về chuyển nhượng quyền sở hữu Quy định của pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng Quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển nhượng quyền sở hữu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status