Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU
TRÍ TUỆ NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


:
Lớp
:
Hµ néi - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU
TRÍ TUỆ NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Hµ néi - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU
TRÍ TUỆ NĂM 2005 Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục

̣
NH
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI
PHẠM THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 47
2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu 47
2.1.1 Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn với nhãn hiệu 47
2.1.1.1Khái niệm chỉ dẫn thương mại 47
2.1.1.2Các dạng hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhẫm lẫn với nhãn
hiệu 60
2.1.1.3Các yếu tố gây nhầm lẫn với nhãn hiệu 67
2.1.2 Hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của
điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là
thành viên khi không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu 69
2.1.3 Hành vi đăng kí, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng
hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu 75
2.1.4 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm
quyền hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 85
2.2 Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
nhãn hiệu 90
2.2.1 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
bằng biện pháp dân sự 92
2.2.2 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu bằng
biện pháp hành chính 97
2.2.3 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
bằng biện pháp hình sự 99
2.2.4 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu bằng
biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 100 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT
Tên viết tắt
Nội dung

1
CDĐL
Chỉ dẫn địa lý

2
SHCN
Sở hữu công nghiệp

3
SHTT
Sở hữu trí tuệ
4
WIPO
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(World Intellectual Property
Organization)


nguyên tắc cơ bản trong sự vận động của nền kinh tế thế giới. Tài sản trí tuệ
chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của hầu hết các quốc gia
trên thế giới và Việt nam cũng không ngoại lệ. Từ khi trở thành thành viên
chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới WTO và là thành viên của công
ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ ngày 08/03/1949, Việt Nam
có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đó. Trong khi đó
những hiểu biết về luật sở hữu trí tuệ nói chung và bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng của chúng ta chưa đầy đủ. Chúng ta đang
đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh luôn ra sức chạy
đua với nhau để tìm chỗ đứng, khẳng định vị thế trên thị trường. Cuộc cạnh
tranh khốc liệt đó tất yếu dẫn đến kết quả là sự thành công hay đổ vỡ của các
doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển các chủ thể kinh doanh thường bằng mọi
cách tìm ra những cách thức kinh doanh, tiếp thị nhằm quảng bá rộng rãi
thương hiệu và không ngừng mở rộng thị trường. Xuất phát từ giá trị thương
mại to lớn của nhãn hiệu, một số chủ thể kinh doanh không trung thực đã tìm
mọi cách để chiếm đoạt, sử dụng trái phép những thành quả đầu tư của đối thủ
cạnh tranh thông qua các hành vi dèm pha, hạ thấp uy tín của đối thủ cạnh
tranh nhằm gây cản trở đến hoạt động bình thường của họ. Những hành vi này
vừa vi phạm pháp luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ. Thực tế
này đòi hỏi sự nghiêm minh của pháp luật, muốn như vậy cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ để tạo ra một
môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp được quy
định trong Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883
tại khoản 2, khoản 3 Điều 10bis và Hiệp định về các khía cạnh thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS năm 1994 tại điều 8.2 và điều
40. Ở Việt Nam, hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

hành vi… góp phần giải quyết các vấn đề còn tồn tại và hạn chế tình trạnh
cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra trên thực tế hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp là một nội dụng rộng lớn và phức tạp. Nó liên
quan tới nhiều hệ thống văn bản pháp luật và chịu sự điều chỉnh của nhiều
văn bản pháp luật khác nhau như Luật Sở hữu trí tuê, Luật Cạnh tranh, Luật
Hành chính… Vì vậy, cùng với mục đích được đặt ra ở trên mà tại Luận văn
này tôi chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đối với một đối tượng của quyền Sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu mà
thôi, trên cơ sở sự nghiên cứu mà đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả thực thi trong lĩnh vực pháp luật hiện hành.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
Trong quá trình thực hiện, tôi sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá
tổng hợp để đưa ra các nhận định cá nhân về các quy định pháp luật hiện hành
liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và các quy
định về hành cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nhằm góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật
Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
- Phương pháp so sánh
Để có thể đánh giá được một cách khách quan nhất các quy định của pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh đối với nhãn hiệu, trong Luận văn này tôi đã
sử dụng cả phương pháp so sánh đối chiếu. Phương pháp này được vận dụng rõ
nhất là trong việc so sánh các quy định của pháp luật hiện hành của nước ta với
các quy đinh tại các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của một số quốc gia
trên thế giới trong cùng lĩnh vực. Từ đó rút ra các điểm tương đồng, khác biệt
cũng như các mặt mạnh hay các yếu điểm của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam nói chung và các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT
SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005
1.1 Khái quát chung về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một trong những đối tượng khá phổ biến của quyền sở
hữu công nghiệp trong cuộc sống hiện đại. Mặc dù nhãn hiệu không phải là
hàng hoá nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Chúng ta có thể
bắt gặp một nhãn hiệu ở bất kỳ nơi đâu thông qua truyền hình, hoạt động tiêu
dùng, trên đường về nhà, thậm chí bất kỳ nơi nào trong ngôi nhà của chúng ta.
Các sản phẩm mang nhãn hiệu Cola - cola, Omo, Trung Nguyên, P/S, v.v.
được chúng ta sử dụng khá thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. Sự cạnh
tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường công nghiệp hoá hiện đại hoá đã cho
phép các nhà sản xuất đưa ra nhiều loại sản phẩm/ dịch vụ đa dạng về kiểu
dáng, chủng loại và chất lượng để người tiêu dùng lựa chọn. Cạnh tranh là
một yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh, nó là động lực thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường cũng làm
xuất hiện những mặt trái của nó, một số chủ thể kinh doanh thiếu trung thực
bằng cách sử dụng nhãn hiệu có uy tín của đối thủ cạnh tranh hòng làm cho

hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các
dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó
phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu” [32].
Theo khái niệm này thì nhãn hiệu phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các
dấu hiệu. Hiệp định TRIPs quy định nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” khiến
nó trở nên khái quát hơn, mềm dẻo và linh hoạt hơn. Các dấu hiệu đó có thể là
dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được
đăng ký là nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá/
dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá/ dịch vụ của một doanh
nghiệp khác. Khái niệm nhãn hiệu tại Hiệp định TRIPs đã trở thành nguyên
tắc chuẩn mực, nó mang tính mềm dẻo, linh hoạt trong pháp luật quốc tế. Tại
pháp luật của các quốc gia, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã
hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp.
Tại Châu Âu, xuất phát từ đặc điểm là một cộng đồng chung mà Luật
về nhãn hiệu đưa ra khái niệm “nhãn hiệu cộng đồng”. Khái niệm “nhãn hiệu
cộng đồng” được quy định ở điều 2, 89/104/EEC3 như sau: Một nhãn hiệu
cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng
và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ
viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện
là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của
chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh
khác [24].
Cũng giống như quy định tại Hiệp định TRIPs, việc sử dụng từ “bất kỳ
dấu hiệu nào” của Luật về nhãn hiệu của Châu Âu làm cho khái niệm nhãn
hiệu mềm dẻo và không giới hạn, trong đó khả năng phân biệt cũng được coi
là điều kiện cơ bản và bắt buộc nếu một dấu hiệu muốn được đăng ký là nhãn
hiệu. Tuy nhiên, khác với khái niệm được quy định trong Hiệp định TRIPs là


Cho đến nay, Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế
về nhãn hiệu, trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Nghị định,
Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT.
Luật SHTT năm 2005 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về
quyền SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã
được ban hành từ trước. Trong Luật SHTT của Việt Nam khái niệm nhãn hiệu
được quy định trong phần giải thích từ ngữ: “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [28]. Tuy
nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở
thành nhãn hiệu, điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy
định tại điều 72 Luật SHTT như sau: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng
các điều kiện sau đây:1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ
ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó,
được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2- Có khả năng phân biệt hàng
hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể
khác” [28].
Hiệp địnhTRIPs và Luật nhãn hiệu của Châu Âu có quy định mở hơn
đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” có khả
năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được. So với
các khái niệm nhãn hiệu được quy định tại Hiệp địnhTRIPs và Luật nhãn hiệu
của Châu Âu thì khái niệm của Luật SHTT 2005 ít mềm dẻo linh hoạt hơn chỉ
chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được bằng thị giác như chữc cái, số học:
Bitis, Songhong, Songlong, Pico, Bia 333… Điều này có nghĩa là các dấu
hiệu như âm thanh, mùi vị không thể được đăng ký là nhãn hiệu. Với tốc độ
hội nhập kinh tế hiện nay và trình độ dân trí ngày một phát triển, thiết nghĩ
cần phải quy định mở rộng hơn khái niệm về nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu
truyền tải và công bố nhãn hiệu. Hiện nay nhãn hiệu từ ngữ dường như chiếm
ưu thế hơn cả do sự dễ dàng phân biệt bằng thị giác, sự thể hiện một cách
chính xác, tinh tế đặc tính của hàng hóa/ dịch vụ và khả năng truyền tải thông
tin của nó đến người tiêu dùng.
Cũng giống như quy định tại các điều ước quốc tế và pháp luật các
nước trên thế giới thì Luật SHTT 2005 coi khả năng phân biệt là điều kiện bắt
buộc của nhãn hiệu. Một dấu hiệu nếu không có khả năng phân biệt thì không
thể thực hiện được chức năng làm nhãn hiệu và dấu hiệu đó sẽ bị từ chối đăng
ký. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định khá cụ thể trong điều 74
Luật SHTT, một nhãn hiệu được coi là khác biệt với các dấu hiệu khác nếu:
được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ
nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không
“trùng” hay “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” với một dấu hiệu đã được đăng
ký hay nộp đơn đăng ký bảo hộ, có ngày ưu tiên sớm hơn, đang được sử dụng
rộng rãi, hay hết hiệu lực song không quá 05 năm trừ trường hợp bị đình chỉ
do không sử dụng [28]. Các trường hợp sau được coi là tương tự tới mức gây
nhầm lẫn: thứ nhất, trùng dấu hiệu, tương tự về sản phẩm: bột canh GIA PHÚ
và hạt nêm GIA PHÚ. Hai dấu hiệu này bị trùng về cấu tạo, màu sắc, ý nghĩa,
cách phát âm; thứ hai, tương tự dấu hiệu, trùng sản phẩm: SONY và SQNY
cho sản phẩm Pin máy ảnh (như ví dụ ở trên). Hai sản phẩm Pin máy ảnh này
trùng (giống nhau) tới mức không phân biệt được về sản phẩm, về mặt dấu
hiệu có cấu tạo, cách trình bày, màu sắc tương tự đến mức không dễ dàng
phân biệt được nếu không thực sự quan sát kỹ.
Một dấu hiệu sẽ không được bảo hộ quyền SHCN khi không có khả
năng phân biệt, nếu các dấu hiệu này là dấu hiệu thông dụng như: chữ cái, con
số, hình học cơ bản, tên gọi chung, hay các dấu hiệu chỉ chủng loại, chất lượng, phương pháp đo lường sản phẩm… [28, 33]. Thí dụ hình tam giác
không thể được đăng ký cho sản phẩm dụng cụ hình học hay hình quả táo

tiêu biểu là Hoa kỳ. Theo đó, việc đăng ký chỉ nhằm khẳng định quyền đối
với nhãn hiệu đã được thông qua sử dụng mà thôi. Vì vậy mà khi xảy ra tranh
chấp, người sử dụng nhãn hiệu đầu tiên sẽ được ưu tiên trong các vụ tranh
chấp chứ không phải là người đầu tiên đăng ký nhãn hiệu [19]
Việt Nam là nước áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, theo đó nếu có
hai chủ thể trở lên đều nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký với
cùng một nhãn hiệu cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ thì người nộp đơn sớm
nhất sẽ được cấp Giấy chứng nhân đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Để được bảo
hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan trực
thuộc Bộ khoa học và công nghệ. Văn bằng bảo hộ được gọi là giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu. Chỉ có văn bằng do Cục Sở hữu trí tuệ cấp mới có
giá trị thể hiện sự bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, ngoài ra các bằng
khen, giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm … đều không có giá trị bảo hộ
[28].
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ tự
động, do đó mà không cần có bất cứ một thủ tục đăng kí nào như nhãn hiệu
thông thường theo điều 6 bis công ước Paris; khoản 2, điều 6, Nghị định
103/2006/NĐ-CP - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp [1,2]. Nhãn hiệu nổi tiếng được
bảo hộ dựa trên chính danh tiếng của nó chứ không dựa trên cơ sở đăng kí.
Đây là một trong những đặc trưng cơ bản và khác biệt nhất của việc bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp giữa nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu thường.
Trong trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phát hiện ra rằng có dấu hiệu xâm phạm thì có thể nộp đơn yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ công nhận là
nhãn hiệu nổi tiếng. Cục sở hữu trí tuệ sẽ trên cơ sở các tiêu chí được quy
định tại điều 75 Luật sở hữu trí tuệ mà ra quyết định công nhận nhãn hiệu đó
là nhãn hiệu nổi tiếng. Trên cơ sở quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng,
chủ sở hữu có thể yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm

Nghị định thư. Nghị định thư Madrid không thay thế mà cùng tồn tại với
Thỏa ước Madrid. Đăng ký theo Nghị định thư có điều kiện thuận lợi hơn so
với đăng ký theo văn kiện thỏa ước. Thứ nhất, người nộp đơn có thể nộp đơn
đăng ký quốc tế theo Nghị định thư ngay sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu
ở Việt Nam, mà không bắt buộc phải đợi đến thời điểm nhãn hiệu đó được
cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam; thứ hai, người nộp đơn
có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia tại các nước được chỉ định để
chuyển đổi đăng ký quốc tế thành đăng ký quốc gia trong thời hạn 03 tháng
kể từ ngày đăng ký quốc tế theo Nghị định thư bị mất hiệu lực do đơn đăng ký
nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tương ứng ở Việt Nam bị
mất hiệu lực và trong trường hợp đó các đơn xin chuyển đổi đăng ký nhãn
hiệu vào từng quốc gia được giữ nguyên ngày nộp đơn, ngày ưu tiên (nếu có)
của đơn đăng ký quốc tế; thứ ba, Nghị định thư cho phép chọn sử dụng tiếng
Pháp hoặc tiếng Anh trong đơn đăng ký Quốc tế thay vì chỉ sử dụng tiếng
Pháp như Thỏa ước [14,34] .
Kể từ thời điểm nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam hoặc
tại quốc gia thành viên của Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia thì chủ
sở hữu nhãn hiệu có quyền độc quyền sử dụng và ngăn chặn các hành vi sử
dụng trái phép nhãn hiệu của mình cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự gây
nhầm lẫn cho người tiêu dùng và công chúng. Đây là bản chất độc quyền mà
chủ sở hữu nhãn hiệu có được thông qua đăng ký. 1.1.3 Thời hạn bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Việc bảo hộ nhãn hiệu không trao độc quyền sở hữu nhãn hiệu một
cách vô thời hạn cho chủ sở hữu trừ trường hợp đó là nhãn hiệu nổi tiếng.
Luật nhãn hiệu thường quy định thời hạn của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu
trong một khoảng thời gian nhất định, và văn bằng bảo hộ có thể được gia hạn
khi hết thời hạn bảo hộ. Việc gia hạn thời hạn bảo hộ xuất phát từ nhiều mục
đích khác nhau: thứ nhất, nếu không đặt ra một thời hạn nhất định sẽ dẫn tới

Mặc dù luật về nhãn hiệu thường không quy định việc chủ sở hữu phải
sử dụng nhãn hiệu như một điều kiện để đăng ký nhưng sẽ là thiếu sót, kẽ hở
pháp luật nếu như không đặt ra nghĩa vụ sử dụng. Nếu không đặt ra nghĩa vụ
sử dụng thì những nhãn hiệu đã đăng ký mà không sử dụng sẽ là một cản trở
đối với việc đăng ký các nhãn hiệu mới. Trong một số trường hợp đối thủ
cạnh tranh có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia nước ngoài mà
chủ sở hữu nhãn hiệu dự định sử dụng với dụng ý ngăn cản việc chủ sở hữu
thực hiện việc đăng ký và bán sản phẩm mang nhãn hiệu hoặc nhằm thu lợi từ
việc đăng ký nhãn hiệu rồi bán lại. Hành vi này có thể coi là lạm dụng quyền
đối với nhãn hiệu không sử dụng. Do đó, hậu quả của việc không sử dụng
nhãn hiệu liên tục trong vòng 5 năm trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực
mà không có lý do chính đáng thì đăng ký có thể bị yêu cầu hủy bỏ theo yêu
cầu của bất kỳ cơ quan hữu quan nào trừ trường hợp việc sử dụng được bắt
đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt
hiệu lực. Trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu muốn tiếp tục sở hữu nhãn hiệu
phải chứng minh được việc sử dụng của mình, hay đưa ra được lý do chính
đáng, lý do bất khả kháng cho việc không sử dụng. Bởi lẽ, điều này là khó
khăn với bên thứ ba cho việc chứng minh việc không sử dụng hoặc lý do
không sử dụng không chính đáng, việc hoán đổi trách nhiệm chứng mình như

Trích đoạn Phạm vi độc quyền sử dụng nhãn hiệu Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu bằng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status