Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại việt nam - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN
NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên
Lớp
Khoá
Giáo viên hướng dẫn
: Ph¹m ThÞ Kim Oanh
: Ph¸p 2
: 44 E
: ThS. Lª ThÞ Thu Hµ
hiệu 29
3.1. Biện pháp tự bảo vệ 29
3.2. Biện pháp hành chính 30
3.3. Biện pháp hình sự 33
3.4. Biện pháp dân sự 35
3.5. Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
36
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM 38I. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
tại Việt Nam 38
1. Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu đang diễn ra
trong tất cả các ngành kinh tế 38
2. Số lượng các vụ việc cạnh trạnh không lành mạnh liên quan đến
nhãn hiệu có dấu hiệu tăng dần 47
3. Thủ đoạn của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến nhãn hiệu ngày càng tinh vi 49
4. Nguyên nhân 50
II. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam 51
1. Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến nhãn hiệu tại Việt Nam 51
1.1. Pháp luật quốc tế 51
1.2. Pháp luật quốc gia 52
1.3. Nhận xét 53
2. Thực trạng hoạt động xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến nhãn hiệu của các cơ quan thực thi và hỗ trợ thực thi 57
2.1. Các cơ quan thực thi 57


Công ước Paris Hiệp định thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ QLCT
QLTT
TRIPS

WTO
SHTT
SHCN

Công ước Paris về bảo hộ sở hữu
công nghiệp đuợc ký kết tháng
03/1883 tại Paris.
Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam
và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan
hệ thương mại, có hiệu lực từ ngày
10/12/2001.
Quản lý cạnh tranh
Quản lý thị trường
Hiệp định về các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ
Tổ chức thương mại thế giới
Sở hữu trí tuệ

đến nhãn hiệu là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói chung và cạnh 2
tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nói riêng trong thời gian qua
nhưng hệ thống này vẫn tỏ ra còn nhiều bất cập. Các quy định về cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nằm tản mạn ở các văn bản khác
nhau, do đó gây khó khăn cho công tác thực thi và bảo hộ. Chính vì vậy, để
ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến nhãn hiệu, cần phải xây dựng pháp luật phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và tương thích với các quy định quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
xử lý có hiệu quả các hành vi này.
Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, em đã chọn đề tài: “Cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam” nhằm
nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng cạnh tranh không lành mạnh
liên quan đến nhãn hiệu, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống
pháp luật liên quan và nâng cao hiệu quả các hoạt động ngăn chặn và xử lý
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này.
2. Tình hình nghiên cứu
Cạnh tranh không lành mạnh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, các bài viết thường phổ biến dưới dạng bài báo,
tin điện tử và thường khai thác về đề tài cạnh tranh không lành mạnh nói
chung hoặc là cạnh tranh không lành mạnh trong liên quan đến lĩnh vực sở
hữu công nghiệp, như: “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của TS. Lê Danh
Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, ThS nguyễn Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tư pháp Hà
Nội (2006), hay “ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của PGS.TS.Lê Hồng Hạnh, ThS. Đinh Thị Mai Phương,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội (2004). Cho đến nay việc đi sâu

nhãn hiệu tại Việt Nam.
Chƣơng III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tại Việt Nam.
Để hoàn thành khóa luận, em đã cố gắng tìm tòi, tổng hợp và phân tích
các thông tin, tư liệu thu thu thập được. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời 4
gian và vốn kiến thức còn ít ỏi, kinh nghiệm chưa nhiều, khóa luận không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình
của các thầy cô trong trường và sự góp ý của bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ và lãnh đạo Cục Quản lý cạnh
tranh, Cục Sở hữu trí tuệ và đặc biệt là cô giáo, ThS. Lê Thị Thu Hà, đã nhiệt
tình hướng dẫn, giúp đỡ, cung cấp tài liệu quý báu để em có thể hoàn thành
khóa luận này.

quen sử dụng hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng Để cụ thể hóa nhận xét
trên, khóa luận xin đưa ra một số khái niệm nhãn hiệu được quy định trong luật
pháp của các quốc gia Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc và Australia. 6
Tại Hoa Kỳ, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được quy định trong Luật
nhãn hiệu hàng hóa (Lanham Act năm 1946). Theo đó, nhãn hiệu hàng hóa
bao gồm “bất kỳ từ ngữ, tên, biểu tượng, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các
yếu tố đó được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để phân biệt
hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất, kinh doanh này với hàng hóa, dịch
vụ của nhà sản xuất khác và để chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hóa[…]” [35].
Khái niệm nhãn hiệu được quy định tại Bộ luật Sở hữu trí tuệ của Pháp
cũng khá tương đồng với khái niệm nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ, trong đó
quy định:
“Nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể biểu
thị bằng đồ hoạ có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của cá nhân
hoặc pháp nhân. Dấu hiệu có thể bao gồm: i)từ ngữ, sự kết hợp của từ ngữ,
tên họ và tên địa lý, tên bút danh, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt; ii)dấu hiệu có
thể nghe được như âm thanh, đoạn nhạc; iii)dấu hiệu hình như hình ảnh,
nhãn sản phẩm, dấu , đường viền, khắc chạm nổi, hình ảnh ba chiều, logo,
hình dáng sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm, sự kết hợp , sự sắp xếp hoặc sắc
thái của màu sắc”[36].
Các dấu hiệu được coi là nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Luật
nhãn hiệu hàng hóa Trung Quốc năm 2001 bao gồm: từ ngữ, hình ảnh, chữ
cái, chữ số, dấu hiệu ba chiều, sự kết hợp của màu sắc, và sự kết hợp của các
yếu tố đó có thể được đăng kí là nhãn hiệu hàng hóa [37].
Theo pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của Australia, “âm thanh, mùi vị
có thể được đăng kí. Thêm vào đó, nhãn hiệu hàng hóa được đăng kí ngay cả
khi chúng không có sẵn tính phân biệt với điều kiện là nhãn hiệu hàng hóa đó

quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
hiện nay.
Dựa theo tính chất các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu, có thể
phân loại dấu hiệu thành các nhóm cơ bản sau: dấu hiệu hình, dấu hiệu chữ,
dấu hiệu màu, dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu mùi vị, dấu hiệu ba chiều… 8
Nhãn hiệu hàng hóa có nhiều cách phân loại. Xét dưới góc độ phân loại
đối tượng hàng hóa, dịch vụ mà nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng thì nhãn
hiệu bao gồm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Thông thường, các
văn bản quy phạm pháp luật các nước thường dùng thuật ngữ nhãn hiệu/nhãn
hiệu hàng hóa để chỉ chung cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Theo
chức năng và cách thức sử dụng, nhãn hiệu bao gồm: nhãn hiệu liên kết, nhãn
hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận.
1.2. Chức năng của nhãn hiệu
Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính sau: chức
năng phân biệt; chức năng chỉ dẫn nguồn gốc hoặc xuất xứ; chức năng bảo
đảm chất lượng và chức năng quảng cáo [32, tr. 22].
a. Chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các chủng loại hàng hóa, dịch vụ
ngày càng trở nên đa dạng, phong phú. Muốn chọn lựa được hàng hóa, dịch
vụ phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng tài chính của mình, người tiêu
dùng phải dựa vào các dấu hiệu hay nhãn hiệu hàng hóa mà các cơ sở sản
xuất, kinh doanh gắn trên sản phẩm hay bao bì sản phẩm khi đưa ra thị
trường. Như vậy, với chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ, nhãn hiệu cho
phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với
những hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác bán trên thị trường. Đây
đuợc coi là chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hóa.
b. Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

Từ đó, có thể hiểu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền sở
hữu của cá nhân, tổ chức (chủ thể) đối với nhãn hiệu (khách thể) và quyền
được áp dụng các biện pháp hợp pháp để ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động đăng kí cũng như trong quá trình sử
dụng nhãn hiệu. 10
Trên thế giới, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa có
thể được xác lập trên cơ sở sử dụng nhãn hiêu trên thực tế hoặc trên cơ sở văn
bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Cụ thể tại Việt Nam,
quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng kí
nhãn hiệu do Cục Sở hữu trí tuệ cấp [6].
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có các thuộc tính như sau:
 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa bị giới hạn
về thời gian. Quyền này chỉ có hiệu lực trong thời hạn của văn bằng bảo hộ do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ
cũng như theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia thì Giấy chứng
nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực trong vòng 10 năm kể từ ngày cấp. Chủ sở
hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng kí nhiều
lần, mỗi lần kéo dài 10 năm.
 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bị giới hạn về không
gian. Cụ thể, quyền này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà
trên cơ sở các quy định pháp luật nước đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu phát sinh. Hay nói cách khác, quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu mang tính lãnh thổ triệt để. Nghĩa là, quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu chỉ được xác lập trên cơ sở pháp luật của chính quốc gia đã
công nhận bảo hộ quyền đó và quyền này cũng chỉ có hiệu lực trong phạm vi
nước công nhận bảo hộ[38]. Chẳng hạn, nhãn hiệu của các chủ thể nước ngoài
muốn được bảo hộ tại Việt Nam thì khi đăng kí phải dựa vào các quy định

công nghiệp đối với nhãn hiệu là sự bảo đảm của Nhà nước bằng hệ thống
pháp luật và hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc xác lập quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cho các chủ thể là cá nhân, tổ chức, bảo vệ
quyền đó và chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của người khác. Nhà nước, tổ
chức cơ quan xác lập quyền quy định thủ tục, trình tự để xác lập quyền sở hữu
công nghiệp cho các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu
phải đăng ký. Muốn được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, các chủ thể 12
quyền sở hữu công nghiệp phải nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bao gồm
ba nội dung chính:
 Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu.
 Xác lập quyền: Cơ quan có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo hộ nhãn
hiệu ( Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu) cho các chủ thể khác nhau khi các
chủ thể này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định.
 Bảo vệ quyền: Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ
thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng cách áp dụng các
phương thức, biện pháp khác nhau.
2.3. Điều kiện để được bảo hộ nhãn hiệu
Một nhãn hiệu muốn được bảo hộ, hay một dấu hiệu muốn được coi là
nhãn hiệu bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được chuẩn hóa trên
toàn thế giới. Nhìn chung, có hai loại điều kiện cơ bản như sau:
Thứ nhất, các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải có tính độc đáo hoặc
có khả năng phân biệt các sản phẩm khác nhau. Tức là, nhãn hiệu phải giúp
người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với
các hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác. Tính độc đáo ở đây phải

nhãn hiệu đó sẽ không có khả năng lừa dối công chúng. Chẳng hạn, một nhãn
hiệu có các dấu hiệu mang tính liên tưởng, gợi dẫn mà vì thế nó có khả năng
phân biệt, vẫn có thể có tính lừa dối khi những sản phẩm có gắn nhãn hiệu đó
không có những đặc điểm như được phản ánh trên nhãn hiệu hàng hóa, dịch
vụ. Như vậy, khi xem xét nhãn hiệu hàng hóa phải dựa vào hai khía cạnh
riêng rẽ: nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt và không mang tính lừa dối. Ví
dụ như các nhãn hiệu gợi dẫn tới xuất xứ địa lý của hàng hóa sẽ là giả mạo
nếu trên thực tế, hàng hoá có gắn nhãn hiệu đó không có nguồn gốc từ khu
vực được chỉ dẫn. Thực tế, nhãn hiệu có chỉ dẫn trực tiếp đến xuất xứ địa lý 14
tương đối hiếm, mà các doanh nghiệp thường sử dụng dẫn chiếu gián tiếp.
Điều này gây ra rất nhiều khó khăn trong việc xem xét nhãn hiệu có phải là
giả mạo hay lừa dối công chúng hay không. Một khía cạnh khác cần xem xét
đó là, việc xác định một nhãn hiệu có mang tính lừa dối hay không phải gắn
liền với hàng hóa sẽ sử dụng nhãn hiệu đó. Nghĩa là, tuỳ thuộc vào danh mục
sản phẩm, mà một đơn đăng kí nhãn hiệu có thể coi là có khả năng phân biệt,
không có tính lừa dối đối với một số sản phẩm này, nhưng lại là giả mạo hay
lừa dối đối với các sản phẩm khác.
Cơ quan đăng kí nhãn hiệu cũng sẽ từ chối các đơn đăng kí nhãn hiệu
có biểu hiện trái với đạo đức xã hội hoặc ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Ví
dụ các dấu hiệu được sử dụng là: tranh ảnh thô tục, biểu tượng của các cơ
quan quyền lực nhà nước hay của các đảng phái chính trị bất hợp pháp; hay
các dấu hiệu là biểu tượng do Nhà nước, tổ chức quốc tế, cơ quan đoàn thể sử
dụng cũng không được đăng kí làm nhãn hiệu.
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã đưa ra các điều khoản cụ thể quy
định các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu. Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí
tuệ, một nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện sau: i) là dấu hiệu
nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba

xem chúng có phải là bản photocopy y nguyên của nhau hay không. Nhưng
để xác định tính “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” giữa các loại nhãn hiệu với
nhau hay giữa nhãn hiệu đăng kí với các đối tượng sở hữu công nghiệp trên là
một công việc khá khó khăn. Việc đưa ra tiêu chuẩn hay đáp số chung cho mọi
trường hợp để xác định tính tương tự có khả năng gây nhầm lẫn là công việc
không thể do đặc điểm riêng biệt của mỗi trường hợp là khác nhau.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng phương pháp điều chỉnh của pháp luật
Việt Nam về điều kiện đăng kí bảo hộ nhãn hiệu là phù hợp với phương pháp
điều chỉnh của pháp luật quốc tế về sở hữu công nghiệp. Các quy định trên
chính là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối 16
với nhãn hiệu cũng như là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quyết định xử
lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu.
II. Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
1. Cạnh tranh không lành mạnh
1.1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Đã từ lâu cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình
hình thành, phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành một đặc trưng cơ
bản của cơ chế thị trường. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát
triển, bởi cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn,
nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, buộc họ phải thường xuyên cải
tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ, nghiên cứu thành công mới nhất vào trong
sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý để nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Mục đích của cạnh tranh không
gì khác ngoài việc làm thế nào để hàng hoá, dịch vụ của mỗi doanh nghiệp
được “bán chạy” trên thị trường. Hay nói một cách khái quát hơn, đó chính là
vấn đề lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp muốn đạt được thông qua quá trình
sản xuất, kinh doanh của mình. Pháp luật của các quốc gia đều ghi nhận và

Như vậy, theo quan niệm thứ nhất, phạm vi các hành vi bị coi là cạnh
tranh không lành mạnh là rất rộng, có thể bao gồm cả các hành vi hạn chế
cạnh tranh. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc sử dụng phương thức áp
dụng pháp luật do bản chất, tính chất, mức độ nguy hại cho thị trường của các
hành vi trên là khác nhau. Ngược lại, phạm vi các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh theo quan điểm thứ hai lại chỉ bó hẹp ở các hành vi “không trung
thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp”. Quan niệm thứ ba đã dung
hoà được hạn chế của hai quan niệm còn lại, khi cạnh tranh không chỉ có
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp như trong quan niệm thứ hai, mà còn mở
rộng sang các lĩnh vực khác. Đây cũng chính là quan điểm của các nhà làm
luật Việt Nam khi đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh. Là một đối
tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 18
không được đưa ra trong Luật Sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ chỉ liệt kê
những hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Khái niệm “cạnh tranh
không lành mạnh” được quy định tại khoản 4 Điều 3 trong Luật Cạnh tranh
2004 như sau:
“Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”[17 ].
Từ định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh được nêu ra trong Luật
Cạnh tranh, có thể nhận thấy cạnh tranh không lành mạnh phải có các dấu
hiệu sau:
 Vì mục đích cạnh tranh;
 Nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu (cụ thể), hay nói khác đi sẽ
không thể nói đến cạnh tranh không lành mạnh khi mà các chủ thể không ở
trong vị thế “cạnh tranh” với nhau [44];

Như vậy, Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 đã liệt kê cụ thể 10
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong số 10 hành vi cạnh tranh không
lành mạnh nêu trên thì chỉ có hai hành vi đầu tiên đó là: “chỉ dẫn gây nhầm
lẫn” và “xâm phạm bí mật kinh doanh” được xem là có liên quan trực tiếp đến
lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các hành vi khác như: phân biệt đối xử của hiệp
hội, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh…, chỉ liên quan gián tiếp
đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp và không xảy ra phổ biến trong thực tế.
Tuy nhiên do đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2004 tương đối
rộng, ngoài cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
Luật Cạnh tranh còn điều chỉnh cả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
xảy ra trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Do vậy, để bám sát hơn
với đối tuợng nghiên cứu của khoá luận là cạnh tranh không lành mạnh trong 20
lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến nhãn hiệu nói riêng, khóa luận xin phân tích các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh được quy định trong luật chuyên ngành là Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005. Theo Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì các hành vi sau bị coi
là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến lĩnh vực sở hữu công
nghiệp nói chung:
a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh,
hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;
b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản
xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch
vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của
điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu
nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên,
nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status