CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG VỀ HÔ HẤP doc - Pdf 20

CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ CẬN
LÂM SÀNG VỀ HÔ HẤP Bằng phương pháp thăm khám lâm sàng cổ điển ta có thể chẩn đoán và có hướng
tiến hành các loại thăm dò cần thiết một cách đúng đắn. Nhưng các tài liệu do lâm
sàng cung cấp đều phụ thuộc vào trực quan của người thầy thuốc nên có thẻ khác
nhau tuỳ theo mỗi cá nhân và đều không vượt khỏi tầm hạn chế mà giác quan
chúng ta cho phép. Nhờ các phương tiện xét nghiệm cận lâm sàng. Người thầy
thuốc đã có thể nắm được nhiều chi tiết bệnh lý một cách tinh vi, cụ thể, khách
quan và chủ động hơn trong chản đoán, tiên lượng và điều trị. Với sự phát triển và
áp dụng các thành tựu của khoa học và y học như tia Rơnghen, các chất đồng vị
phóng xạ, kính hiển vi điện tử, sinh vật học hiện đại, việc thăm dò bộ máy hô hấp
lại càng thêm nhiều tiến bộ mới.
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu các loại phương pháp thăm dò cận lâm sàng
thường áp dụng đối với hô hấp:
1. Thăm dò về hình thái.
2. Thăm dò về nguyên nhân.
3. Thăm dò về chức năng hô hấp.
I. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ VỀ HÌNH THÁI
A- X QUANG
Là phương pháp bổ sung rất quan trọng cho thăm khám lâm sàng. Có nhiều trường
hợp tổn thương phổi hoặc nhỏ, hoặc ở sâu chỉ nhờ có X quang mới phát hiện được.
Có những trường hợp lao phổi phát hiện cũng là do X quang. Ngoài ra, X quang
còn giúp ta xác định vị trí của một tổn thương hay của một vật lạ trên đường hô
hấp và hướng dẫn giải phẫu một cách chính xác. Người ta sử dụng hai phương
pháp, soi và chụp, mỗi loại có những chỉ định, ưu điểm cũng như nhược điểm
riêng.
1. Soi Xquang.
- Soi Xquang cho ta thấy được các tạng đang hoạt động: nhịp đập của tim, cử
động cơ hoành, đỉnh phổi thiếu sáng khi ho trong lao hoặc viêm đỉnh phổi, hiện

vào tĩnh mạch để tìm độ tập trung của các chất phóng xạ ở các thuỳ phổi. Trên
phim, độ tập trung đó kém ở một số bệnh như ung thư phổi, tắc động mạch phổi.
- Tiêm vào bạch mạch lipiodol phóng xạ rồi chụp hệ thống bạch mạch của bộ máy
hô hấp.
B- PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI
Dùng một số dụng cụ soi và đèn chiếu có thể khám được mũi, họng, thanh quản,
khí phế quản.
1. Soi mũi.
1.1. Soi mũi phía trước: nguồn ánh sáng là một đèn nhỏ, ở giữa một cái gương là
treo trên trán thầy thuốc (đèn Clar). Tia sáng đo gương phản chiếu sẽ tập trung vào
lỗ mũi. Dụnc ụ là một cái mỏ vịt nhỏ gồm hai cách bằng kim loại: ta sẽ thấy vách
mũi, các xương cuốn, hõm xương cuốn, và phát hiện được một số thay đổi bệnh
lý: vẹo vách ngăn, polip (thịt thừa), phì đại xương cuốn, v.v…
1.2. Soi mũi phía sau: (xem phần khám đường hô hấp trên, trong bàikhám lâm
sàng bộ máy hô hấp).
Dùng một gương phẳng đưa vào sau mũi qua miệng để phản chiếu ánh sáng qua
mũi, đồng thời phản chiếu cả hình ảnh của mũi và vòm hầu, mặt trên của màn hầu,
lỗ sau mũi, vòm hấu với hệ thống bạch bạch huyết: các bạch bạch huyết này (V.A)
có thể to ra, và tạo ra vòm hầu một hình ảnh gồ ghề.
Những tổn thươn gở mũi hầu có thể là nguyên nhân của một số bệnh đường hô
hấp khó chữa nếu không phát hiện.
2. Soi thanh quản. Cũng dùng hệ thống soi của mũi sau, nhưng ở đây gương
phẳng đặt ở đáy họng quay xuống dưới, về phía thanh quản. Ta có thể nhìn thấy ở
phía trên là sụn lưỡi gà (Ép igloote), xương phẫu phía dưới, và ở sâu là đáy thanh
âm.
3. Soi khí phế quản. Nếu người bệnh ngồi thằng, đầu hơi ngả ra phía trước, thì
khi soi thanh quản ta có thể nhìn thấy một phần của mặt trước khí quản. Nhưng
nếu muốn khám đầy đủ khí phế quản hơn, thì ta phải đưa thanh môn, khí phế quản
một ống bằng kim loại mang ở đầu một cái đèn pin nhỏ, và qua ống đó có thể
nhìn thấy kí phế quản. Trước khi soi phải chuẩn bị kỹ lưỡng: tiêm thuốc an thần,

có màu để dễ đọc. Áp lực ghi được đọc trên một cái thước chia độ. Kim chọc vào
ổ màng phổi qua thành ngực được lắp vào một ống cao su nối với áp kế.
Ta chia áp lực ở thì hít vào và thì thở ra, rồi lấy trung bình đại số của hai áp lực
đó, gọi áp lực trung bình. Ví dụ: áp lực -10 khi hít vào và + 4 khi thở ra, thì áp
lực trung bình là -3.
Phương pháp đo áp lực ổ màng phổi không những có giá trị về mặt chẩn đoán mà
còn giúap cho điều trị: trong phương pháp bơm hơi ổ màng phổi điều trị lao phổi
(hiện nay người ta có khuynh hướng bơm hơi ổ màng bụng hơn) ta dựa vào con số
áp lực đo để quyết định thể tích cũng như khoảng cách thời gian gây tràn khí
màng phổi nhân tạo.
3. Soi trực tiếp ổ màng phổi. Dùng một ống kim loại, ở một đầu có đèn soi và
đưa vào màng phổi sau khi đã rạch khoảng liên sườn. Mắt nhìn qua đầu ngoài của
ống có thể thấy các dây dính màng phổi, hướng dẫn cắt các dây đó, và thấy màng
phổi hoặc các túi phồng phế nang. Do đó có thể chỉ định thủ thuật này trong tràn
dịch hoặc trong tràn khí màng phổi.
4. Sinh thiết màng phổi. Dùng kim Silvermann chọc qua thành ngực, vào màng
phổi lấy ra bệnh phẩm. Với phương pháp sinh thiết mủ này, chúng ta chỉ sinh
thiết được lá thành của màng phổi và chỉ lượm trong trường hợp có tràn dịch hoặc
tràn khí màng phổi.
Có thể sinh thiết với sự kiểm tra của mắt trong khi soi trực tiếp ổ màng phổi.
II – XÉT NGHIỆM CÁC BỆNH PHẨM CỦA BỘ MÁY HÔ HẤP
Các bệnh phẩm do người bệnh thải ra qua đường hô hấp và các bệnh phẩm do các
thủ thuật thăm dò lấy được đờm, nước màng phổi sinh thiết, đều phải xem xét
nghiệm phân tích. Ngoài ra một số phản ứng đặc nghiệm của cơ thể với tác nhân
gây bệnh ở đường hô hấp cũng có thể phát hiện bằng các phản ứng sinh học.
A. XÉT NGHIỆM TRỰC TIẾP.
1. Xét nghiệm đờm. Đờm do người bệnh khạc ra, hoặc do hút trong khi soi phế
quản, hoặc hút từ dịch dạ dày (nếu người bệnh nuốt đờm), có thể đem xét nghiệm
về mặt tổ chức học: bạch cầu thoái hoá, tế bào ung thư, bạch cầu ưa axit ở người
hen, sợi, đàn hồi của nhu mô phổi, trong áp xe phổi, các tinh thể Charcot –

- Viêm phổi không điển hình do cúm, được chẩn đoán bằng phản ứng Dirst.
Nguyên nhân của phản ứng này: hồng cầu gà bị virus cúm ngưng kết, huyết thnah
người bị cúm có kháng thể chống lại.
Viêm phổi không điển hình còn có thể chẩn đoán bằng cách tìm các kháng thể
lạnh.
2. Phản ứng bì:
- Nghiệm pháp BCG hoặc Tubeculin giúp cho chẩn đoán bệnh lao.
- Phản ứng bì với kháng nguyên đặc hiệu: trong một số trường hợp hen phế quản,
người ta dùng những chất gây hen làm kháng nguyên. Phản ứng dương tính, có ý
nghĩa chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh.
III – CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ CHỨC NĂMG HÔ HẤP.
Xin vui lòng xem trong bài Các phương pháp thăm dò chức năng hô hấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status