Phương pháp thăm khám cận
lâm sàng hệ tiêu hóa
(Kỳ 2)
1.3. Phương pháp ghi hình hiện đại:
1.3.1. Ghi hình phóng xạ:
Tiêm các chất đồng vị khác nhau tùy cơ quan ghi hình: rose Bengal đánh
dấu, vàng 98 (
98
Au), Technetium 99,… các chất này sẽ được cố định ở gan hoặc
tụy. Dùng một máy đếm phóng xạ đặt trên bụng đối diện với các cơ quan muốn
ghi hình và ghi lại lượng các chất phóng xạ được giữ lại trong các cơ quan đó và
vẽ được hình ảnh của cơ quan trên một tờ giấy.
+ Giá trị chẩn đoán:
- Cho biết khối lượng của cơ quan.
- Tổn thương có giới hạn: thể hiện bằng vùng thừa hoặc khuyết xung động.
+ Chỉ định : áp dụng cho các tạng đặc là gan, tụy, lách.
Các tạng rỗng như dạ dày ruột không áp dụng được.
Phương pháp này không gây đau đớn, khó chịu cho bệnh nhân, ít nguy
hiểm nhưng nhược điểm là không cho biết rõ bản chất vùng khuyết xung động (áp
xe gan hay ung thư gan), tổn thương phải lớn hơn 3cm đường kính.
1.3.2. Siêu âm:
Khi một chùm siêu âm phát ra xuyên qua các tổ chức đến mặt tiếp giáp
giữa 2 tổ chức có tỉ trọng khác nhau nó sẽ dội lại, sự dội đó nhiều hay ít tùy theo
sự chênh lệch về tỉ trọng giữa 2 tổ chức. Chỉ những cơ quan đặc mới có khả năng
truyền âm do đó siêu âm chỉ thăm dò được các cơ quan đặc như : gan, mật, lách,
tụy… Các cơ quan rỗng chứa hơi không truyền âm được cho nên không thể áp
dụng cho dạ dày ruột thừa.
+ Giá trị chẩn đoán:
- Cho biết kích thước của cơ quan.
Dùng thăm dò thực quản, dạ dày và trực tràng. Phương tiện cần một ống
nội soi mềm có gắn bộ phát siêu âm tần số cao hơn siêu âm ngoài (10 MHZ) để có
thể vừa tiến hành nội soi vừa làm siêu âm. Phương pháp này cho hình ảnh thành
ống tiêu hoá rất rõ do đó nó có khả năng chẩn đoán sớm ung thư ống tiêu hoá. Nó
cũng cho biết tình trạng của các hạch bạch huyết lân cận để biết ung thư đã di căn
chưa.