Máy tạo nhịp tim – Pacemaker doc - Pdf 20

Máy tạo nhịp tim – Pacemaker
Máy tạo nhịp là một thiết bị điện tử dùng để điều trị những bệnh nhân có những
triệu chứng gây ra do nhịp tim chậm bất thường. Máy tạo nhịp có khả năng giữ
nhịp cho tim bệnh nhân.
Nếu tim đập quá chậm, máy tạo nhịp sẽ tạo ra một tín hiệu điện tương tự như tín
hiệu tự nhiên của tim làm cho tim đập nhanh hơn. Mục đích của máy tạo nhịp là
giữ nhịp tim để cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng qua máu đến các cơ quan
trong cơ thể.
CHỨC NĂNG BÌNH THƯỜNG CỦA TIM
Tim là một cơ quan có 4 buồng có chức năng bơm máu. Hai buồn phía trên được
gọi là tâm nhĩ trái và phải, hai buồng phía dưới được gọi là các tâm thất trái và
phải. Tâm nhĩ phải nhận máu tĩnh mạch (máu nghèo oxy) từ cơ thể và bơm nó vào
tâm thất phải. Tâm thất phải bơm máu nghèo oxy đến phổi để nhận oxy. Máu giàu
oxy sẽ từ phổi đi đến tâm nhĩ trái và được bơm xuống từ tâm nhĩ trái xuống tâm
thất trái. Tâm thất trái sẽ phân phối máu giàu oxy đến các phần còn lại của cơ thể.
Ngoài oxy, máu còn chuyên chở các chất dinh dưỡng (glucose, các chất điện giải
v.v ) đến các cơ quan trong cơ thể. Để giữ cho cơ thể được khỏe mạnh, tim cần
phải giữ vững nhịp đập thích hợp để phân phối đủ oxy và chất dinh dưỡng từ tâm
thất trái đến cơ thể.
Nhịp tim bình thường được điều khiển bởi những tín hiệu điện được hình thành từ
một nút tạo nhịp tự nhiên của tim được gọi là nút xoang nhĩ. Nút xoang nhĩ nằm ở
thành tâm nhĩ phải. Những tín hiệu điện từ nút xoang nhĩ sẽ đi dọc theo dải mô
dẫn đặc biệt trên thành tâm nhĩ làm cho các cơ của tâm nhĩ co và bóp. Những tín
hiệu điện tương tự sẽ đi đến nút nhĩ thất, là một vùng nhỏ của tim có chức năng
như một trạm nghỉ giữa chừng của tín hiệu điện giữa tâm nhĩ và tâm thất. Từ nút
nhĩ tất, những tín hiệu điện sẽ đi dọc theo các mô dẫn đặc biệt để đến thành của
các tâm thất làm cho tâm thất bóp.
Bình thường, tim có thể điều chỉnh lượng máu phân phối đến cơ thể bằng cách

oxy và chất dinh dưỡng cho nhu cầu của cơ thể chỉ với nhịp tim rất chậm. Họ
thường bị nhịp chậm bất thường nhưng không có triệu chứng nào cũng như không
bị suy cơ quan. Khi đó nhịp tim chậm trở thành sinh lý bình thường và không cần
phải điều trị.
TĂNG NHỊP TIM BẰNG CÁCH NÀO
Không có thuốc ở dạng uống có thể dùng đều đặn nhằm tăng nhịp tim. Hiện tại,
chỉ có một cách duy nhất làm tăng nhịp tim kéo dài là dùng máy tạo nhịp để gửi
tín hiệu điện đến kích thích tim.
Máy tạo nhịp tạm thời thường được sử dụng đầu tiên, đặc biệt là ở những trường
hợp nghĩ nhịp tim chậm tạm thời và gây ra bởi những nguyên nhân có thể điều trị
hoặc phục hồi được. Máy tạo nhịp tạm thời có thể tháo bỏ ra một cách dễ dàng nếu
nhịp tim trở về bình thường.
Máy tạo nhịp vĩnh viễn cần thiết ở những bệnh nhân bị chậm nhịp tim mạn tính
hoặc do những nguyên nhân không thể phục hồi được.
THIẾT KẾ CỦA MÁY TẠO NHỊP
Máy tạo nhịp vĩnh viễn có 2 phần: buồng máy và các điện cực. Buồng máy chứa
thiết bị ghi thời gian để chỉnh tần số của máy, vòng phát hiện tín hiệu điện từ tim
và pin.
Ở một số bệnh nhân cần máy tạo nhịp vĩnh viễn, có thể xảy ra tình trạng dao động
của tần số tim. Máy tạo nhịp có khả năng "lắng nghe" được tín hiệu điện tự nhiên
từ tim. Khi tim đập bình thường, máy tạo nhịp sẽ không hoạt động. Khi tim ngừng
đập hoặc đập quá chậm, máy tạo nhịp sẽ tạo ra tín hiệu điện kích thích tim đập
theo tần số đã được bác sĩ điều chỉ từ trước.
Máy tạo nhịp tạm thời được đặt ở bên ngoài cơ thể và có thể dùng nguồn điện bên
ngoài, máy tạo nhịp vĩnh viễn được cấy vào bên trong cơ thể do đó cần phải có pin
riêng. Hầu hết những buồng máy tạo nhịp vĩnh viễn hiện đại nhỏ, nhẹ hơn 30g.
Những thiết bị nhỏ và nhẹ này rất tiện lợi khi mang bên trong người. Pin bên trong
buồng máy cũng rất bền. Hầu hết những máy tạo nhịp được cấy vào bên trong cơ
thể có pin có thể hoạt động từ 7 đến 10 năm trước khi cần thay mới.
Những dây dẫn truyền tín hiệu điện từ tim đến máy thường được làm bằng

chỗ vết rạch da sau phẫu thuật.
Đôi khi điện cực được đặt ở mặt ngoài của tim. Nếu điện cực được đặt theo cách
này, thành ngực sẽ được phẫu thuật mở ra. Các điện cực được đặt ở bề mặt tim và
buồng máy được cấy dưới da vùng bụng trên. Do cách cấy này khó hơn và đòi hỏi
phẫu thuật rộng hơn nên nó chỉ được dùng khi không thể đặt điện cực vào bên
trong tim thông qua các mạch máu được. Những trường hợp này thường gặp ở
những trẻ quá nhỏ nên không để đưa điện cực vào mạch máu được hoặc ở những
bệnh nhân lớn nhưng có bệnh tim bẩm sinh. Ngoài ra, khi trẻ lớn lên, khoảng cách
giữa máy tạo nhịp và tim gia tăng, do đó điện cực giữa tim và buồng máy sẽ trở
nên quá ngắn.
Những biến chứng có thể gặp do cấy máy tạo nhịp
Cấy máy tạo nhịp là một thủ thuật an toàn nếu được thực hiện bởi một bác sĩ kinh
nghiệm. Tỷ lệ tử vong do biến chứng trực tiếp của thủ thuật này ít hơn 1/10.000
trường hợp được cấy. Các biến chứng xảy ra ít hơn 1% và bao gồm chảy máu, tổn
thương, và nhiễm trùng vùng cấy, tràn khí vào khoang trống nằm giữa phổi và
thành ngực (cần phải đặt ống ngực dẫn lưu), thủng tim (cần phải dẫn lưu cấp cứu
máu ra khỏi túi bao quanh tim), đột quỵ, cơn đau tim cấp và tổn thương mạch
máu.

NHỮNG LOẠI MÁY TẠO NHỊP
Máy tạo nhịp có thể có một hoặc nhiều điện cực. Máy tạo nhịp đơn buồng có 1
điện cực còn máy tạo nhịp buồng đôi có 2 điện cực.
Điện cực của máy tạo nhịp đơn buồng được đặt vào tâm thất và máy có thể nhận
được tín hiệu và tạo nhịp cho tâm thất. Nếu điện cực được đặt ở tâm nhĩ, máy tạo
nhịp có thể nhận tín hiệu và tạo nhịp cho tâm nhĩ. Tùy thuộc vào nguyên nhân và
tính chất của triệu chứng chậm nhịp tim mà bác sĩ sẽ quyết định đặt điện cực ở
đâu.
Những máy tạo nhịp 2 buồng có 2 điện cực: một đặt ở tâm nhĩ và một đặt ở tâm
thất. Máy tạo nhịp 2 buồng phức tạp và rắc rối hơn máy tạo nhịp đơn buồng. Nó
có thể nhận tín hiệu và tạo nhịp ở cả tâm thất lẫn tâm nhĩ. Nó cũng có thể phối hợp

thay đổi về độ acid và áp lực bên trong các buồng tim cùng với nhiệt độ cơ thể
v.v Mỗi một loại cảm biến có mặt mạnh và mặt yếu riêng. Do không có loại cảm
biến nào là hoàn hảo nên các máy tạo nhịp phối hợp nhiều loại cảm biến lại với
nhau để có thể đo được những hoạt động chuyển hóa của cơ thể một cách chính
xác hơn.

SỐNG CHUNG VỚI MÁY TẠO NHỊP
Hầu hết các bệnh nhân đều có thể quay trở lại nếp sinh hoạt bình thường sau khi
được đặt máy tạo nhịp. Thật ra thì các bệnh nhân dùng máy tạo nhịp thường sẽ
cảm thấy khá hơn và có khả năng làm được nhiều việc hơn trước đây.
Bình thường bệnh nhân sẽ đau ở khu vực cấy máy tạo nhịp trong khoảng một tuần
hoặc hơn sau khi cấy do đó bệnh nhân sẽ được cho thuốc giảm đau. Cũng sẽ là
bình thường nếu bệnh nhân cảm thấy hơi tê và nặng xung quanh khu vực có máy
tạo nhịp trong vài tháng.
Vài ngày sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể thực hiện gần như tất cả các hoạt động
bình thường hằng ngày. Trong vòng một tuần đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ
được yêu cầu không nâng tay ở phía bên cấy máy cao quá đầu để ngăn không cho
các điện cực bị lệch khỏi vị trí và giúp cho chúng trở nên vững chắc và an toàn
bên trong tim. Bệnh nhân cũng sẽ được yêu cầu tránh nâng vật nặng, không chơi
những môn thể thao tiếp xúc và những bài tập thể dục nặng trong vòng vài tuần.
Những mối chỉ khâu ở vùng rạch da sẽ được lấy đi vào khoảng giữa tuần đầu tiên
đến tuần thứ 2 sau phẫu thuật thông thường tại phòng khám hoặc ở các trung tâm.
Đây cũng là thời điểm trao đổi với bác sĩ về mức độ hoạt động, thể dục, triệu
chứng, thời điểm và tần số kiểm tra lại chức năng và mức pin của máy, các dấu
hiệu hỏng hóc của máy và những cảnh báo về tiếp xúc giữa máy với các dụng cụ
điện khác.
Hầu hết các bác sĩ cho phép bệnh nhân quay trở lại làm việc trong vòng 1 hay 2
tuần mặc dù vết mổ có thể phải mất đến 6,7 tuần mới lành lặn hoàn toàn.
Mỗi bệnh nhân sẽ được cho một thẻ ID của máy tạo nhịp có chứa những thông tin
của máy. Bạn nên đưa thẻ này cho các bác sĩ và nha sĩ khác. Đôi khi các nhân viên

dụng cụ này.
Những thiết bị điện công xuất nặng như máy hàn, động cơ xe hơi đang chạy và
một số dụng cụ phẫu thuật chạy bằng điện có thể gây nhiễu cho máy. Bệnh nhân
nên được phép bác sĩ trước khi lái xe hoặc sử dụng dụng cụ phẫu thuật. Mặc dù xe
hơi đang chạy có thể không ảnh hưởng đến máy lúc bệnh nhân đang lái xe nhưng
bệnh nhân nên tránh tựa người vào động cơ đang chạy. Bất kỳ những lo lắng hay
cảnh báo nào đều nên được trao đổi với bác sĩ.

KHI NÀO NÊN THAY PIN

Điện cực và pin của máy tạo nhịp ngày càng hiệu quả hơn do đó tuổi thọ của pin
cũng tiếp tục tăng ngay cả khi kích thước của máy ngày càng nhỏ.
Pin của máy tạo nhịp hiện đại ngày này thường có thể kéo dài đến 7-10 năm. Khi
mức năng lượng của pin xuống thấp, máy tạo nhịp sẽ gửi tín hiệu đến bác sĩ khi
khám định kỳ. Mức pin thấp vẫn còn có đủ thời gian để thay do đó không nên lo
lắng một cách thái quá rằng pin có thể ngừng bất ngờ.
Do pin được dán vào bên trong buồng máy nên thay pin cũng đồng nghĩa với thay
cả buồng máy.

NHỮNG TÍNH NĂNG MỚI CỦA MÁY TẠO NHỊP
Những tiến bộ hấp dẫn trong kỹ thuật chế tạo máy tạo nhịp đã thêm vào đó nhiều
tính năng mới, trong đó bao gồm:
 Khả năng ghi nhận tần số điện tự nhiên của tim. Một số bệnh nhân cảm
thấy có những triệu chứng xuất hiện một cách không liên tục ngay cả sau khi được
cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn. Những triệu chứng này có thể là do có những giai
đoạn nhịp tim nhanh bất thường (vd như rung nhĩ). Ghi nhận nhịp tim giúp bác sĩ
xác định được nhịp tim bất thường (vd như rung nhĩ) có phải là thủ phạm gây ra
những triệu chứng của bệnh nhân hay không.
 Máy tạo nhịp cũng có thể được dùng để ngăn ngừa tái phát những giai đoạn
nhịp tim nhanh như khi bị rung nhĩ. Những máy tạo nhịp này sẽ được trang bị với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status