Phức tạp của các quy định trong xuất nhập khẩu hàng thực phẩm và khả năng của doanh nghiệp Việt Nam pot - Pdf 20

Lời mở đầu
Hoa kỳ là một thị trường lớn, đa dạng và phức tạp, sau 10 năm bình thường hoá
quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, thị trường này đã phát triển rất nhanh.
Chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Phan Văn Khải không chỉ điểm lại sự phát triển
quan hệ hợp tác trong 10 năm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước mà mục đích
chính là tìm kiếm các giải pháp, xác định phương hướng để đưa quan hệ 2 nước
bước lên một tầm cao mới. Điều này được cụ thể hoá thông qua hàng loạt các cuộc
tiếp xúc cấp cao của Thủ tướng Phan Văn Khải với Tổng thống Bush, Thượng viện,
Hạ viện Hoa Kỳ, giới doanh nghiệp, giới truyền thông và các tầng lớp xã hội. Các
cuộc gặp cấp cao là để thế giới, nước Mỹ và người Mỹ hiểu đúng đắn hơn, về đất
nước Việt Nam, con người Việt Nam.
Thành công của chuyến thăm còn là sự xác nhận mối quan hệ giữa hai nước là đối
tác tin cậy - hợp tác về nhiều mặt - ổn định lâu dài trên nguyên tắc tôn trọng lẫn
nhau. Đây là tiền đề để hai nước thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ về nhiều mặt trong đó
có quan hệ thương mại. Quan hệ kinh tế thương mại hai nước sau 10 năm bình
thường hoá đã phát triển rất nhanh về nhiều lĩnh vực thể hiện sự nghiệp đổi mới
kinh tế của ta và hội nhập sâu sắc vào thương mại thế giới, góp phần thúc đẩy quá
trình đàm phán gia nhập W.T.O của Việt Nam. Để tạo điều kiện phát triển hơn nữa
một số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, em xin đi sâu nghiên cứu đề
tài: "Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ khi Việt Nam chưa
gia nhập W.T.O và còn áp dụng hạn ngạch (quota)".
Nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Thị trường Hoa Kỳ và cơ hội xuất khẩu của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị
trường Hoa Kỳ.
Dệt may là mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn vào thị trường Hoa Kỳ, là mặt
hàng có nhiều tiềm năng nhưng đang bị cạnh tranh gay gắt. Em hy vọng rằng đề tài
sẽ góp phần quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.
Chương 1: Thị trường hoa kỳ và cơ hội xuất khẩu của Việt Nam
1. Đánh giá thị trường Hoa Kỳ và phân tích tiềm năng rộng lớn của thị trường Hoa

khi bắt đầu có mối quan hệ hợp tác. Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ thường phải
có khối lượng lớn, đúng quy chuẩn, đảm bảo đúng thời hạn, và không phương hại
lợi ích kinh tế của các Công ty Hoa Kỳ. Từ đó cho thấy chỉ nên lựa chọn và tập
trung đầu tư vào một số mặt hàng và ngành hàng xuất khẩu chủ lực, không dàn trải.
(Ngay cả mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng cần đảm bảo tính thống nhất và có khối
lượng đủ lớn).
Thứ ba, tính pháp lý cao của các quan hệ thị trường.
Môi trường pháp lý của Hoa Kỳ là hết sức phức tạp, nhiều khi có sự khác biệt giữa
luật của Liên Bang, Bang và còn cả những quy định riêng biệt của chính quyền địa
phương. Hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Hoa
Kỳ được thực thi khá tốt vì thế hàng hoá bán ra ở đây phải được bảo hành tốt và an
toàn trong thời gian cam kết để tạo uy tín và niềm tin. Do đó việc hiểu biết các vấn
đề pháp lý liên quan là điều kiện mấu chốt khi xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ và
việc sử dụng các Công ty tư vấn nói chung trong đó có Công ty tư vấn Hoa Kỳ là
điều cần chú trọng.
Thứ tư, tính thống nhất, ổn định cao của hệ thống phân phối.
Hệ thống phân phối hàng hoá ở Hoa Kỳ phát triển ở trình độ cao, có tổ chức hoàn
chỉnh, nếu không dựa vào các hệ thống phân phối hiện có thì không thể đưa hàng
hoá vào thị trường này (không có buôn bán tiểu ngạch hoặc buôn bán đường biên
như có thể thấy trong một số trường hợp khác). Người dân Mỹ có thói quen mua
sắm tại các siêu thị hay cửa hàng lớn. Hệ thống phân phối này vừa là cơ hội, vừa là
thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ.
Nếu chưa tham gia vào các kênh phân phối lớn thì không những không phát triển
được thị trường mà còn cản trở đến thị phần tiêu thụ và gặp những vướng mắc vào
hệ thống luật pháp của Mỹ. Muốn đi đúng kênh các doanh nghiệp Việt Nam cần
phải lựa chọn được nhà phân phối có uy tín và đảm bảo được số lượng và quy cách
hàng hoá đúng với thị hiếu và yêu cầu của khách hàng Mỹ.
Thứ năm, thị trường có sức cạnh tranh rất cao.
Hoa Kỳ là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, trên thị trường Hoa Kỳ có đầy đủ các
nhà cung cấp lớn nhỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, vì thế mức độ cạnh tranh

Thứ chín, hệ thống tư vấn tại Hoa Kỳ giữ vai trò quan trọng đặc biệt là tư vấn pháp
luật.
Đây là đòi hỏi khách quan bởi đặc điểm của thị trường này, chi phí tư vấn tại Hoa
Kỳ rất cao. Các doanh nghiệp Việt Nam phải biết sử dụng tư vấn của các Công ty tư
vấn pháp luật Hoa Kỳ, mặt khác đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nhanh
chóng xây dựng được những Công ty tư vấn của Việt Nam có trình độ chuyên môn
ngang tầm quốc tế như các công ty Hoa Kỳ.
Việt Nam đang thực hiện một chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, thị
trường Hoa Kỳ có tầm quan trọng đặc biệt, là điểm đến của các sản phẩm chế tạo
xuất khẩu. Với việc dành cho Việt Nam quyền xuất khẩu sang Hoa Kỳ trên cơ sở
MFN, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã mở ra những cơ hội to lớn để
phát triển hàng xuất khẩu của Việt Nam. Để có thể tận dụng được cơ hội, biến khả
năng thành hiện thực, tức là có thể thực sự thâm nhập được vào thị trường rộng lớn,
phức tạp và xa xôi như Hoa Kỳ, Việt Nam cần hoạch định một chính sách tổng thể
với các giải pháp đồng bộ cả về phía Nhà nước và doanh nghiệp. Thực tế cho thấy
Hoa Kỳ không chỉ là thị trường xuất khẩu lớn nhất mà còn thông thoáng nhất thế
giới đối với sản phẩm chế tạo từ các nước đang phát triển. Nhập khẩu hàng hoá của
Hoa Kỳ từ Châu á là 422 tỷ USD (năm 2000), nhiều hơn 50% so với nhập khẩu EU
từ Châu á. Năm 2000, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng 128% so
với năm 2001, trong khi đó mức xuất khẩu cùng kỳ nói chung của Việt Nam ra thị
trường thế giới chỉ tăng 10%. Mức xuất khẩu các sản phẩm chế tạo trước đây đã bị
hạn chế bởi thuế suất cao của Hoa Kỳ trước Hiệp định Thương mại, đã tăng đặc biệt
nhanh với tốc độ 50% năm. Trong các sản phẩm chế tạo, sản phẩm xuất khẩu tăng
mạnh nhất là hàng may mặc, tăng tới 900 triệu USD trong năm 2002 (gấp 18 lần so
với kim ngạch xuất khẩu trong năm 2001). Năm 2002 cũng ghi nhận sự tăng lên
nhanh chóng của nhiều mặt hàng xuất khẩu khác như đồ điện (270%), đồ gỗ (50%),
hàng hoá du lịch (5422%) và các mặt hàng công nghiệp hỗn hợp khác 847% không
có gì đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ là một thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nước
đang phát triển đặc biệt là hàng công nghiệp chế tạo vì Hoa Kỳ chỉ đứng thứ hai sau
EU về quy mô (được xác định bằng GNP tổng thu nhập quốc gia). Tuy nhiên đối

nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may, đã mở ra cho họ một tầm
nhìn mới, một hướng đi mới, không những phát huy các thị trường truyền thống
như Nhật Bản và EU mà còn hướng tới thị trường mới đầy tiềm năng như Hoa Kỳ
bởi các yếu tố sau:
Thứ nhất, Hoa Kỳ là một quốc gia đa sắc tộc, đa nền văn hóa, sự phân hóa giàu
nghèo khá rõ…. điều này tạo nên nhu cầu hết sức phong phú, nhất là nhu cầu hàng
tiêu dùng (dệt may, giày dép…) rất đa dạng và do đó hàng hoá của Việt Nam vẫn có
nhiều cơ hội chiếm lĩnh thị trường khổng lồ này, đặc biệt là hàng dệt may một mặt
hàng nhập khẩu với khối lượng lớn của Hoa Kỳ. Các đơn đặt hàng từ Hoa Kỳ có qui
mô lớn hơn nhiều so với các thị trường khác, kể cả Châu Âu và Nhật Bản, một phần
vì Hoa Kỳ có lượng dân số đông trên 293 triệu người, một phần là do đặc điểm và
tính cách của người Mỹ là "càng lớn càng tốt" khác hẳn với cung cách kinh doanh
của người Châu á thường ban đầu mới quan hệ buôn bán họ chỉ đặt đơn hàng với
khối lượng nhỏ sau đó nếu tốt thì mới đặt với số lượng lớn. Nói như thế không có
nghĩa là người Mỹ dễ dàng trong chuyện mua bán mà họ rất chặt chẽ và khắt khe
trong việc soạn thảo và ký kết hợp đồng. Vì thế khi làm ăn với các doanh nghiệp
Mỹ, cần phải xem xét các hợp đồng một cách cẩn thận. ở Mỹ, một hợp đồng được
ký kết bởi các bên liên quan sẽ có sức mạnh toàn năng, trong khi đó một thỏa thuận
miệng thì hầu như không có giá trị
Thứ hai, hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (Bilateral
Trade agreement - BTA) được ký kết tháng 7/2000 đã góp phần tích cực thúc đẩy
xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ tăng nhanh. Chỉ qua hơn 1 năm
thực hiện BTA, thị trường Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu số một của
Việt Nam . Hoa Kỳ đang nhập trên 22% hàng xuất khẩu của Việt Nam . Hoa Kỳ
vừa là thị trường xuất khẩu số 1 vừa là thị trường xuất siêu lớn nhất của Việt
Nam.Các ngành kinh tế Việt Nam đang tạo được đà phát triển mới như may mặc,
giày dép, thủy sản, đồ gỗ, hàng điện tử, thủ công mỹ nghệ… BTA vừa ràng buộc,
vừa làm cơ sở để Việt Nam bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện toàn bộ hệ thống luật
pháp của mình, làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam đồng bộ, thống nhất, ổn định
và tương thích với hệ thống luật pháp quốc tế hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho

trường xuất khẩu chính trong tương lai.
b. Những thách thức đối với các doanh nghiệp dệt may khi thâm nhập thị trường
Hoa Kỳ.
* Các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam rất lớn như: Trung Quốc, Hồng Kông, Đài
Loan, ấn Độ… đây là những quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu hàng dệt may vào thị
trường Hoa Kỳ cũng như EU… kể từ ngày 1/1/2005, các nước Trung Quốc, ấn
Độ… được bãi bỏ hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ. Ngoài ra các
nước này còn được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (Generalized System of
Preferences) của Hoa Kỳ nên sức cạnh tranh hàng dệt may của họ rất lớn, mà điển
hình là Trung Quốc có số lượng hàng dệt may xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng như Eu
với một kỷ lục chưa bao giờ có kể từ khi Trung Quốc được gia nhập vào W.T.O
cách đây 3 năm. Hàng dệt may giá rẻ do Trung Quốc sản xuất đã và đang thống trị
thị trường quốc tế. Mức tăng trưởng mặt hàng này của Trung Quốc quá nhanh sau
1/1/2005. Các loại áo sơ mi cotton và quần tăng 1.250% trong quý I/2005, đặc biệt
là quần cotton tăng 1.500%, đồ lót tăng 300%. Khối lượng hàng dệt may giá rẻ do
Trung Quốc sản xuất đã và đang ồ ạt thâm nhập thị trường Mỹ và EU làm cho hàng
nghìn các doanh nghiệp, cũng như công nhân các nước này phải đóng cửa và nghỉ
việc. Theo hiệp hội quốc tế các nghiệp đoàn tự do (ICFTU), ngành dệt may thế giới
đang đứng trước nguy cơ mất 40 triệu việc làm sau khi chế độ hạn ngạch dệt may
dỡ bỏ báo cáo của ICFTU cho rằng, việc xoá bỏ hạn ngạch dệt may dẫn đến nhiều
nước chuyên xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch như: Bangladesh, Campuchia,
Philipine,Việt Nam, Nam Phi, Dominica, Goatemala và Morixơ… phải đối đầu với
cuộc cạnh tranh hàng dệt may của Trung Quốc và ấn Độ giá rẻ.
* Hạn ngạch (quota) có thể nói là vấn đề bức xúc nhất cho các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam hiện nay. Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã bị hạn ngạch khống
chế ở mức 1,8 tỉ USD (tương đương với 400 triệu đơn vị sản phẩm). Sức cạnh tranh
thấp do bị áp đặt hạn ngạch đã làm giảm từ 5-7% thậm chí 10% khả năng xuất khẩu
so với các nước đã dỡ bỏ hạn ngạch. Tình trạng bị áp đặt hạn ngạch cũng làm cho
xuất khẩu mặt hàng dệt may giảm xuống rõ rệt: từ 1.824 triệu USD trong 10 tháng
đầu năm 2003 giảm xuống còn 1.563 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2004, giảm

sản lượng bông trong những năm qua, tuy có tăng nhưng không đáng kể. Đặc biệt,
vụ bông vừa qua, diện tích trồng bị thu hẹp, làm sản lượng giảm 20% so với những
vụ trước. Nguyên nhân là do người nông dân chuyển sang trồng cây khác, hạn hán
kéo dài đã làm nhiều vùng trồng bông mất trắng hàng nghìn hecta, không cho thu
hoạch. Còn phụ liệu trong nước cũng đã có một số nhà máy sản xuất nhưng không
đáng kể chỉ đáp ứng được khoảng 20 - 25% nhu cầu của ngành.
* Khó khăn nữa là trong việc chiếm lĩnh và giữ mặt hàng dệt may vào thị trường
Hoa Kỳ nếu Việt Nam chưa là thành viên của W.T.O cuối năm 2005 thì các nhà
nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ rút đơn đặt hàng của họ cho các thành viên khác của W.T.O
* Năng lực quản lý, kỹ thuật sản xuất và đảm bảo xuất khẩu ổn định, việc thực hiện
liên doanh, hợp tác, liên kết trong sản xuất để giữ vững thị phần hàng may mặc còn
khó khăn.
3. Vai trò của công tác xúc tiến thương mại để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ
Để thâm nhập thị trường rộng lớn này, công tác xúc tiến thương mại là rất quan
trọng và phải được quan tâm ở cấp Nhà nước và từng doanh nghiệp.
* Về phía Nhà nước cần xây dựng các chương trình xúc tiến xuất khẩu.
Nếu cả Nhà nước và doanh nghiệp có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong công tác
xúc tiến thương mại thì em nghĩ rằng để đưa sản phẩm dệt may cuả đất nước mình
vào Hoa Kỳ là không khó. Nhà nước đã giao cho Bộ thương mại xây dựng cụ thể
chương trình XK hàng dệt may vào Hoa Kỳ, đầu tư vốn cho công tác nghiên cứu
mẫu mốt của hàng may để XK vào Hoa Kỳ. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp
khảo sát thị trường, tham gia hội chợ triển l•m, tổ chức tiếp xúc với các nhà phân
phối hàng dệt may Hoa Kỳ. Với những nỗ lực của Nhà nước, của doanh nghiệp
công tác xúc tiến thương mại sẽ góp phần nâng cao kim ngạch XK hàng dệt may
vào thị trường Hoa Kỳ.
Chương 2 Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ
1. Thực trạng của hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ khi Việt Nam
chưa gia nhập W.T.O và còn áp dụng quota.
Sau khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1994, hai nước tiến hành bình thường hóa
quan hệ chính trị và ngoại giao nhưng về thương mại thì phải sau khi Hiệp định

hiện còn thấp trong 5 tháng đầu năm.
Hai là, thu hồi quota của các doanh nghiệp mới thực hiện được dưới 35%, chuyển
cho các doanh nghiệp khác có khả năng xuất khẩu, và chỉ cấp lại khi những doanh
nghiệp này có nhu cầu xuất khẩu thực sự. Thư của Bộ trưởng Trương Đình Tuyển
ngay lập tức đã gây nên một phản ứng khá mạnh mẽ trong các doanh nghiệp dệt
may. Điều khiến các doanh nghiệp cảm thấy lo lắng là trong bối cảnh cạnh tranh thị
trường khốc liệt, mà quota lại hạn hẹp và khó khăn đến vậy, thì những phương án
mà Bộ trưởng đề xuất liệu có đem lại thuận lợi cho doanh nghiệp hay không? Sau
sự kiện Liên Bộ Thương mại - Công nghiệp cho phép các doanh nghiệp chuyển
nhượng quota hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ, đã xảy ra tình trạng một số
doanh nghiệp có quota nhưng chưa có nhu cầu xuất khẩu, thậm chí không xuất khẩu
được, đã giữ để bán lại cho các doanh nghiệp khác với giá cao, khiến cho thị trường
mua bán quota trở nên náo nhiệt và diễn biến theo chiều hướng xấu, không có lợi
cho hoạt động xuất khẩu của cộng đồng các doanh nghiệp dệt may. Chẳng hạn, các
Cat. "nóng" như quần nam, nữ chất liệu bông (Cat. 347/348 - bảng 6) lúc bình
thường chỉ ở mức 2,5 - 3,5 USD/Tá, nhưng vào thời gian này có doanh nghiệp đòi
chuyển nhượng với giá 8 - 10 USD/tá, hay như áo sơ mi dệt kim nam, nữ chất liệu
bông (Cat.338/339 - bảng 6) đang từ 4USD/tá nay tăng lên 10 USD/tá…. Việc một
số doanh nghiệp cố tình giữ quota nhằm mục đích chuyển nhượng với giá cao đã
khiến cho các doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt là những doanh nghiệp
đã ký được hợp đồng mà lại không còn quota, phải đi mua lại quota với giá cao so
với thực tế. Và hậu quả của việc này là chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bị
tăng lên nhiều lần trong khi giá xuất khẩu đã được thỏa thuận trước trong hợp đồng,
nếu doanh nghiệp đòi tăng giá thì sẽ phải đối mặt với nguy cơ khách hàng bỏ đơn
hàng, còn nếu giữ nguyên giá cũ thì doanh nghiệp sẽ không còn lãi. Thực trạng hiện
nay, nơi cần quota để xuất khẩu thì không có mà nơi không xuất khẩu thì lại có
quota, chẳng hạn như Công ty TNHH May & Thương mại á Châu là doanh nghiệp
chuyên sản xuất các đơn hàng FOB (mua nguyên liệu bán thành phẩm) có mối quan
hệ làm ăn khá tốt với các khách hàng Calmex, Everyarn, các nhà phân phối lớn của
Hoa Kỳ như: The Children Place, K.Mart, Tagert, JC Penny - kim ngạch xuất khẩu

Một doanh nghiệp dệt may ở TP.HCM đề xuất: "Những doanh nghiệp nhỏ, ít xuất
hàng đi Hoa Kỳ thì rất hăng hái ngược lại những doanh nghiệp lớn thường xuyên
xuất hàng sang Hoa Kỳ lại không đồng tình. Việc chỉ có 47 đơn vị trên tổng số hơn
1.000 doanh nghiệp trả lời là quá ít, chưa phản ánh được điều gì, nếu Bộ Thương
mại căn cứ vào đó mà làm thì không thể chính xác".
Nhiều doanh nghiệp tỏ ra e ngại với việc cấp visa tự động. Giám đốc một xí nghiệp
may phân tích, theo thông báo trên, Liên Bộ Thương mại và Công nghiệp thực hiện
cấp visa tự động đối với 2 Cat. 347/348 và 647/648 chỉ từ ngày 1/7/2005 đến
31/8/2005. Như vậy, trong thời gian 2 tháng, doanh nghiệp phải đàm phán với
khách hàng, sau đó tiến hành sản xuất, rồi giao hàng thì không thể trở tay kịp.
Trước tình hình trên, hầu hết các doanh nghiệp kiến nghị chưa nên cấp visa tự động.
Ngoài ra việc thu hồi hạn ngạch của các doanh nghiệp mà 5 tháng qua mới thực
hiện được dưới 35% hạn ngạch, cũng gây nhiều tranh cãi. Bởi trong Thông tư liên
tịch quy định việc cấp và sử dụng hạn ngạch trong đó xác định rõ thời hạn thu hồi là
tháng 9/2005. Thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp đã áp dụng quy định trên để
đàm phán, ký kết hợp đồng với khách hàng. Nay Bộ Thương mại ra quyết định như
vậy, nhiều doanh nghiệp rất lo lắng.
Theo Hội dệt may Thêu đan TP.HCM việc phân bổ hạn ngạch tuy đã công khai,
nhưng hậu quả của các phân bổ cũ từ các năm trước vẫn còn ảnh hưởng, doanh
nghiệp chịu thiệt vẫn tiếp tục chịu thiệt. Tỷ lệ cung ứng quần ở 2 Cat. 347/348 và
647/648 của Việt Nam cho thị trường Hoa Kỳ là khá lớn. Nếu không cấp phép xuất
khẩu tự động sẽ xảy ra tình trạng khê đọng hạn ngạch, ảnh hưởng tới tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may. Đúng như ý kiến của thứ trưởng Lê Danh Vĩnh về
sự cần thiết phải cho phép các doanh nghiệp chuyển nhượng hạn ngạch hàng dệt
may xuất khẩu sang Hoa Kỳ (trên báo Thương mại thứ 6-5-2005) rằng:
Sự cần thiết phải cho phép các doanh nghiệp chuyển nhượng hạn ngạch hàng dệt
may xuất phát từ đặc điểm của hàng dệt may được thể hiện ở một số vấn đề sau đây:
- Mặt hàng luôn thay đổi mẫu mã, thời trang, chủng loại, số lượng, nguyên phụ liệu,
tính thời vụ.
Thị trường dệt may bị khống chế bởi người mua chứ không phải người sản xuất,

Cat. 338/339, đơn giá trung bình thực hiện tại Việt Nam là 5,79 - 8,2 USD/m2 trong
khi ở Bangladesh chỉ 4,66 - 4,88 USD/m2, Trung Quốc khoảng 4,68-5,84
USD/m2và Indonesia 6,46-7,84 USD/m2. Trước thực tế này các chuyên gia thương
mại khuyến cáo các doanh nghiệp nên cân nhắc để giảm giá 5 - 10% nhằm thu hút
khách hàng hoặc phải đầu tư làm hàng chất lượng cao.
2. Phân tích những ưu, nhược điểm những mặt tồn tại của hàng dệt may Việt Nam
khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
* Những ưu điểm của hàng dệt may Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường Hoa
Kỳ.
Hàng dệt may XK vào thị trường Hoa Kỳ có những ưu điểm nổi bật như sau:
- Về hình thức hàng dệt may có ý nghĩa rất quan trọng đối với người Mỹ. Là quốc
gia đa sắc tộc, người Mỹ dễ bị kích thích bởi thị giác, thích cách trình bày sinh
động, nhiều hình ảnh…. đặc biệt họ rất chú ý đến cách ăn mặc, cách trang phục…
Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nhạy bén nắm bắt được tâm lý này của người
Mỹ nên đã nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng kế hoạch đầu tư, đổi mới
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã và sử dụng nguồn
nhân lực…v v ,để đáp ứng nhu cầu của người Mỹ. Lấy Công ty May 10 là một điển
hình, với 10-15 triệu sản phẩm mỗi năm, hơn 6000 công nhân và 13 xí nghiệp thành
viên, May 10 hiện là một trong những doanh nghiệp lớn nhất của ngành may mặc
Việt Nam. May 10 đã xuất khẩu 80% trong tổng số doanh thu hơn 450 tỷ đồng của
mình và hơn 1/2 kim ngạch đạt được là từ việc xuất hàng sang Hoa Kỳ. Từ những
loại hàng chủ lực ban đầu là quần, sơ mi, Jacket…. với hình thức xuất hàng dạng
bán thành phẩm, số lượng ít và giá trị không cao đến nay May 10 đã chuyển sang
hàng veston cao cấp cung cấp cho thị trường Hoa Kỳ đảm bảo độ tin cậy cao đáp
ứng các vấn đề về năng lực, chất lượng nguyên phụ kiện và trách nhiệm xã hội…
Công ty May Việt Tiến là doanh nghiệp có quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh
lớn trong Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Với đội ngũ cán bộ công nhân viên có
trình độ chuyên môn cao, năng động sáng tạo; một cơ sở vật chất và hệ thống máy
móc thiết bị kỹ thuật hiện đại; một hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO
9001 - 2000, SA 8000, Wrap), Việt Tiến luôn đáp ứng cho các thị trường mà đặc

hàng may mặc của Việt Tiến trong những năm tới đối với thị trường Hoa Kỳ sẽ phát
triển bền vững.
- Hàng dệt may Việt Nam đã có kinh nghiệm XK sang các thị trường khó tính là EU
và Nhật Bản, Canada… các doanh nghiệp đa có kinh nghiệm trong tổ chức, điều
hành trong XK nên khi mở được thị trường Hoa Kỳ các doanh nghiệp không tỏ ra
bỡ ngỡ mà nhạy bén với khách hàng Hoa Kỳ.
- Lâu nay tuy chưa trực tiếp XK hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ song các
doanh nghiệp của ta đã may gia công cho Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông để họ
XK vào Hoa Kỳ. Do đó khi ta bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, ta có quota
hàng dệt may Việt Nam XK vào thị trường đa dạng này không mấy khó khăn.
- Việt Nam có lực lượng Việt kiều tại Hoa Kỳ với số lượng lên đến 1,3 triệu người.
Tuy còn có những mặt hạn chế song đã huy động được sự ủng hộ của Việt kiều, họ
làm công tác tuyên truyền quảng bá, môi giới khách hàng như nhiều doanh nghiệp
Việt Nam có cơ sở để tiêu thụ hàng tại Hoa Kỳ.
* Những nhược điểm của hàng dệt may Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường Hoa
Kỳ.
Nhìn chung, hàng dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều mặt nhược điểm như sau: Giá
hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vẫn còn ở mức cao (cao hơn 5-7% và thâm chí
10% so với các đối thủ Trung Quốc, ấn Độ, Bangladesh và Indonesia), chất lượng
thấp, số lượng nhỏ qui mô sản xuất và xuất khẩu chưa lớn, thời gian giao hàng còn
nhiều bất cập, chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu vẫn còn phải nhập của nước
khác, chưa tự chủ được trong sản xuất kinh doanh, hình thức mua nguyên liệu bán
thành phẩm, may gia công là chủ yếu. Bất cập công nghiệp phụ trợ cho hàng dệt
may ảnh hưởng rất lớn, công nghiệp phụ trợ của hàng dệt may là rất yếu kém, năng
lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại quá nhỏ bé, chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp dệt may, đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Nếu so sánh Tổng Công ty dệt may Việt Nam (Vinatex) với toàn ngành dệt may cả
nước, thì năng lực kéo sợi chiếm 67% (đạt 111.000 tấn/170.000 tấn) kim ngạch xuất
khẩu chiếm 24% (đạt trên 1 tỷ USD/4,3 tỷ USD); chế biến bông chiếm 85% (đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status