1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các
mặt hàng chủ lực trong lĩnh vực
công nghiệp của các doanh nghiệp
Việt Nam
2
MỤC LỤC
Chương I : Một số vấn đề cơ bản liên quan đến các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực trong lĩnh vực Công nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam.
I. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và tầm quan trọng của mặt hàng xuất
khẩu chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
3. Ý nghĩa và tầm quan trong
4. Hiệu quả xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chủ lực
II. Vai trò các hoạt động xuất khẩu và mặt hàng công nghiệp chủ lực đối
với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam.
1. Tạo nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu phục vụ quá trình công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước.
2. Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
3. Giải quyết công ăn việc làm, giám tỷ lệ thất nghiệp và các vẫn đề xã
3. Định hướng thị trường mục tiêu
II. Một số kinh nghiệm quốc tế trong việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt
hàng chủ lực.
Kinh nghiệm xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một số nước
Đông Á kể từ khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá đến nay.
1. Trung quốc
2. Đài Loan
3. Ấn Độ
III. Giải pháp nhằm phát triển mặt hàng công nghiệp chủ lực của Việt
Nam trong những năm tới.
A. Giải pháp mang tính vĩ mô
4
1.Giải pháp phát triển và mở rộng nguồn hàng chủ lực cho xuất khẩu
2. Giải pháp tác động hỗ trợ nhằm tạo và mở rộng thị trường đầu ra co
hàng xuất khẩu chủ lực.
B. Giải pháp mang tính vi mô
1. Tổ chức tốt việc nghiên cứu mở rộng và phát triển thị trường.
2. Cần đa dạng hoá chủng loại hàng hóa xuất khẩu.
3. Nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm Việt Nam.
4. Đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công nhân viên.
6. Đảm bảo khâu lưu thông vận chuyển để giao hàng đúng yêu cầu.
7. Phối hợp chặt chẽ với Nhà nước đặc biệt là Bộ thương mại.
8. Các doanh nghiệp cần phối hợp với nhau nhằm thu được hiệu quả tối
đa khi xuất khẩu hàng hóa.
Kết luận.
5
người viết đã lựa chọn đề tài : Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ
lực trong lĩnh vực công nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam cho bài luận của
mình.
2. Mục đích và ý nghĩa
* Mục đích
Khoá luận này nhằm phân tích và tìm hiểu những lợi thế mà các doanh
nghiệp Việt Nam có được trong việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng công
nghiệp chủ lực. Bên cạnh đó, nó cũng đưa ra được một số những thông tin bổ
ích cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu những thị trường tiềm năng cũng
như những cơ hội mới cho việc phát triển các ngành hàng này.
* Ý nghĩa
Thông qua việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu các mặt hàng trong lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp của các doanh
nghiệp Việt Nam. Ngoài ra khoá luận còn nghiên cứu một số vấn đề có liên quan
đến hoạt động này như ; Chính sách khuyến khích xuất khẩu cuả Nhà nước, Thị
trường xuất khẩu
* Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang sản xuất
và xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp .
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, so sánh, phân tích và
tổng hợp, kết hợp những kết quả thống kê .
5. Những kết quả đạt được và những vấn đề mới.
7
Khoá luận phân tích và làm rõ những vấn đề còn tồn tại đối với các
doanh nghiệp Việt Nam, thuận lợi cũng như khó khăn trong việc thúc đẩy hoạt
CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MẶT
HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm
Về câu hỏi “ mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gì ? “, cho đến nay vẫn chưa
có một định nghĩa nào thống nhất ở phạm vi quốc tế.
Tuy nhiên, trong qúa trình quản lý hàng hóa xuất khẩu, một quốc gia
thường chia thành hàng xuất khẩu làm 3 loại : hàng chủ lực, hàng quan trọng và
hàng thứ yếu.
Hàng chủ lực là loại hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu
quốc gia do có thị trường nước ngoài và điều kiện sản xuất trong nước hiệu quả.
Hàng quan trọng là hàng không chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu,
nhưng đối với từng thị trường, từng địa phương lại có vị trí quan trọng. Hàng
thứ yếu là hàng xuất khẩu mà kim ngạch của chúng thưởng nhỏ.
Sự phân loại này dựa trên tiêu chí tỷ trọng giá trị xuất khẩu của mặt hàng
trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng tỷ trọng này cụ thể là bao nhiêu để coi
một mặt hàng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực lại không được thống nhất giữa các
quốc gia. Tuỳ từng quốc gia và ở những giai đoạn khác nhau, tỷ trọng này được
đưa ra khác nhau. Một số nhà nghiên cứu từng cho rằng tỷ trọng của mặt hàng
được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực khi nó chiếm ít nhất 25% kim ngạch
xuất khẩu của quốc gia. Ở Việt Nam, đầu thập kỷ 90 đã cho rằng, việc xác định
9
này không dựa theo tỷ trọng mà lại căn cứ vào giá trị tuyệt đối và cho rằng một
mặt hàng ít ra là phải đạt 100 triệu USD mới trở thành một mặt hàng xuất khẩu
chủ lực. Còn theo các chuyên gia kinh tế Mỹ tại viện “ Technology Export
Management” tại Berkeley (Mĩ), không thể đưa ra một tỷ trọng cụ thể trong khái
niệm hàng xuất khẩu chủ lực, mà việc nhìn nhận một mặt hàng xuất khẩu chủ
không phải là một địa phương nào hay một ngành.
Tóm lại, mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp có 3 đặc
điểm, đặc điểm về kim ngạch, thị trường và điều kiện sản xuất hiệu quả.
3. Ý nghĩa và tậm quan trọng của việc xuất khẩu các mặt hàng công
nghiệp chủ lực.
Trong bối cảnh nền kinh tế mở và xu hướng nhất thể hoá thị trường thế
giới hiện nay thì ngoại thương có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến toàn bộ nền kinh tế. Xuất khẩu có ý nghĩa then chốt đối với sự phát
triển ngoại thương nó riêng và nền kinh tế nói chung. Nhưng xuất khẩu của một
quốc gia có phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu của quốc gia đó, cũng giống như một doanh nghiệp muốn đứng vứng
và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì sản phẩm của doanh nghiệp đó phải
phù hợp nhu cầu thị trường và có sức cạnh tranh cao. Hoạt động xuất khẩu của
một nước muốn phát triển được đòi hỏi nước đó phải có mặt hàng xuất khẩu hợp
lý? Một cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý phải cho phép đạt hiệu quả kinh tế - xã
hội cao nhất trên cơ sở vận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nước, đảm bảo sự
phát triển ổn định, lâu dài cho nền kinh tế. Đặc biệt trong cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu này có nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực đóng vai trò quyết định, đại diện
cho toàn bộ cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và thể hiện được tiềm năng, sức mạnh
của một quốc gia. Trong quá trình phát triển ngoại thương của mình, hiện nay
trên thế giới nói chung và đặc biệt trong khu vực Đông Nam á nói riêng các
11
nước đang tiến hành song song hai chiến lược đó là đa dạng hoá mặt hàng xuất
khẩu và xây dựng một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Hai chiến lược này không
hề mâu thuẫn mà trái lại bổ sung cho nhau, hỗ trợ cho nhau. Đa dạng hoá mặt
hàng xuất khẩu để phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển xuất khẩu, tránh
rủi ro đột biến về thay đổi nhu cầu thị trường. Còn xây dựng nhóm hàng xuất
khẩu chủ lực là nhằm tập trung tạo ra một nhóm mặt hàng có vai trò động lực
trong nước. Để có thể làm được điều này đòi hỏi hỏi phải có sự đầu tư cho sản
xuất, nâng cao trình độ chế biến (máy móc, khoa học công nghệ, trình độ lao
động ). Điều này có nghĩa là thông qua việc xây dựng củng cố phát triển nhóm
hàng xuất khẩu chủ lực đã góp phần chuyển dịch cần cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Như vậy việc xây dựng, phát triển nhóm công nghiệp xuất khẩu chủ lực
đã góp phần mở rộng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nói riêng và cơ cấu toàn bộ
nền kinh tế nói chung theo hướng công nghiệp, hiện đại.
Thực tế nước ta, hoạt động xuất khẩu và xây dựng nhóm mặt hàng xuất
khẩu chủ lực đến nay đã có những tác động tích cực. Từ điểm xuất phát là nước
có nền sản xuất kém phát triển đến nay chúng ta đã cơ bản hình thành được một
số ngành có quy mô sản xuất lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tiêu biểu là các ngành
dệt may, da - giày. Sản phẩm của các ngành này đã vượt qua được hàng rào kỹ
thuật vào được các thị trường khó tính như EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản và cơ bản
cạnh tranh được các sản phẩm cùng loại của các nước.
3.2. Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu
Một nền kinh tế có cơ sở vật chát nghèo nàn, kém phát triển nếu đầu tư
phân tán thì các mặt hàng xuất khẩu nếu có cũng rất nhỏ bé không đáng kể. Kết
13
quả là nguồn ngoại tệ đặc biệt quan trọng thu từ hoạt động xuất khẩu là nhỏ bé
và do đó tác động của nó đối với quá trình phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế là không đáng kể. Nhưng cũng trong điều kiện khó khăn về nguồn
vốn như vậy nếu song song với quá trình đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, căn
cứ vào thị trường thế giới và lợi thế so sánh cảu đất nước tập trung nguồn lực ưu
tiên phát triển một số mặt hàng chủ lực thì đây sẽ là động lực để thúc đẩy xuất
khẩu phát triển tăng nhanh kim ngạch. Nhóm hàng này sẽ tạo được đột biến
trong hoạt động xuất khẩu. Cụ thể nhóm hàng xuất khẩu chủ lực thường là
những mặt hàng có kim ngạch lớn, chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng kim
kỹ thuật với nước ngoài.
Như đã phân tích ở phần trên hoạt động xuất khẩu nói chung có tác dụng
thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Trong đó quan hệ hợp tác kinh tế,
khoa học kỹ thuật là một bộ phận của quan hệ kinh tế quốc tế. Nhờ có mở rộng
hoạt động xuất khẩu mà một quốc gia thiế lập và củng cố được mối quan hệ hợp
tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với các nước khác.
Thực tiễn nước ta đã chứng minh điều này. Hoạt động xuất khẩu mà đi
đầu là xuất khẩu hàng chủ lực đã mở đường, thúc đẩy các hoạt động hợp tác
kinh tế và khoa học kỹ thuật với các nước. Gần đây chúng ta có thể nhận thấy
cùng với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của nước ta với các nươ mà điển
hình gần đây là Mỹ, EU và Nhật Bản - 3 trung tâm kinh tế lớn của thế giới, các
hoạt động hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật của nước ta với 3 đối tác lớn này
cũng đang chuyển biến tích cực. Đặc biệt đối với Mỹ mãi đến năm 1994 Tổng
thồng Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, năm 1995
quan hệ ngoại giao giữa hai nước mới được thiết lập, nhưng chỉ sau một thời
gian ngắn từ năm 1995 đến nay hoạt động ngoại thương giữa hai nước đã phát
triển mạnh mẽ và kéo theo nó là các hoạt động hợp tác khác. Năm 1993 buôn
bán hai chiều giữa Mỹ và Việt Nam mới đạt 62 triệu USD đến năm 1994 đã là
15
180 triệu USD và năm 1998 giá trị buôn bán hai chiều đã là 927 triệu USD.
Quan hệ đầu tư do vậy cũng được mở rộng nhanh chóng năm 1994 mới có 35
văn phòng đại diện của các Công ty Mỹ tại Việt Nam đến cuối năm 1995 đã
tăng lên đến 150 văn phòng. Mỹ từ chỗ đầu tư không đáng kể vào Việt Nam đã
vươn lên là một trong 10 nhà đầ tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam. Quan hệ
viện trợ và các mối quan hệ kinh tế, hợp tác khoa học kỹ thuật khác cũng đã
được cải thiện tích cực. Có thể nói cùng với những nỗ lực ngoại giao thì quan hệ
xuất nhập khẩu mà đáng kể là hoạt động xuất khẩu hàng chủ lực đã góp phần cải
thiện thúc đẩy quan hệ hợp tác, đầu tư giữa hai nước. Đến nay có thể nói Mỹ đã
qua trung gian. Mực dù có những hạn chế như vậy song nhóm mặt hàng công
nghiệp xuất khẩu chủ lực cũng có nhiều lợi thế phát triển như giá lao động rẻ, đa
số lao động có trình độ giáo dục phổ thông, vị trí địa lý, khí hậu nên cũng đã
bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước.
Hiệu quả xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chủ lực đã được cải thiện
song còn thấp. Nhìn chung nhóm hàng này chủ yếu là xuất khẩu theo phương
thức gia công và qua trun gian. Tuy kim ngạch nhóm hàng này tương đối cao có
hai mặt hàng là Da - Giầy, Dệt may có kim ngạch hàng năm đạt trên 1 tỷ USD
và Điện tử đạt trên 500 triệu USD nhưng do chủ yếu dựa vào nguyên phụ liệu
nhập khẩu nên lợi nhuận thu về không là bao chủ yếu chỉ bù đắp công lao động
như mặt hàng Da - giày và Dệt may chỉ đạt lượng giá trị gia tăng trong nước chỉ
khoảng 25 - 30% giá trị hàng xuất khẩu.
4.2. Hiệu quả xã hội
Xây dựng, phát triển hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực không những
đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn mang lại nhiều hiệu quả xã hội to lớn.
Hàng năm việc tổ chức sản xuất các mặt hàng công nghiệp kx chủ lực đã tạo ra
công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ dân cư. Trong điều kiện thị trường
thế giới và lợi thế so sánh của nước ta hiện nay thì đa số các mặt hàng xuất khẩu
17
chủ lực vẫn được xây dựng dựa trên lợi thế về giá lao động rẻ và tài nguyên
thiên nhiên là chính.
Các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay cũng
thu hút nhiều lao động dôi dư góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp. Trong
nhóm này điển hình thu hút lao động có thể xét các trường hợp sau. Ngành Dệt
may hiện nay thu hút khoảng 1,6 triệu lao động và dự kiến đến năm 2010 số lao
động trong ngành sẽ vào khoảng 2,5- 3 triệu lao động [2]. Ngành da - giày là
một trong những ngành sử dụng lao động lớn. Theo thống kê ngành Da - giầy
nước ta vào năm 2000 thu hút khoảng 350.000 lao động trong đó bao gồm có
NGHIỆP CHỦ LỰC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
Công nghiệp hoá theo nghĩa hẹp là quá trình thay thế lao động thủ công
bằng lao động cơ khí. Còn theo nghĩa rộng công nghiệp hoá là quá trình thay thế
liên tục từ lao động thủ công lên lao động cơ khí với mức độ ngày càng hiện đại
hơn. Ngay nay công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo một con đường phù hợp đã
trở thành một nhu cầu cấp thiết đối với các quốc gia đặc biệt các nước có nền
kinh tế kém phát triển như Việt Nam để có thể thoát khỏi tình trạng trì trệ,
chống lại đói nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Việt Nam cũng như các
nước đang phát triển khác đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá phát triển kinh tế nhằm khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Hoàn
cảnh hiện nay chứa đựng những khó khăn và thuận lợi cho quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá, hiện đại hoá là chúng ta có thể rút ngắn quá trình này
bằng cách nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến, tiếp thu công nghệ và kinh
nghiệm quản lý từ các nước phát triển mà không phải phát triển từ đầu. Có thể
thấy ngay điều này trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam. Nếu phân
chia hàng hóa nhập khẩu thành hai nhóm tư liệu sản xuất (thiết bị toàn bộ, thiết
bị lẻ, dụng cụ phụ tùng và nguyên liệu vật tư) và tư liệu tiêu dung thì từ năm
19
1990 đến nay nhóm hàng tư liệu sản xuất luôn chiếm tỷ trọng lớn (thường trên
80%) trong kim ngạch nhập khẩu của nước ta: Bảng 1 : Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 1995 - 2000 phân theo nhóm hàng
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000
1. Tư liệu sản xuất (%)
84,8 89,9 89,9 91,5 93,6 94,7
2. Hàng tiêu dùng (%) 15,2 15,2 10,1 8,5 6,4 5,3
1997 325,4 9.185 4.649,1 1.015
15.174,5
1998 258,3 9.340 3.897,4 1.430
14.925,7
1999* 265,2 11.540 1.568,0 1.452
14,818,2
2000 - 14.308 2.012,0 1.500
17.520,0
2001 1.360,0 15.100 2.436,0 1.750
20.646,0
Tổng 2.890,4 72.178 29.590,6 8.744
113.394,0
Nguồn:- Niên giám thống kê 2000.
-TS. Kim Ngọc (chủ biên), Kinh tế thế giới 2001 - 2002 đặc điểm
và triển vọng, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.
Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài tuy rất quan trọng trong giai đoạn đầu
xây dựng nền kinh tế, nhưng phải theo nguyên tắc là nhận vốn đầu tư của nước
ngoài là phải trả bằng sản phẩm hoặc phải chia sẻ tài nguyên cho đối tác. Còn
vay nợ hay viện trợ đều phải trả nợ sau thời gian cam kết bằng mọi cách. Vốn
ODA thì bao giờ cũng đi kèm với điều kiện chính trị. Đối với vốn trong nước thì
số vốn từ dịch vụ du lịch bằng ngoại tệ quá nhỏ bé so với vốn đầu tư ban đầu
cho các ngành này. Như vậy là chỉ có thể trông chờ vào nguồn vốn thu được từ
xuất khẩu hàng hóa.
21
Số liệu cho trong bảng 2 cho chúng ta thấy tổng kim ngạch xuất khẩu
trong 6 năm gần đây là 72.178 triệu USD trong khi đó tổng các khoản thu ngoại
tệ khác mới chỉ đạt khoảng 41.216 triệu USD. Như vậy tổng kim ngạch xuất
khẩu đã chiếm đến 64% tổng nguồn thu ngoại tệ của nước ta. Do vậy có thể nói
Bảng 3 : Tốc độ tăng và cơ cấu GDP của Việt Nam giai đoạn 1991-2000
Tỗc độ tăng Cơ Cấu
Chia ra Chia ra Năm
Tổng
số
Nông
lâm
nghiệp
thuỷ
sản
Công
nghiệp
xây
dựng
Dịch
vụ
Tổng
số
Nông
lâm
nghiệp
thuỷ
sản
Công
sản xuất kém phát triển thì sản xuất còn chưa đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước dẫn đến sản phẩm dư thừa không có hoặc nếu có cũng rất ít. Do vạy
xuất khẩu là hết sức nhỏ bé và tác động của nó đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế là không đáng kể. Và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra hết sức
chậm chạp.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng thị trường đặc biệt là thị trường thế giới là
nhân tố quan trọng trong việc tổ chức sản xuất. Sản xuất những cái mà thị
trường cần chứ không phải là sản xuất những thứ mà mình có khả năng. Thị
trường ngày nay không còn bị bó hẹp trong phạm vi biên giới lãnh thổ quốc gia
24
nữa mà là thị trường thế giới. Xuất phát từ quan điểm này thì xuất khẩu hoạt
động bán hàng hóa của nước mình ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia ngày
càng phát huy vai trọng quan trọng quá trình phát triển kinh tế nói chung và quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng.
Trước tiên hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ tạo môi trường, điều kiện
thuận lợi cho các ngành khác phát triển. Các ngành khác ở đây là những ngành
có liên quan, phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu phát triển tạo nhu cầu phải phát triển một hệ thống phục vụ cho nó
bao gồm có các ngành ngân hàng, vận tải, bảo hiểm Bên cạnh đó muốn xuất
khẩu phát triển thì tiền đề là phải phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.
Các ngành sản xuất hàng xuất khẩu và phục vụ hoạt động xuất khẩu phát triển
thì thu nhập của nhân công hoạt động trong những ngành này cũng sẽ được nâng
cao. Một khi thu nhập tăng thì nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên không còn chỉ
giới hạn ở những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc nữa mà sẽ được mở rộng ra
các nhu cầu cao hơn như vui chơi, giải trí Nhu cầu tăng đến lượt mình ại tạo
tiền đề để phát triển những ngành sản xuất, dịch vụ trong nước phát triển.
Khi một nền kinh tế đang ở giai đoạn kém phát triển thì luôn ở trong tình
trạng cầu vượt quá cung, các nước chưa thấy được nhu cầu mở rộng thị trường.
nghĩa.
Bảng 4: Mốc thời điểm thực hiện chiến lược CNH của các nước ASEAN.
Nước Thay thế nhập khẩu Hướng xuất khẩu
Xingapo 1961 1965
Indonêxia 1967 1982
Thái Lan 1962 1972
Malaixia 1958 1968
Philipin 1946 1970
Nguồn: -WB, Several Country-Specific Report, UNTACD 1987.
-PTS. Đỗ Đức Định, Một số vấn đề về chiến lược CNH và lý
thuyết phát triển, NXB Thế giới, 1999.