Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường Mỹ potx - Pdf 11

1

Luận văn

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả
Việt Nam sang thị trường Mỹ
2 LỜI MỞ ĐẦU
Với ưu thế về điều kiện sinh thái và lao động, Việt Nam có tiềm năng lớn về
sản xuất các loại rau quả mà thị trường thế giới có nhu cầu như chuối, vải, dứa, xoài
nhãn, chôm chôm… và một số loại rau có giá trị kinh tế cao như dưa chuột, khoai tây,
cà chua, ngô rau… Những năm trước đây, khi còn thị trường Liên Xô và các nước
trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), năm cao nhất Việt Nam đã xuất khẩu được
khối lượng rau quả tươi và rau quả chế biến trị giá 30 triệu Rúp chuyển nhượng. Từ

Do thời gian có hạn cùng với kiến thức và sự hiểu biết của nhóm về lĩnh vực xuất
nhập khẩu rộng lớn và phức tạp còn hạn chế, do vậy đề tài này không thể tránh khỏi
những khiếm khuyết. Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp của cô để đề tài được
hoàn thiện hơn.
Nhóm xin chân thành cảm ơn cô!

4 Chương I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu rau quả ở Việt Nam và tầm quan
trọng của xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ.
I. Mối quan hệ thương mại Việt – Mỹ trong thời gian qua.
1. Những điều cơ bản về hiệp định thương mại Việt Mỹ
Hiệp Định thương mại Việt Mỹ được ký kết ngày 13/7/2000 là một sự kiện đánh dấu
bước phát triển tích cực của mối quan hệ song phương kể từ ngày hai quốc gia lập
quan hệ ngoại giao. Hiệp định dài gần 120 trang, gồm 7 chương với 72 điều và 9 phụ
lục, đề cập đến 4 nội dung chủ yếu:Thương mại hàng hoá, Thương mại dịch vụ, Sở
hữu trí tuệ và Quan hệ đầu tư.
Hiệp định được xây dựng trên hai khái niệm quan trọng. Khái niệm “Tối huệ quốc”
(đồng nghĩa với Quan hệ Thương mại bình thường) mang ý nghĩa hai bên cam kết đối
xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước kia không kém phần thuận lợi so với cách

thoại di động, video games, thịt cừu, bơ, khoai tây, cà chua, hành, tỏi, các loại rau
xanh khác, nho, táo và các loại hoa quả tươi khác, bột mỳ, đậu tương, dầu thực vật,
thịt và cá đã được chế biến, các loại nước hoa quả Việc cắt giảm thuế quan các mặt
hàng này được áp dụng dần dần trong giai đoạn 3 năm. Phía Mỹ thực hiện cắt giảm
ngay theo quy định của Hiệp định song phương.
Những biện pháp phi quan thuế: Phía Mỹ, theo quy định của WTO sẽ không có những
rào cản phi quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệt may); trong khi đó, Việt Nam
đồng ý loại bỏ tất cả các hạn chế về số lượng đối với một loạt các sản phẩm nông
nghiệp và công nghiệp (các linh kiện lắp ráp, thịt bò, các sản phẩm cam quýt ) trong
giai đoạn từ 3 -7 năm, phụ thuộc vào từng mặt hàng.
6

Cấp giấy phép nhập khẩu: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấp giấy phép một
cách tuỳ ý, và sẽ tuân thủ theo các quy định của Hiệp định WTO. Về việc định giá trị
đánh thuế hải quan và các khoản phí hải quan, Việt Nam cần tuân thủ các luật lệ của
WTO đối với việc định giá các giao dịch và định giá thuế hải quan, cũng như hạn chế
các khoản phí hải quan đánh vào các dịch vụ được thanh toán trong vòng 2 năm.Về
phía Mỹ, theo Luật Thương mại Mỹ, các công ty của Việt Nam và các nước khác đều
sẽ được cấp giấy phép hoạt động khi có yêu cầu.
Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm: Hai bên cam kết
tuân thủ theo các tiêu chuẩn của WTO; các quy định về kỹ thuật, và những thước đo
về vệ sinh an toàn thực phẩm phải được áp dụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ
được áp dụng trong chừng mực cần thiết để giải quyết những mục đích chính đáng
(bảo vệ con người, bảo vệ cuộc sống của động vật, sinh vật).
Mậu dịch quốc doanh: Cần phải được thực thi theo các quy định của WTO (ví dụ, các
doanh nghiệp quốc doanh Việt Nam trước kia chỉ tiến hành các cuộc giao dịch theo
những mối quan tâm về thương mại và còn ít quan tâm tới các quy định của WTO).
Thương mại dịch vụ
Thương mại dịch vụ được đề cập trong chương 3 của Hiệp định. Chương này áp dụng
cho các biện pháp của các bên có ảnh hưởng tới dịch vụ thương mại.

dịch vụ Internet), vốn của Mỹ không quá 50% vốn pháp định của liên doanh. 2) Các
dịch vụ viễn thông cơ bản (bao gồm mobile,cellular và vệ tinh): liên doanh với đối tác
Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 4 năm, vốn đóng góp phía
Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. 3) Dịch vụ điện thoại cố định: liên
doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 6 năm, vốn
đóng góp của phía Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. Phía Việt Nam
8

có thể xem xét những yêu cầu tăng vốn đóng góp từ phía Mỹ khi Hiệp định này được
xem xét lại sau 3 năm.
Các dịch vụ nghe nhìn: Bao gồm các dịch vụ sản xuất và phân phối phim, các dịch vụ
chiếu phim. Liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ nghe
nhìn, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 49% và sau 5 năm hạn chế về vốn này sẽ là
51%.
Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật đồng bộ có liên quan: Cho phép công ty
100% vốn Mỹ. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
trong 3 năm đầu tiên, sau đó không hạn chế.
Các dịch vụ phân phối ( bán buôn và bán lẻ): Được phép lập liên doanh sau 3 năm
Hiệp định có hiệu lực, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 49%. Sau 6 năm Hiệp định
có hiệu lực hạn chế về vốn này sẽ được bãi bỏ.
Các dịch vụ giáo dục: Chỉ dưới các hình thức liên doanh, 7 năm sau khi Hiệp định có
hiệu lực sẽ được phép lập trường học với 100% vốn Mỹ.
Các dịch vụ tài chính: 1) Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và các bảo hiểm không bắt
buộc: được phép lập liên doanh sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực, vốn đóng góp phía
Mỹ không quá 50%. Sau 5 năm được phép 100% vốn Mỹ. 2) Các dịch vụ bảo hiểm
bắt buộc (bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trong xây
dựng ): được phép lập liên doanh sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực, không giới hạn
vốn đóng góp của phía Mỹ, sau 6 năm được phép 100% vốn Mỹ.
Các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính liên quan khác: 1) Các nhà cung cấp,
công ty thuê mua tài chính và ngoài ngân hàng: được phép thành lập công ty liên

các khu vực trong giai đoạn 2, 6 hoặc 9 năm (tuỳ thuộc vào loại khu vực đầu tư, ví dụ,
đầu tư trong các Khu Công nghiệp hay trong khu vực sản xuất), tuy nhiên Việt Nam
duy trì quyền áp dụng thẩm tra giám sát trong những khu vực ngoại lệ nhất định.
10

Loại bỏ việc giới hạn đóng góp vốn trong các liên doanh: Quy định hiện nay đối với
phần góp vốn phía Mỹ trong các công ty liên doanh ít nhất phải 30% vốn pháp định;
loại bỏ những quy định bán cổ phần phía Mỹ trong liên doanh cho đối tác Việt Nam.
Phía Mỹ chưa được thành lập công ty cổ phần và chưa được phát hành cổ phiếu ra
công chúng, chưa được mua quá 30% vốn của một công ty cổ phần. Những ràng buộc
này sẽ duy trì trong vòng 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Bộ máy nhân sự của liên doanh: Trong vòng 3 năm huỷ bỏ quy định về số thành viên
nhất định người Việt Nam trong Ban giám đốc; giới hạn mạnh mẽ các vấn đề trong đó
“sự nhất trí” của ban giám đốc phải đạt được (ví dụ, trong vấn đề đó các thành viên
Việt Nam có quyền phủ quyết); cho phép các nhà đầu tư Mỹ được phép tuyển chọn
nhân sự quản lý không phụ thuộc vào quốc tịch.
Phía Việt Nam cũng cam kết ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực sẽ loại bỏ dần tất cả
các đối xử không công bằng về giá đối với các công ty và các cá nhân Mỹ như phí lắp
đặt điện thoại và các dịch vụ viễn thông khác, các phí vận tải, thuê mướn nhà xưởng,
trang thiết bị, giá nước và dịch vụ du lịch. Trong vòng 2 năm sẽ bỏ chế độ hai giá đối
với đăng ký ô tô, giá dịch vụ cảng và giá đăng ký điện thoại. Trong vòng 4 năm sẽ bỏ
hẳn chế độ hai giá đối với mọi hàng hoá và dịch vụ kể cả giá điện hay vé máy bay.
Quyền sở hữu trí tuệ
Hiệp định Quyền tác giả được ký giữa Việt Nam và Mỹ ngày 27/6/1997 giúp Việt
Nam tăng cường thêm một bước công tác quản lý các hoạt động văn hoá thông tin
nhằm ngăn chặn việc phổ biến các tác phẩm có nội dung không lành mạnh tại Việt
Nam, hạn chế tệ sử dụng tác phẩm của Mỹ mà không chịu trả tiền để kinh doanh kiếm
lời của một số tổ chức và cá nhân trong nước. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện Hiệp
định, các tác phẩm của Mỹ sẽ được lựa chọn kỹ hơn và phổ biến ở Việt Nam với nội
dung và hình thức tốt hơn.

12

Bước sang thập kỷ 90 quan hệ ngoại giao cũng như quan hệ kinh tế thương mại giữa
hai nước Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến đáng kể, lỗ lực hướng tới các mối
quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi, vì lợi ích của mỗi nước cũng như
hoà bình và thịnh vượng chung trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương và trên thế
giới.
Để đến được với lộ trình này, cả hai phía đã có những lỗ lực vượt bậc theo hướng cuả
"bản lộ trình" được đưa ra dưới thời cực tổng thống G.Bush, trong đó đưa ra các bước
tiến tới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam
Năm 1993, ông B. Clinton lên nắm quyền, đã tán thành và cam kết tiếp tục "bản lộ
trình" của chính quyền ông G.Bush: ngày 2/7 tổng thống Clinton quyết định không
ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế nối lại viên trợ cho Việt Nam. Quyết định có ý
nghĩa hơn nhiều đối với doanh nghiệp Mỹ là ngày 14/9/1993 tổng thống Clinton cho
phép các công ty Mỹ tham gia đấu thầu các dự án phát triển ở Việt Nam do các tổ
chức tài chính quốc tế tài trợ.
Song song với những nỗ lực cải thiện quan hệ của hai chính phủ, của các tổ chức hoạt
động ngoại thương giữa 2 nước trong những năm đầu thập kỷ 90 này đã có được
những bước đột phá ban đầu. Theo số liệu thống kê, nếu xuất khẩu của Việt Nam sang
Mỹ thời kỳ 1986 - 1989 hầu như không có gì, thì năm 1990 đã xuất khẩu được lượng
hàng trị giá khoảng 5.000 USD tăng lên 9.000USD năm 1991,11.000USD năm 1992
và lên tới 58.000USD năm 1993.
 Giai đoạn sau khi Mỹ hủy bỏ lệnh cấm vận:
Ngày 3/2/1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận
chống Việt Nam. Tiếp đó, Bộ Thương mại Mỹ chuyển Việt Nam từ nhóm Z (gồm Bắc
Triều Tiên, CuBa và Việt Nam) lên nhóm Y ít hạn chế thương mại hơn (gồm Liên Xô
cũ, các nước thuộc khối Vacsava cũ, Anbani, Mông Cổ, Lào, Campuchia và Việt
Nam). Bộ Vận tải và Bộ Thương mại Mỹ bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Mỹ
vận chuyển hàng hoá sang Việt Nam, cho phép tàu mang cờ Việt Nam vào cảng Mỹ.
13

Nếu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân quý I/2010 thì tổng
kim ngạch trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong năm 2010 ước có thể đạt
lên đến con số 19 tỷ USD, thậm chí con số này có thể lên đến 20 tỷ USD; trong đó
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có thể đạt hơn 14 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu
hàng hóa ước đạt hơn 5 tỷ USD.
Số liệu Thống kê Hải quan ghi nhận từ năm 2003 đến nay, Hoa Kỳ luôn luôn là thị
trường giành vị trí quán quân về tiêu thụ hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam với tỷ trọng
trung bình giai đoạn 2005 - 2009 chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường chính (đứng ở vị trí thứ
7) cung cấp hàng hóa cho các nhà nhập khẩu Việt Nam. Tỷ trọng bình quân nhập khẩu
từ Hoa Kỳ cả giai đoạn 2005- 2009 chiếm khoảng 3% tổng kim ngạch nhập khẩu của
cả nước từ tất cả các thị trường. Như vậy, tính chung cho cả xuất nhập khẩu thì từ năm
2005-2008 Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ ba của các công ty Việt Nam. Nhưng
sang năm 2009, Hoa Kỳ đã vượt qua Nhật Bản vươn lên vị trí thứ hai, chỉ sau Trung
Quốc.
15

Bảng 1: kim ngạch, tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong năm 2009
Chỉ tiêu
Xuất nhập
khẩu
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Tính toán trên nguồn số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam

USD; sang năm 2008 con số này là 9,23 tỷ USD; trong năm 2009, do chịu ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ và trên phạm vi toàn cầu, xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ giảm so với một năm trước đó trong khi nhập khẩu
từ thị trường này lại tăng nên xuất siêu của Việt Nam đạt 8,35 tỷ USD, tương đương
mức nhập siêu của năm 2007.
Bảng 2: Thống kê kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu
và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2005- 2009

Chỉ tiêu
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
của ViệtNam sang Hoa Kỳ (triệu USD)
5.905 7.829 10.089 11.869 11.356
Tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam sang Hoa Kỳ (%)
- 32,6 28,9 17,6 - 4,3
Tốc độ tăng/giảm xuất khẩu của cả
nước (%)
- 22,8 21,9 29,1 -8,9
Nhập khẩu

bao gồm hàng dệt may, gỗ & sản phẩm gỗ, giày dép các loại, dầu thô, hàng hải sản,
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện,
Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường lớn nhất về nhập khẩu một số mặt hàng
chính của nước ta giai đoạn 2005-2009 như sau: dệt may (chiếm 55% tổng kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này của cả nước); giày dép (chiếm 23%), gỗ và sản phẩm gỗ
(chiếm 33%),
Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hoa Kỳ trong những năm qua bao
gồm máy móc thiết bị & dụng cụ phụ tùng, bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức
ăn gia súc & nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giày,
18

Trong giai đoạn 2005 - 2009, cơ cấu mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ luôn
đứng đầu là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng và chiếm tỷ trọng
khoảng 1/5 tổng trị giá hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Bảng 4: Thống kê kim ngạch, tỷ trọng kim ngạch một số nhóm hàng chính Việt
Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ năm 2009 và quý I/2010
Chỉ tiêu
Kim ngạch
(triệu USD)
Tỷ trọng 1
(%)
Tỷ trọng 2
(%)
Tăng/giảm so
với năm trước
(%)
Năm/
Mặt hàng

súc và nguyên
liệu
176 139 5,9 17,2 10,0 22,6 25,5 631,7
Nguyên phụ
liệu dệt, may,
77 30 2,6 3,7 4,0 5,8 -42,1 138,4
19

da, giày
Máy vi tính,
sản phẩm điện
tử và linh kiện
89 27 3,0 3,3 2,3 2,7 -31,3 73,9
Gỗ và sản
phẩm gỗ
104 34 3,5 4,2 11,5 15,4 -15,7 103,0
Sữa và sản
phẩm sữa
46 23 1,5 2,8 8,9 13,4 -27,6 120,5
Sản phẩm hóa
chất
9
3
27 3,1 3,3 5,9 6,4 66,6 64,2
Hàng hóa khác 1.098 275 36,5 34,0 2,6 2,5 14,6 65,2
Tổng kim
ngạch
3.006 809 100 100 4,3 4,5 14,1 77,8
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Ghi chú: Tỷ trọng 1: tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng đó trong tổng kim ngạch

góp phần nâng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ
thương mại với Mỹ.
Hàng nông sản:
Khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực, ta sẽ thuận lợi hơn trong việc mở
rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Mặt hàng rau tươi xuất sang Mỹ chênh lệch giữa có
MFN và phi MFN là 10% và 50% nên khi có MFN, nước ta có thể xuất khẩu hàng
chục triệu USD rau quả tươi sang Mỹ, nếu đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm nghiêm ngặt của Mỹ (Thuế suất của rau quả giảm từ 22 cent/kg xuống
còn 1 cent/kg và quả tươi giảm từ 10 cent/kg xuống 0,4 cent/kg, chè xanh từ 20%
xuống 7%). Hiện nay mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 30 triệu USD hạt điều.
Các chuyên gia Bộ Thương mại dự đoán kim ngạch xuất khẩu hạt điều có thể tăng lên
gấp đôi (60 triệu USD) nếu các doanh nghiệp sản xuất và chế biến mặt hàng này đáp
ứng được đòi hỏi về chất lượng. Nước ta mỗi năm xuất sang Mỹ trên 100 triệu USD
21

cà phê. Các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam đã có kinh nghiệm trụ ở thị trường Mỹ
nên khả năng xuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Hàng dệt may:
Hiệp định thương mại Việt- Mỹ vừa được ký kết đã mở ra nhiều triển vọng mới cho
ngành dệt may trong thời gian tới bởi Mỹ luôn đứng đầu các nước trên thế giới về
nhập khẩu hàng dệt may. Theo tình hình hiện nay, sau khi Việt Nam được hưởng
Quan hệ Thương mại bình thường, Việt Nam có thể xuất khẩu vào Mỹ với kim ngạch
xấp xỉ 1 tỷ USD ngay từ năm đầu tiên nếu chuẩn bị tốt các điều kiện. Khả năng gia
tăng kim ngạch xuất khẩu dệt may vào Mỹ có nhiều triển vọng do giá lao động thấp,
các công ty Mỹ sẽ tìm kiếm nguồn hàng giá thành rẻ với số lượng lớn tiêu thụ ở Mỹ.
Hiện nay, hàng dệt may Việt Nam với chất lượng cao và chủng loại phong phú đã
được các thị trường khó tính Nhật và EU chấp nhận sẽ dễ dàng chinh phục khách hàng
Mỹ nhất là khi thuế quan bị cắt giảm bởi quy chế NTR. Tuy nhiên, theo Bộ Thương
mại, hàng dệt may là mặt hàng được bảo hộ cao bằng hàng rào thuế quan và hạn
ngạch, trong quan hệ song phương sẽ là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất. Nếu

cả năm nay sẽ đạt trên 250 triệu USD.
3.2. Thách thức
 Những qui định của Mỹ về hàng nhập khẩu:
Luật pháp nước Mỹ quy định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập khẩu hàng
hoá từ nước ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của chính phủ Liên bang. Bộ Thương
mại, Văn phòng đại diện thương mại, Uỷ ban thương mại quốc tế và cụ thể nhất là Hải
quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm đối với vấn đề này. Các giấy tờ cần xuất
trình trong quy trình nhập hàng vào Mỹ gồm: Giấy nhập khẩu hải quan; Hoá đơn
thương mại; Danh mục kiện hàng (nếu có); Giấy tờ khác theo yêu cầu cụ thể của
chính quyền liên bang hay địa phương. Mỹ có nhiều quy định pháp luật chặt chẽ và
chi tiết trong buôn bán, các quy định về chất lượng, kỹ thuật Vì thế, khi các nhà xuất
23

khẩu chưa nắm rõ hệ thống các quy định về luật lệ của Mỹ thường cảm thấy khó làm
ăn tại thị trường này

 Vấn đề gian lận thương mại:
 Vấn đề gian lận thương mại giữa các nước cũng được coi như là một thách thức đối
với Việt Nam khi được hưởng NTR. Khi đó nếu được Mỹ áp dụng GSP (Hệ thống ưu
đãi thuế quan phổ cập) đối với hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ thì sẽ xảy
ra tình trạng hàng hoá một số nước mạo danh là hàng của Việt Nam để được hưởng ưu
đãi. Trong khi giá thành sản xuất của các nước này thấp hơn nhiều so với hàng của
Việt Nam, thậm chí chỉ bằng một nửa giá thành của Việt Nam, lại được hưởng thuế
suất ưu đãi (thông thường dưới 5%), thì hàng của các nước này chắc chắn sẽ cạnh
tranh và đánh bật hàng của Việt Nam và chiếm được thị phần trong thị trường Mỹ.
 Để chống gian lận thương mại hai bên phải tìm ra các biện pháp hữu hiệu như EU và
Việt Nam đã từng làm để hình thành cơ chế kiểm tra kép đối với mặt hàng giày dép
trên cơ sở giấy chứng nhận xuất xứ.
 Công tác xúc tiến thương mại còn hạn chế
 Do chưa hiểu đầy đủ, cụ thể về một ngành nào hoặc một doanh nghiệp cụ thể nào và

25

lượng nội địa trên đầu người và hạng tư về tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo
sức mua tương đương.
GDP năm 2010 của Mỹ là 14.700 tỷ USD, cao hơn 2 lần so với mức 5.800 tỷ USD
của Trung Quốc. Kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ 3,1% trong 3 tháng cuối năm
2010, cao hơn tốc độ tăng trong 3 tháng trước đó nhờ nhu cầu chi tiêu tiêu dùng và
kim ngạch xuất khẩu tăng cao. Tăng trưởng GDP của Mỹ trong cả năm 2010 là 2,9%,
so với mức 2,6% của năm 2009.
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hàng đầu thế giới trong quý I/ 2011 chỉ đạt 1,8%,
giảm mạnh so với tốc độ tăng 3,1% trong quý IV/2010. Nguyên nhân của sự suy giảm
tăng trưởng GDP trong quý I/ 2011 là giá nhiên liệu và thực phẩm tăng mạnh khiến
người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng; thời tiết xấu đã làm đình trệ các dự án xây dựng;
chính phủ Mỹ cắt giảm chi tiêu quốc phòng mạnh nhất trong vòng 6 năm qua và chính
quyền các bang thắt chặt chi tiêu. Ngoài ra, thị trường bất động sản tăng chậm cũng là
một trong những nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng GDP giảm. Tuy nhiên, sự sụt
giảm trong tăng trưởng kinh tế ở quý I/ 2011 của Mỹ chỉ là một bước chững lại tạm
thời và khẳng định sẽ kết thúc. Các chuyên gia phân tích kinh tế dự đoán rằng giá
xăng dầu trên thế giới sẽ dần dần ổn định và kinh tế của Mỹ sẽ đạt mức tăng trưởng là
3% trong ba quý còn lại của năm 2011.
GDP năm 2010 của Mỹ theo cơ cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status