Lời mở đầu
Trong hơn mời năm "Đổi mới", Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để phát
triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao vị thế của đất nứơc trên tr-
ờng quốc tế. Bớc sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam tuy cha "sánh ngang đ-
ợc các cờng quốc năm châu" nhng đã "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn "trong mắt
bạn bè quốc tế.
Thực hiện cơ chế mở cửa là một tất yếu khách quan đối với bất kì một
quốc gia nào nếu muốn phát triển, nhất là trong thời đại ngày nay khi các cụm
từ nh "toàn cầu hoá"(globalization) hay "hợp tác hoạt động" (co_operation) đ-
ợc nhắc tới thờng xuyên không chỉ trên diễn đàn quốc tế mà còn trong nhiều
hoạt động thờng ngày. Trong xu thế đó, cùng với sự nhận thức về nội lực đất
nứơc, Việt Nam bắt đầu con đờng đi lên công nghiệp hoá _hiện đại hoá đất n-
ớc bằng chính sách hớng ra xuất khẩu với những mặt hàng tận dụng lợi thế về
lao động, tài nguyên của quốc gia nh dầu thô, dệt may, giày dép, nông sản,
thuỷ sản. . Hiện nay đây vẫn là hớng đi chính của thơng mại Việt Nam. Tuy
nhiên chính sách này cần đợc đổi mới trong một vài năm tới do những thay
đổi về chính sách của một số quốc gia đối tác cũng nh cần nâng cao vị thế cho
các sản phẩm của Việt Nam.
Một trong số những đối tác thơng mại chính của Việt Nam trong thời gian
qua và sẽ tiếp tục là bạn hàng quan trọng trong những năm tới là EU. Quan hệ
thơng mại Việt Nam _EU không ngừng phát triển cùng với tiến trình hợp tác
của EU và đà lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam do chính sách "Đổi
mới"mang lại. Giày dép hiện nay là mặt hàng xuất khẩu vào EU lớn nhất của
Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm vào thị trờng này luôn tăng với
tốc độ khá cao. Đây là mặt hàng đợc EU dành cho những u đãi về thuế quan
và nó cũng đáp ứng một phần không nhỏ nhu cầu về giày dép cho thị trờng
thống nhất và rộng lớn này. Tuy nhiên đến năm 2005, giày dép sẽ phải đối
mặt với nhiều thách thức do sự thay đổi u đãi về thuế, do sức ép cạnh tranh
của nhiều sản phẩm cùng loại, hoặc cũng có thể do sự phát triển kinh tế không
khả quan của nền kinh tế EU sẽ ảnh hởng tới sức mua. Chính vì vậy ngành
giày dép Việt Nam cần có những bớc đổi mới tích cực hơn nữa. Không phải
1. 2. Đặc điểm
Hoạt động xuất khẩu diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia
Hoạt động xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế so sánh của các quốc gia
Hoạt động xuất khẩu góp phần cải thiện đời sống nhân dân, gia tăng tiến
bộ xã hội
Hoạt động xuất khẩu có thể đợc tiến hành bởi t nhân, doanh nghiệp trong
nớc hay doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
2. Vai trò
2. 1. Đối với nền kinh tế quốc gia
Xuất khẩu tạo vốn bằng ngoại tệ phục vụ cho vấn đề nhập khẩu những
hàng hoá không phải là lợi thế của quốc gia. Điều này rất có ý nghĩa nhất là
đối với các nớc đang phát triển
Xuất khẩu là động lực chính để nền kinh đổi mới và phát triển theo chiều
sâu
Xuất khẩu giải quyết các vấn đề xã hội của một quốc gia nh vấn đề về vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên có hiệu
quả ;giảm sức ép về vấn đề thất nghiệp lên nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia theo hớng
tiến bộ hơn, phù hợp hơn với xu thế của thế giới
2. 2. Đối với doanh nghiệp
Xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, có nguồn thu ngoại
tệ để phục vụ nhu cầu nhập khẩu t liệu sản xuất, dây chuyền công nghệ có vốn
để tái đầu t sản xuất, mở rộng qui mô sản xuất, tạo nhiều công ăn việc làm cho
ngời lao động
Xuất khẩu là động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm về giá cả, chất lợng trên thị trờng thế giới
Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ kinh doanh
với các đối tác nớc ngoài, đồng thời có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý, tác
phong làm việc có hiệu quả của các doanh nghiệp nớc ngoài
3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
công nghệ. . . phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, phát triển lên công
nghiệp chế tạo.
Mặt khác, đây là ngành công nghiệp nhẹ thu hút nhiều lao động, tạo nhiều
công ăn việc làm cho phụ nữ với mức thu nhập bình quân ngày càng tăng. Do
đó với nội lực nền kinh tế Việt Nam hiện nay, giày dép vẫn đợc đánh giá là
một trong những ngành công nghiệp quan trọng, đẩy mạnh xuất khẩu giày dép
tiếp tục là mục tiêu kinh tế chiến lợc của nớc ta trong những năm tới.
1. 2. Xu h ớng chuyển dịch của ngành xuất khẩu giày dép
Từ những năm 80 đã xuất hiện sự chuyển dịch sản xuất giày dép từ những
nớc phát triển sang các nớc công nghiệp mới và tiếp đó là những nớc đang
phát triển. Sản xuất giày dép là quá trình sử dụng nhiều lao động, xét về mặt
kinh tế sẽ dẫnđến ngày càng tăng tỉ lệ sản xuất giày dép tại các nớc có giá sức
lao động thấp, nh các nớc đang phát triển. Các nứơc công nghiệp phát triển,
các nớc công nghiệp mới sẽ phát triển các ngành kĩ thuật cao, sử dụng ít lao
động, giảm các ngành sử dụng nhiều lao động nh công nghiệp giày dép. Châu
á trở thành khu vực sản xuất giày dép chủ yếu của thế giới. Là một quốc gia
nằm trong khu vực châu á và đang bắt đầu quá trình công nghiệp hoá, sự phát
triển của ngành giày dép Việt Nam là phù hợp với xu thế chuyển dịch phân
công lao động mang tính toàn cầu. Xu hớng này sẽ vẫn duy trì trong một thời
gian tới, và ngành giày dép của Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển.
1. 3. Lợi thế của ngành giày dép
Nguồn lực của một quốc gia là yếu tố quan trọng đối với những sản phẩm
mà quốc gia đó sản xuất và hớng ra xuất khẩu. Việt Nam tại thời điểm bắt đầu
quá trình công nghiệp hoá đợc đánh giá là đất nớc có lợi thế về tài nguyên
thiên nhiên, có nguồn lao động dồi dào, chi phí lao động thấp. Do đó chúng ta
tập trung phát triển một số ngành tận dụng đợc lợi thế quốc gia. Giày dép là
một trong những ngành nằm trong định hớng xuất khẩu của Việt Nam trong
những năm qua và một số năm sắp tới. Lợi thế của ngành là chi phí lao động
thấp vì đã tận dụng đợc lực lợng lao động nhất là lao động nữ có tay nghề
không cao với mức lơng trung bình thấp so với nhiều nớc trong khu vực và
thụ khoảng 4_5 đôi giày/ngời /năm, hàng năm EU phải nhập khẩu hơn 800
triệu đôi giày dép các loại, chiếm 29, 3 tổng mức tiêu thụ giày dép của thế
giới. Thị trờng này có đầy đủ các yếu tố thống nhất cũng nh đa dạng của từng
quốc gia thành viên : Thống nhất trong một số các chính sách, thống nhất
trong các hệ thống tiêu chuẩn về sản phẩm, thống nhất trong việc hàng hoá có
thể di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác mà không gặp phải một hạn
chế nào, đồng thời có sự đa dạng về văn hoá, về tập quán tiêu dùng, về thói
quen kinh doanh. Đến 1/5/2004 EU sẽ kết nạp thêm10 thành viên là các quốc
gia ở Trung và Đông Âu, đây là cơ hội cho sản phẩm giày dép của Việt Nam
mở rộng thị trờng, đồng thời khôi phục lại thị trờng truyền thống của những
năm đầu thập niên 90.
Hiện nay, Liên minh châu Âu là một khối thơng mại hàng đầu, và là một
trong ba trung tâm kinh tế hùng mạnh. EU có khuôn khổ thiết chế độc đáo dựa
trên cơ sở hiệp ớc nhằm xác định và quản lý các quan hệ hợp tác về chính trị
và kinh tế giữa 15 quốc gia thành viên. EU không phải là một Nhà nứơc Liên
bang nh Mỹ. Tuy nhiên nó còn hơn cả khu vực mậu dịch tự do. Năm 2000,
GDP của EU đạt 9. 785 tỷ USD lớn hơn Mỹ khoảng 13%, lớn hơn Nhật Bản
khoảng 38%. Bốn thị trờng chính là Anh, Pháp, Đức, Italia chiếm 72% GDP
và đây cũng là 4 quốc gia nằm trong nhóm các nớc công nghiệp lớn nhất thế
giới G7. Do những ảnh hởng của môi trờng quốc tế dẫn đến nhu cầu nhập
khẩu và xuất khẩu của EU giảm, kinh doanh kém đi trong giai đoạn cuối năm
1998 đầu năm 1999. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng tốt, nhu cầu lớn bên trong EU
(đặc biệt là tiêu dùng cá nhân)và sự phục hồi từng bớc của các nớc Đông Nam
á đã thúc đẩy tăng trởng trở lại và đạt mức 2, 6% năm 1999 và lên 3, 32% vào
năm 2000
EU là một khu vực có hoạt động ngoại thơng rất phát triển. Năm 2000 kim
ngạch xuất nhập khẩu của EU chiếm 44, 9% kim ngạch xuất nhập khẩu của
thế giới (gồm cả thơng mại trong EU), chỉ tính riêng kim ngạch xuất nhập
khẩu bên ngoài EU chiếm tới hơn 20% kim ngạch thơng mại toàn cầu. Nếu
không tính đến giao dịch thơng mại trong thị trờng thống nhất thì EU đứng
giày dép Việt Nam đã bắt đầu tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ từ các nớc
thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), đặc biệt từ các nớc NIEs trong khu
vực. Cùng với nó là các đơn đặt hàng chuyển dịch từ những nớc có truyền
thống về sản xuất giày dép nh Đài Loan, Hàn Quốc sang Việt Nam.
Hiện nay có 233 doanh nghiệp hoạt động trong ngành giày dép, tính đến
cuối năm 1999 đã đầu t hơn 550 dây chuyền sản xuất đồng bộ các loại giày
dép, xây mới và sửa chữa nhiều nhà xởng. Ngành đã thu hút gần 400 000 lao
động tham gia sản xuất, năng lực sản xuất toàn ngành ngày càng đợc nâng cao
và hiện nay đạt đợc hơn 360 triệu đôi / năm.
Sau những khó khăn do mất thị trờng truyền thống của những năm 88_90,
xuất khẩu giày dép đã đạt đợc tốc độ tăng trởng cao. Thị trờng xuất khẩu chủ
yếu của ngành giày dép Việt Nam hiện nay là EU. Mỹ và Nhật Bản là hai thị
trờng đứng sau EU về mức nhập khẩu giày dép của Việt Nam. Xét về khả
năng cạnh tranh với hàng ngoại, sản phẩm giày dép Việt Nam đạt loại trung
bình, tơng đơng với sản phẩm cùng loại của Thái Lan, Indonesia, Philipine nh-
ng thấp hơn hàng Trung Quốc với mức giá lại cao hơn
Về cơ bản, có thể nói ngành giày dép Việt Nam có điều kiện thuận lợi để
tăng trởng mạnh và trở thành nớc xuất khẩu giày dép lớn của châu á cũng nh
trên thế giới.
2. Thực trạng xuất khẩu
2. 1. Kim ngạch xuất khẩu
Chính từ sự đầu t, đổi mới dây chuyền sản xuất, năng lực sản xuất ngành
giày dép đã tăng lên nhanh chóng. Chỉ tính trong khoảng thời gian 1997
_2000 sản xuất chung tăng 206 triệu đôi lên đến 303 triệu đôi và chỉ số trung
bình phát triển hàng năm trong giai đoạn này là 14%. Nếu từ năm 1991 trở về
trớc hầu nh chỉ tiêu thụ nội địa, không có xuất khẩu, thì đến năm 1992 đã xuất
khẩu đợc 5 triệu USD và tăng liên tục với tốc độ cao trong những năm sau đó
cho đến nay. Năm 2001 so với năm 1992_ tức là sau 9 năm _kim ngạch xuất
khẩu giày dép đã tăng 312 lần, bình quân 1 năm tăng trởng tới 89, 3 % và hiện
nay đứng thứ 4 trong các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam. Kim ngạch