-
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài
Từ sau khi hình thành vào năm 1975, ngành công nghiệp gỗ và đồ gỗ tại
Việt Nam không ngừng lớn mạnh và tới nay đã trở thành một trong những
ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực tại Việt Nam ( đứng thứ ba sau dệt
may và giày dép). Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn là ngành công
nghiệp này ở nước ta vẫn còn rất nhỏ lẻ và manh mún, số lượng doanh
nghiệp nhỏ và vừa công nghệ non kém còn rất nhiều, một số doanh
nghiệp đạt yêu cầu về công nghệ thì đa số là các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Thêm vào đó là sự thiếu hụt trong nguồn nhân lực và sự
yếu kém trong công tác marketing đã và đang tước đi rất nhiều cơ hội của
ngành công nghiệp này.
o Mục tiêu nghiên cứu
Tập thể nhóm đã nỗ lực thực hiện bài nghiên cứu này trước là để phân
tích những ưu và nhược điểm trong sản xuất và cung ứng, sau là trên nền
bức tranh sáng tối ấy, chúng em đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế trong ngành chế biến và
xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam.
Những giải pháp này được đề xuất dưới dạng một chiến lược Marketing
hoàn chỉnh (bao gồm cả 4P) và một số biện pháp nhằm khắc phục những
hạn chế nội tại trong các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ở Việt Nam
o Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng em thực hiện các phương pháp sau đây
để thu thập thông tin. - Thông tin thứ cấp: Thông qua một số các bài viết trên các nguồn như báo
tạp chí chuyên ngành có đề cập đến hoạt động xuất khẩu, internet và
truyền hình.
- Thông tin sơ cấp: Chúng em có thực hiện một cuộc điều tra khảo sát về ý
2.6 Vai trò của chính phủ 5
3. Khái niệm về Marketing và Marketing quốc tế. 5
4. Vai trò của marketing quốc tế 5
5. Các loại hình marketing quốc tế 6
5.1 Marketing Xuất Khẩu (Export Marketing). 6
5.2 Marketing tại nước sở tại (The Foreign Marketing). 6
5.3 Marketing đa quốc gia (Multinational Marketing). 7
6. Các chiến lược Marketing-mix quốc tế. 7
6.1 Chiến lược sản phẩm và xúc tiến quốc tế 7
6.2 Chiến lược về giá. 7
6.3 Chiến lược phân phối. 7
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ CỦA VIỆT NAM 8
1. Thực trạng xuất khẩu đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam 8
2. Phân tích điểm mạnh yếu của đồ gỗ Việt Nam thông qua mô hình kim cương
Porter 8
2.1 Yếu tố thâm dụng. 8
2.2 Ngành công nghiệp phụ trợ. 15
2.3 Yếu tố nhu cầu 18 2.4 Chiến lược cơ cấu cạnh tranh của các công ty. 21
2.5 Vai trò của chính phủ 22
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG MỸ 24
1. Thị trường và phân khúc thị trường 24
1.1 Kinh tế 24
1.2 Hệ thống luật pháp: 24
1.3 Về hệ thống thuế 30
1.4 Thủ tục hải quan. 31
1.5 Các rào cản thị trường phi luật pháp. 31
1.6 Hệ thống phân phối. 32
công nghiệp xuất khẩu chủ lực tại Việt Nam ( đứng thứ ba sau dệt may và giày
dép). Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn là ngành công nghiệp này ở nước
ta vẫn còn rất nhỏ lẻ và manh mún, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa công
nghệ non kém còn rất nhiều, một số doanh nghiệp đạt yêu cầu về công nghệ thì
đa số là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó là sự thiếu hụt
trong nguồn nhân lực và sự yếu kém trong công tác marketing đã và đang tước
đi rất nhiều cơ hội của ngành công nghiệp này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tập thể nhóm đã nỗ lực thực hiện bài nghiên cứu này trước là để phân tích
những ưu và nhược điểm trong sản xuất và cung ứng, sau là trên nền bức tranh
sáng tối ấy, chúng em đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những điểm mạnh
và khắc phục những hạn chế trong ngành chế biến và xuất khẩu đồ gỗ ở Việt
Nam.
Những giải pháp này được đề xuất dưới dạng một chiến lược Marketing hoàn
chỉnh (bao gồm cả 4P) và một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế nội
tại trong các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ở Việt Nam.
3. Đối tượng và giới hạn của để tài.
Là các công ty sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ hiện có mặt tại Việt Nam. Cùng với
sản phẩm và các chiến lược xuất khẩu và Marketing của họ.
Đề tài chỉ giới hạn trong các số liệu nghiên cứu từ năm 2006 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu.
2
Trong quá trình nghiên cứu chúng em thực hiện các phương pháp sau đây để thu
thập thông tin.
- Thông tin thứ cấp: Thông qua một số các bài viết trên các nguồn như báo tạp
chí chuyên ngành có đề cập đến hoạt động xuất khẩu, internet và truyền hình.
- Thông tin sơ cấp: Chúng em có thực hiện một cuộc điều tra khảo sát về ý
muốn của người tiêu dùng tại các tiểu bang của nước Mỹ.
Phỏng vấn các anh chị phụ trách mảng Kinh Doanh xuất nhập khẩu và mảng
trường nội địa của các nước đó hướng về tương lai nhất, năng động nhất và thách
thức nhất.
2. Mô hình kim cương Porter
Liên quan đến lợi thế cạnh tranh quốc tế, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết nổi
tiếng là mô hình Kim Cương. Mô hình Kim Cương của Porter đặt trên cơ sở những
yếu tố xác định riêng của bốn yếu tố và 2 yếu tố biến thiên bên ngoài, những yếu tố
xác định bao gồm:
2.1. Những điều kiện về năng lực
- Số lượng, kỹ năng và những chi phí về nhân lực
- Sự phong phú chất lượng và chi phí của những tài nguyên của quốc gia
- Vốn kiến thức của quốc gia: nền khoa học kỹ thuật và những am hiểu thị
trường ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng hàng hoá và dịch vụ
- Số lượng và chi phí về vốn có sẵn đối với ngành công nghiệp tài chính
4
- Chủng loại, chất lượng và chi phí sử dụng các cơ sở hạ tầng: hệ thống giao
thông vận chuyển quốc gia, hệ thống truyền thông, hệ thống chăm sóc sức
khỏe.
- Những yếu tố khác tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống trong nước.
2.2. Những điều kiện và nhu cầu
- Sự cấu thành của các nhu cầu tại thị trường địa phương mà nó phản ánh bởi
các khía cạnh thị trường, tính chất tinh vi của người mua và nhu cầu của
người mua tại thị trường địa phương tốt như thế nào đối với những người
mua khác tại thị trường nước khác
- Kích cỡ và mức phát triển về nhu cầu tại một nước
- Những cách làm cho nhu cầu nội địa được quốc tế hoá và đưa những sản
phẩm và dịch vụ ra nước ngoài.
2.3. Những ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan.
Những ngành công nghiệp liên quan mang tính cạnh tranh quốc tế có thể phối
hợp và chia sẻ các hoạt động trong chuỗi mắc xích khi nó cạnh tranh, tiến nhanh
Khái niệm Marketing quốc tế chỉ khác Marketing ở chổ hàng hóa và dịch vụ phải
được tiếp thị và đưa ra khỏi phạm vi của một quốc gia. Điều này có nghĩa là người
làm Marketing quốc tế buộc phải đối diện với một môi trường đa chính trị và đa văn
hóa, phức tạp hơn nhiều so với Marketing nội địa, vì thế, nó đòi hỏi một sự thay đổi
lớn trong cách quản trị Marketing, giải quyết các trở ngại, thành lập và thực hiện các
chính sách Marketing quốc tế.
4. Vai trò của marketing quốc tế
- Mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
- Thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
- Hạ gục đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
- Đảm bảo lợi nhuận về dài hạn.
6
5. Các loại hình marketing quốc tế
Marketing quốc tế gồm có 3 dạng:
5.1. Marketing Xuất Khẩu (Export Marketing).
Ðây là hoạt động Marketing nhằm giúp các doanh nghiệp đưa hàng hóa xuất khẩu ra
thị trường bên ngoài. Như vậy, Marketing xuất khẩu khác Marketing nội địa bởi vì
nhân viên tiếp thị (marketer) phải nghiên cứu nền kinh tế mới với môi trường chính
trị, luật pháp, văn hóa xã hội đều khác với các điều kiện trong nước, buộc doanh
nghiệp phải thay đổi chương trình Marketing trong nước của mình nhằm đưa hàng
hóa thâm nhập thị trường nước ngoài.
Các hoạt động Marketing Xuất Khẩu bao gồm:
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của công ty về năng lực quản lý, sản xuất, kỹ
thuật, tổ chức… để kết luận công ty có khả năng xuất khẩu không.
- Phân tích và nhận dạng sản phẩm dành cho xuất khẩu, tiến hàng cải tiến chất
lượng, bao bì, nhãn hiệu và dịch vụ cho phù hợp với việc xuất khẩu.
- Nhận dạng thị trường xuất khẩu sản phẩm triển vọng.
- Xếp hạng các thị trường xuất khẩu sản phẩm triển vọng.
- Nghiên cứu các thị trường đã chọn ra.
nghi
2. Thích nghi về xúc
tiến
4. Thích nghi kép
6.2. Chiến lược về giá.
Khi thực hiện việc kinh doanh quốc tế, các công ty phải rất chú ý đến việc kiểm
soát giá vì đây là một trong những công cụ cạnh tranh hiệu quả nhất, hơn nữa,
các nhà phân phối trung gian vì muốn tăng lợi nhuận thường rất hay tăng giá.
6.3. Chiến lược phân phối.
Người làm kinh doanh quốc tế nhất thiết phải nghiên cứu về hệ thông phân phối
vì hệ thống phân phối ở các nước khác nhau thì hoàn toàn không giống nhau,
hơn nửa, tại một số nước thì hệ thống phân phối địa phuong là hoàn toàn không
hiệu quả.
Hình 1.1 Hình thức phân phối quốc tế.
Nhà sản
xuất
Nh
ững tổ chức
quốc tế của các
nhà s
ản xuất
Các kênh phân
phối quốc tế
Kênh phân
phối địa
phương
Ngư
2.1.1. Các yếu tố cơ bản.
2.1.1.1. Tài nguyên rừng:
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp nên diện tích đất chủ yếu dành để phát triển
nông nghiệp, trong đó có trồng rừng và khai thác rừng.Tổng diện tích đất tự nhiên
của Việt Nam là 32,9 triệu ha, rừng chiếm 10,9 triệu ha, trong đó 1,5 triệu ha là rừng
trồng.Tây Nguyên có diện tích rừng lớn nhất cả nước với 2,37 triệu ha. Do đất nước
ta trải dài từ Bắc xuống Nam và điạ hình với nhiều cao độ khác nhau so với mực
nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng
9
nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng
cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng thứ cấp, truông cây bụi và đặc biệt là rừng ngập
mặn với nhiều sản phẩm gỗ được khai thác đạt chất lượng cao. Đặc biệt Việt Nam
còn được mệnh danh là rừng vàng biển bạc
Mặc dù vậy, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ mới đáp ứng được 20-30% nhu cầu,
đồng thời Chính phủ cũng giới hạn sản lượng khai thác gỗ hàng năm trong khoảng
150.000 - 200.000 m3/năm, đó là thách thức lớn đối với ngành gỗ từ nay đến năm
2010.Bởi lẽ phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu làm cho lợi thế cạnh
tranh về giá càng giảm,từ đó giảm sức cạnh tranh trên thị trường.
2.1.1.2. Lao động:
Vịêt nam đứng thứ 13 trên thế giới về dân số với 86 triệu dân ; dân số trẻ với 65%
dưới 35 tuổi. Vì vậy có nguồn lao động dồi dào, nhân công giá rẻ. Hiện nay, cả
nước có hơn 2.000 doanh nghiệp chế biến gỗ và xuất khẩu gỗ, sử dụng khoảng
170.000 lao động. Ngành chế biến gỗ Việt Nam tăng mạnh không chỉ về số lượng
nhà máy, quy mô sản xuất mà còn ở việc đầu tư thiết bị hiện đại để nâng cao chất
lượng sản phẩm, cạnh tranh trên bình diện quốc tế. Nhưng tất cả còn thiếu và yếu,
chưa đáp ứng được sự phát triển của ngành đang là bài toán khó giải khi Việt Nam
chưa có đủ các trường đào tạo nghề, bản thân doanh nghiệp cũng không đủ khả
năng tự đào tạo.
Bà Nguyễn Thị Điền, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bình Dương nói, Bình Dương
tâm đến người lao động, môi trường làm việc của họ, trách nhiệm xã hội, bảo vệ
môi trường
2.1.2. Yếu tố tăng cường.
2.1.2.1. Cơ sở hạ tầng.
Ngành giao thông vận tải của Việt Nam cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện voi
đầy đủ các hệ thống đường:
Đường bộ (đường ô tô): Mạng lưới đường bộ đã được mở rộng và hiện đại hoá. Về
cơ bản, mạng lưới đường ô tô đã phủ kín các vùng.
Đường sắt: Tổng chiều dài đường sắt nước ta là 3143 km.
Đường sông:Chiều dài giao thông 11000 km.
11
Đường biển:Thuận lợi: đường bờ biển dài 3260 km, nhiều vũng, vịnh rộng, kín gió
và nhiều đảo, quần đảo ven bờ, nằm trên đường hàng hải quốc tế.
Đường hàng không:Là ngành non trẻ, nhưng có bước tiến nhanh.Đầu năm 2007, cả
nước có 19 sân bay, trong đó có 5 sân bay quốc tế.
Đường ống:Vận chuyển bằng đường ống ngày càng phát triển, gắn với sự phát triển
của ngành dầu khí.
Bưu chính: Có tính phục vụ cao, mạng lưới rộng khắp.Toàn bộ mạng lưới Bưu
chính Việt Nam có hơn 300 bưu cục với bán kính phục vụ là 5,85 km/ bưu cục,
khoảng 18 nghìn điểm phục vụ với mật độ bình quân 2,3 km/điểm và hơn 8000
điểm bưu điện – văn hoá xã
Viễn thông: Tốc độ phát triển nhanh vượt bậc và đón đầu được các thành tựu kĩ
thuật hiện đại cao.Trước thời kì Đổi mới, mạng lưới và thiết bị viễn thông cũ kĩ, lạc
hậu; các dịch vụ viễn thông nghèo nàn. Những năm gần đây, Viễn thông Việt Nam
tăng trưởng với tốc độ cao, đạt mức trung bình 30%/năm. - Công tác nghiên cứu,
ứng dụng các thành tựu khoa học – kĩ thuật, công nghệ mới, hiện đại đang được chú
trọng đầu tư. Sử dụng mạng kĩ thuật số, tự động hoá và đa dịch vụ.Mạng lưới viễn
thông nước ta tương đối đa dạng và không ngừng phát triển.
2.1.2.2. Vốn.
tư công nghệ, thiết bị tiên tiến có khả năng tự sản xuất theo thiết kế và có thể tìm
kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng. Còn lại, phần lớn các cơ sở chế
biến gỗ có công nghệ, thiết bị còn lạc hậu, chưa được đầu tư đúng mức về các công
đoạn như sấy gỗ, hoàn thiện bề mặt sản phẩm Các loại máy móc và trang thiết bị
chủ yếu được nhập từ Trung quốc, Đài Loan,một số ít được nhập từ Đức,
Nhật…Hiện nay do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường các doanh nghiệp sản xuất
đồ gỗ xuất khẩu cũng đã chủ động nhập khẩu khá nhiều thiết bị, máy móc hiện đại
như máy CMC, máy bào, máy định hình, máy sơn tĩnh điện từ các nước Châu Âu
để đảm bảo khả năng sản xuất hàng hóa đạt chất lượng, yêu cầu kỹ thuật như đã ký
trong các đơn hàng với khách.
13
2.1.2.4. Kiểu dáng, mẫu mã và chất lượng.
Chất lượng sản phẩm gỗ của Việt Nam ngày càng đươc nâng cao do chất lượng các
mặt hàng xuất khẩu hiện nay phải có nhiều tiêu chuẩn tốt mới có thể cạnh tranh
được với sản phẩm của các nước khác trên thế giới. Mẫu mã sản phẩm thì ngày càng
được cải tiến, đa dạng, nhất là các sản phẩm làm bang tay có độ tinh xảo cao.
Thực tế cho thấy, mẫu mã mà các công ty đồ gỗ nước ngoài tung ra thị trường rất
phong phú, nhiều chủng loại, kích cỡ khác nhau. Trong đó có nhiều mẫu được làm
theo các chủ đề và mỗi chủ đề đều mang nét riêng với kiểu dáng, màu sắc khác
biệt… Điều đáng nói là các loại sản phẩm này được làm theo dạng mô-đun nên có
thể lắp ráp, tháo rời ra từng mảnh, từng bộ phận, rất dễ dàng di chuyển trong không
gian hẹp.
Ngoài ra, nhiều đơn vị đồ gỗ còn “chiều thượng đế” của mình một cách tối đa khi
nhận thiết kế kiểu dáng, mẫu mã theo ý khách hàng, để sao cho sản phẩm làm ra
không chỉ phù hợp với phong cách của chủ nhân mà còn phù hợp với diện tích,
khung cảnh của căn nhà…
Đơn cử, hệ thống siêu thị nội thất Nhà Đẹp. Sản phẩm của Nhà Đẹp cũng bao gồm
tất cả vật dụng sinh hoạt và trang trí trong nhà. Riêng phòng khách đã có 5 dạng
salon để khách chọn lựa, ví như tuỳ theo không gian nhà và sở thích mà có loại 4
2.1.2.6. Tuân thủ mọi quy tắc xuất khẩu.
Theo như số liệu công bố trên website của Hội đồng Quản trị rừng thế giới (FSC),
đến cuối tháng 3/2008 Việt Nam có đến 151 nhà máy được cấp giấy chứng nhận
quản lí rừng bền vững FSC. Trong khi đó, Thái Lan mới được 8 nhà máy, Indonesia
có 59 và Malaysia là 66.
Dựa vào các con số nhà máy đạt chứng chỉ FSC có thể khẳng định rằng các doanh
nghiệp ngành chế biến gỗ Việt Nam làm ăn rất nghiêm túc không giống như những
gì mà bản báo cáo của EIA và Telapak đã từng cáo buộc Việt Nam là sử dụng gỗ
nhập lậu .
Hơn 70% nguồn nguyên liệu của ngành chế biến gỗ Việt Nam là được nhập khẩu từ
năm châu trên thế giới. Trong khi, ngay cả gỗ khai thác từ những khu rừng trồng
15
trong nước các doanh nghiệp cũng phải chứng minh được nguồn gốc rõ ràng của gỗ,
huống hồ chi là gỗ nhập khẩu từ nước ngoài vào. Thực tế phía Hải quan kiểm tra rất
chặt chẽ hoạt động xuất nhập sản phẩm gỗ. biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam.
2.2. Ngành công nghiệp phụ trợ.
Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, Việt Nam hiện đang là một trong
những quốc gia có thế mạnh về xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ, và đang có mức tăng
trưởng đứng nhì thế giới. Đó là chưa kể việc chính phủ Trung Quốc áp dụng thuế
xuất khẩu cho sản phẩm gỗ từ 2007, tạo thêm thuận lợi mới cho ngành công nghiệp
chế biến gỗ - xuất khẩu Việt Nam, nên triển vọng đạt mức tăng trưởng cao nhất thế
giới trong những năm tới đây là có cơ sở.
Nhưng để đạt được mục tiêu như mong đợi, đó là cả một dây chuyền kết hợp của
các ngành hỗ trợ và các ngành liên quan khác như:ngành chế biến gỗ,ngành sơn gỗ,
keo dán gỗ; ngành giao thông vận tải,hệ thống thông tin liên lạc…
2.2.1. Ngành công nghiệp trồng rừng.
Mối lo lớn nhất của ngành gỗ nước ta là việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu
nhập ngoại, nguồn gỗ nhập khẩu lại không ổn định hoặc phải chịu chi phí rất cao.
80% nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam phải nhập khẩu. Nguyên liệu chiếm đến
một số năm bị thả nổi trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cơ khí có thời
kỳ “lao đao, suy kiệt” nay đang từng bước vươn dậy. Toàn ngành đã duy trì được
tốc độ tăng trưởng ở mức 13-14%/năm trong 3 năm trở lại đây, đây là một cố gắng
lớn của ngành cơ khí. Đặc biệt, kể từ năm 1998 đến nay, một số ngành hàng, sản
phẩm cơ khí đã tạo ra được sản phẩm có chất lượng, đủ sức cạnh tranh ngay trên sân
nhà và từng bước xuất khẩu, tiến tới hội nhập quốc tế.
2.2.3. Ngành sơn gỗ.
Để khắc phục sự tàn phá của thời gian ngành sơn gỗ, keo dán gỗ ra đời và ngày
càng trở nên phổ biến hơn. Ngành sơn gỗ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong
khoảng 10 năm trở lại đây. Các công trình lớn như cao ốc văn phòng, khách sạn,
khu nghỉ dưỡng, nhà ở… ngày càng sử dụng nhiều gỗ trang trí nội thất. Tuy nhiên,
các loại gỗ quý ngày càng giảm nên gỗ thông thường được thay thế và trong trường
hợp này, chỉ có sơn gỗ kỹ thuật cao của thợ lành nghề mới đáp ứng được yêu cầu.
17
Nhu cầu tăng nhanh khiến cho các sản phẩm sơn gỗ cũng xuất hiện ngày càng nhiều
và ngày càng được cải tiến tốt hơn, chất lượng tốt hơn, góp phần tăng khả năng cạnh
tranh của đồ gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới. Một số công nghệ sơn mới như
gesso, sơn tĩnh điện tự động (Automatic Elestrostatics Spraying System) giúp tiết
kiệm 40% chi phí và góp phần giảm thiệu ô nhiễm môi trường so với phương pháp
phun xịt truyền thống.
Hệ thống sơn tĩnh điện bằng đĩa tự động
Hệ thống sơn UV tự động dành cho ván sàn và panel , sơn 8 lớp và sấy khô chỉ
trong vòng 10 phút
2.2.4. Ngành keo dán gỗ.
Trong ngành keo dán gỗ, người ta vừa tạo ra được một loại keo dán làm từ bột ngô.
Từ trước tới nay, người ta vẫn dùng bột mỳ chuyên dụng cho ngành công nghiệp để
làm keo dán gỗ. Nhưng giá của loại bột chuyên dụng này thường khá cao, hơn nữa,
đồ nhôm, nhựa, sắt, inox…như trước đây.
19
Cùng với sự phát triển kinh tế và dòng đầu tư nước ngòai ồ ạt đổ vào Việt Nam
trong một, hai thập kỷ qua, xuất hiện nhu cầu sử dụng những dòng sản phẩm đồ gỗ
trang trí nội thất cao cấp cho các nhà hàng, khách sạn, quán café, khu nghỉ dưỡng,
biệt thự, chung cư căn hộ cao cấp.
Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã nhanh chóng nhập cuộc, tham gia thị trường đồ
gỗ Việt Nam với nhiều lọai sản phẩm trang trí nội thất cao cấp, đa dạng, mang
phong các hiện đại nhưng lại được cách điệu cho phù hợp thị hiếu người Việt Nam.
Các doanh nghiệp trong nước cũng sớm nhận ra nhu cầu này và không ít doanh
nghiệp đã và đang tập trung đầu tư lớn cho công tác tạo mẫu, thiết kế nhằm tạo ra
nhiều sản phẩm khác nhau đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng
Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam liên tục tăng
cao. Tuy nhiên việc tiêu thụ nội địa các sản phẩm gỗ lại chưa được quan tâm đầy đủ.
Sau khi Việt Nam là thành viên của WTO, sản phẩm gỗ của các nước thành viên sẽ
tràn vào Việt Nam và được phép kinh doanh một cách bình đẳng với các doanh
nghiệp trong nước. Đây chính là một thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp chế
biến gỗ Việt Nam.
Mức độ tiêu thụ sản phẩm gỗ trong nước đang có sự tăng trưởng mạnh (bình quân
15%/ năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng của thế giới) cùng áp lực cạnh tranh gay gắt
của các doanh nghiệp nước ngoài, xu hướng tập trung đẩy mạnh thị trường nội địa
đang được các DN gỗ trong nước nhắm tới.
Thị trường nội địa, một thị trường tiềm năng với hơn 80 triệu người tiêu dùng được
chia làm hai nhóm chính: nhóm đồ gỗ đuợc thiết kế với kiểu dáng, mẫu mã có
thương hiệu tiêu thụ ở các thành phố và đô thị lớn do các doanh nghiệp đồ gỗ xuất
khẩu và doanh nghiệp nước ngòai nắm giữ khỏang 60%; còn lại là đồ gỗ giá rẻ do
các cơ sở nhỏ sản xuất chiếm khỏang 40%.
2.3.2. Nhu cầu tại Hoa Kỳ.
2.3.2.1. Quy mô thị trường sản phẩm gỗ tại Hoa Kỳ.