Luận văn:Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các
biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu
của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền
Tình hình nhập khẩu thép phế liệu và các
biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép
phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thuỷ
Ngô Quyền
Kết cấu của bài viết gồm có 2 chơng:
Chơng I. Thực trạng nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô
Quyền
Chơng II. Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu của
Công ty.
Mặc dù bài viết chỉ đề cập tới tình hình riêng của Công ty công nghiệp tàu thuỷ
Ngô Quyền về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu, nhng em cũng hy vọng độc giả qua bài
viết này có thể hiểu thêm phần nào về hoạt động nhập khẩu thép phế liệu nói chung của thị
trờng Việt Nam và từ đó có đợc sự quan tâm hơn nữa đối với vấn đề này.
Hoàn thành đợc bài báo thu hoạch này, em đã nhận đợc sự hớng dẫn và giúp đỡ tận
tình, đầy trách nhiệm của Thạc sỹ Phạm Thị Mai Khanh và các anh, chị phòng kinh doanh
tổng hợp cùng những cán bộ Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền. Nhng vì thời gian
nghiên cứu còn hạn hẹp, tài liệu tham khảo còn hạn chế nên bài viết này không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp chân thành của
Giám đốc ra chỉ thị và truyền đạt thông tin trực tiếp xuống các phòng ban tham mu, và các
phòng ban tham mu này lại xuống các xởng trực thuộc mình quản lý (xem sơ đồ 1).
3/Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Nh đã trình bày ở trên, trong giai đoạn trớc khi chuyển thành Công ty, với chức năng
là một Xởng sản xuất thuộc Tổng công ty Vinashin, Xởng chủ yếu tập trung vào 2 nhiệm
vụ chính do Tổng công ty giao cho, đó là: phá dỡ tàu cũ để lấy thép phế liệu và sản xuất
khí công nghiệp. Sau quyết định 94/1996- TCT của Vinashin về “Thành lập Công ty công
nghiệp tàu thủy Ngô quyền” đợc Tổng giám đốc ký và ban hành ngày 20/2/1996, Công ty
công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền đã và đang thực hiện tốt các chức năng sản xuất kinh
doanh theo ngành nghề đợc phép nh sau:1. Đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ; 2.Sản xuất khí
công nghiệp để phục vụ công nghiệp trong tổng Công ty, trong ngành và tiêu thụ sản phẩm
cho nhu cầu thị trờng; 3. Kinh doanh vật t trang thiết bị cho các phơng tiện thuỷ; 4.Tổ
chức thực hiện các dịch vụ hàng hải; 5.Nhập khẩu thép phế liệu phục vụ cho ngành đóng
tàu truyền thống của Tổng Công ty và đáp ứng nhu cầu trong nớc đối với mặt hàng này
Trong đó, Công ty đặc biệt chú trọng tới 2 hoạt động chính phù hợp với chức năng và
chuyên môn của mình, đó là: Nhập khẩu thép phế liệu và sản xuất khí công nghiệp. Doanh
thu từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của Công ty.
SƠ ĐỒ 1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CNTT NGÔ QUYỀN
II. TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU THÉP PHẾ LIỆU CỦA CÔNG TY CÔNG NGHIỆP
TÀU THỦY NGÔ QUYỀN
1) Quản lý Nhà nớc đối với hoạt động nhập khẩu thép phế liệu
Phù hợp với tình hình thực tế nớc ta đang trong giai đoạn cất cánh, trớc năm 1998
công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi số lợng thép lớn. Trong giai đoạn này, thép là
mặt hàng nhập khẩu quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu của nớc ta vì đây là mặt hàng cần
thiết cho nhiều ngành công nghiệp (đặc biệt là ngành công nghiệp nặng), ngành xây
dựng… Theo thống kê của Bộ công nghiệp: để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thép trong nớc
thì cần phải nhập khẩu 70%.
Tuy nhiên, nhập khẩu không phải là biện pháp hiệu quả và lâu dài cho các nền kinh
tế nói chung. Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất thép trong nớc đã đẩy mạnh hoạt động sản
xuất theo hớng ngày càng nâng cao chất lợng và sản lợng thép để đáp ứng nhu cầu trong
Nam để lấy thép phế. Việc thực hiện mục tiêu 1,5 triệu tấn phôi/ năm là cần thiết nhng
không phải làm ra thép bằng mọi giá”
3
. Cũng theo ông Kinh: “ năng lực xủ lý chất thải của
Việt Nam hiện còn quá kém, nay lại để chất thải ngoại tràn vào thì Việt Nam sớm trở
thành bãi giác”
4
. Nh vậy, nguy cơ đói nguyên liệu cho ngành sản xuất thép đang dần lộ
diện bởi sự khập khễnh giữa tiêu chuẩn thép phế liệu của Việt Nam với tiêu chuẩn Thế
giới. Trong khi đó, giá thép trên thị trờng thế giới có những biến động mạnh (giá các
nguyên liệu cho luyện thép nh: quặng, gang, thép phế, than cốc ) giá phôi thép; giá thành
phẩm thép xây dựng, thép tấm, lá liên tục tăng.
Trớc tình hình đó, các chuyên gia ngành thép cảnh báo sản lợng thép toàn cầu sẽ sụt
giảm hàng loạt sau những đợt nguyên liệu đầu vào tăng chóng mặt. Cung- cầu thép đang
rơi vào tình trạng hỗn loạn, không có đủ cung để đáp ứng cầu đang tăng quá nhanh. Theo
dự kiến, đến năm 2004, nhu cầu sẽ là 936triệu tấn, tăng 5% so với 2003 và sẽ tiếp tục tăng
trong tơng lai. Các chuyên gia ngành thép còn cho biết nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình
trạng trên là do Trung Quốc đang bớc vào xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản làm cho nhu cầu
về thép tăng (2003 là 35 triệu tấn phôi, trong đó nhu cầu trong nớc là trên 25 triệu tấn).
Ngoài ra, Mỹ đã xoá bỏ thuế nhập khẩu (thuế nhập khẩu= 0% ) đối với mặt hàng thép làm
cho nhu cầu thép của nớc này cũng tăng mạnh. Đây là những nguyên nhân chính gây lên
sự biến động lớn cho thị trờng thép trên thế giới, vì Mỹ và Trung Quốc là 2 quốc gia lớn
và có tầm ảnh hởng lớn đối với thị trờng Thế giới.
Tình hình trong nớc và thế giới nh vậy đã gây nên sự biến động lớn về giá thép ở
Việt Nam: Đầu quý I/2004 là 6,4-6,5 triệu/tấn thép, vậy mà đến cuối quý I- đầu quý
II/2004 đã là 8,5- 9,3 triệu/tấn. Chỉ trong một thời gian ngắn giá thép đã tăng chóng mặt.
Để bình ổn lại thị trờng, Hiệp hội thépViệt Nam, Tổng Công ty thép, tổ điều hành thị trờng
trong nớc đã họp và kiến nghị với chính phủ 4 biện pháp: 1.Thúc đẩy sản xuất phôi thép
trong nớc; 2.Tháo gỡ vấn đề nhập khẩu thép phế liệu để sản xuất phôi; 3.Kiểm tra mạng
luới phân phối để tránh đầu cơ; 4.Nhập khẩu thép thành phẩm khi nguồn cung trong nứơc
2) Kim ngạch nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô
Quyền
2.1) Động cơ của hoạt động nhập khẩu thép phế liệu của Công ty công nghiệp
tàu thủy Ngô Quyền
* Xuất phát từ nhu cầu thị trờng:
Sắt thép đợc coi là một trong những mặt hàng có tầm quan trọng chiến lợc trong
công cuộc xây dựng đất nớc. Đặc biệt ở nớc ta hiện nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá-
hiện đại hoá, nhu cầu ngày càng cao đối với mặt hàng thép. Khi kinh tế – xã hội phát triển
thì nhu cầu của con ngời đòi hỏi ngày càng cao, có thể nói nhu cầu của con ngời là không
giới hạn. Hiện nay, nớc ta còn lạc hậu, kém xa các nớc trên thế giới (một phần là do bị
chiến tranh tàn phá trong một thời gian dài). Vì vậy, đất nớc cần phải chuyển mình, đổi
mới nền kinh tế - xã hội để bắt kịp với xu thế phát triển của toàn thế giới. Nhng để đạt đợc
mục tiêu đó, vấn đề cơ bản và cũng là nền tảng là phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc
để từ đó đặt nền móng cho đất nớc đi lên (nh một ngôi nhà muốn vơn cao, vơn xa thì trớc
hết phải tạo đợc móng nhà vững chắc). Trong đó sắt thép đóng vai trò quan trọng, chiến
lợc trong sự nghiệp cách mạng cải cách cơ cấu kinh tế - xã hội của nhân dân ta dới sự lãnh
đạo của Đảng. Nhu cầu về thép ngày càng tăng, trong khi nền công nghiệp khai thác quặng
ở nớc ta còn thấp kém cha đủ để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu của ngành luyện kim.
Hơn nữa, thị trờng thép trên thế giới đang có sự biến động mạnh (giá cả tăng chóng mặt)
khiến cho giá nhập khẩu thép vào nớc ta cao. Trớc tình hình đó, giải pháp trớc mắt và cũng
là lâu dài cho ngành thép ở nớc ta là : nhập khẩu thép phế liệu về để sản xuất phôi thép
phục vụ cho ngành luyện thép đáp ứng nhu cầu thép đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam.
*Đối với Công ty:
Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu là phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công
ty- Ngành nghề truyền thống và cũng là xuất phát điểm của Công ty là nhập khẩu tàu cũ về
để đóng mới và sửa chữa phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu sang nớc ngoài. Cùng
với việc nhập khẩu tàu cũ từ nớc ngoài về, thay vì vận chuyển tàu không, Công ty vận
chuyển thêm sắt thép phế nhập khẩu trên những con tàu nhập khẩu đó, tránh sự lãng phí và
tiết kiệm đợc chi phí nhập khẩu . Hơn nữa, hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của
Công ty cũng cần sử dụng lợng sắt thép phế liệu lớn, do đó thay vì mua lại ở thị trờng
mặt hàng này và từ năm nay sản lợng nhập khẩu vào Việt Nam nhìn chung tăng cao do
nhu cầu nguyên liệu cho ngành thép lớn. Qua phân tích cũng cho thấy mức độ tăng sản
lợng và KNNK không bằng nhau- KNNK thờng tăng cao hơn sản lợng trong cùng một
thời kì, nguyên nhân chủ yếu là do giá thép phế liệu trên thị trờng trong nớc và Thế giới
đang biến động theo xu hớng ngày càng tăng.
Trong giai đoạn đầu thành lập, ngành kinh doanh “nhập khẩu thép phế liệu của
Công ty còn non trẻ, chủ yếu thực hiện theo phơng thức “nhập khẩu tàu cũ về phá dỡ để
sản xuất sắt thép. Thực tế cho thấy, hoạt động kinh doanh “ thép phế liệu nhập khẩu” trong
giai đoạn này cha thực sự làm ăn có hiệu quả, doanh thu thấp, hình9thức kinh doanh còn
manh mún, nhỏ bé, phân tán. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh này chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong tổng doanh thu của Công ty, do đó chỉ có thể đợc tính gộp vào là doanh thu
chung của ngành “ phá dỡ tàu”.
* Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:
1. Do mới thành lập nên vốn của Công ty còn hạn hẹp, nên không thể thực hiện các
hợp đồng lớn về nhập khẩu tàu cũ đợc, mà sản lợng thép phế liệu hoàn toàn dựa vào số
lơng tàu cũ nhập về để phá dỡ. Điều này dẫn đến sản lợng thép phế liệu của Công ty thấp.
Ngoài ra, mới thành lập cũng là nguyên nhân tạo ra sự bất lợi về thời gian và điều kiện gia
nhập thị trờng cha đủ để tạo lập cho mình một vị trí và chỗ đứng trên thị trờng trong và
ngoài nớc. Vì vậy Công ty cha khẳng định đợc uy tín của mình, Điều này khiến cho công
việc kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn: khó khăn trong việc ký kết các hợp
đồng nhập khẩu tàu cũ (khó khăn trong khâu đầu vào), các doanh nghiệp trong nớc còn ít
biết đến sự tồn tại của Công ty hoặc nếu có biết thì vẫn cha có cơ sở để họ đặt niềm tin để
kí các hợp đồng mua sắt thép phế liệu của Công ty (khó về đầu ra).
3. Nhiệm vụ đóng tàu gặp nhiều khó khăn, dẫn đến sản lợng thép phế liệu thấp: Do
từ sau khi Nhà nớc cho phép các doanh nghiệp đợc phép phá dỡ tàu cũ để lấy sắt thép phế
liệu, khiến cho ngày càng có nhiều doanh nghiệp phá dỡ tàu cũ nên việc mua tàu cũ bị
căng giá.
4. Việc làm thủ tục mua bán còn nhiều phiền toái, phụ phí cao, nhất là đối với tàu cũ
của nớc ngoài. Nhiều khi bế tắc sản xuất do khâu thủ tục phải “qua” nhiều “ cửa”, nhiều
“dấu”, đối tác mất niềm tin, Công ty mất nguồn cung.
KNNK( US
D)
THỊ TRỜNG
1 2000 7.500 562.500 100%châu âu
2 2001 11.000 847.000 100%châu âu
3 2002 13.700 2.856.000 70%châu âu, 30%châu á
4 2003 16.000 4.080.000 90%châu á, 10%châu âu
5 2004 21.000 6.447.000 70%châu á,30%châu âu và mỹ
Từ bảng trên cho thấy, số lợng thép phế liệu Công ty nhập khẩu tăng nhanh trong
giai đoạn 2000- 2004, tuy nhiên sự tăng trởng này không đồng đều giữa các năm: 2000-
2001 tăng 3500 tấn (tăng trên 40%), 2001- 2002 tăng 2000 tấn( tăng 18%), 2002- 2003
tăng 3000 tấn (tăng 24%), 2003- 2004 tăng 5000 tấn (tăng 30%). Mặc dù, sự tăng sản lợng
thép phế nhập khẩu của Công ty trong những năm qua là không đồng đều cả về số lợng và
tỷ lệ tăng trởng giữa các năm, nhng nhìn chung sản lợng thép phế nhập khẩu của Công ty
đã tăng khá cao từ năm đầu giai đoạn (năm2000) cho tới năm kết thúc giai đoạn (năm
2004) từ 7.500tấn lên tới 21.000tấn ( tăng 180%). Cùng với sự tăng lên về số lợng thì
KNNK đối với mặt hàng này cũng tăng với mức tăng cao hơn. Đặc biệt là trong giai đoạn
2001 – 2004, KNNK tăng tới mức chóng mặt (tăng 5.600.000 – tơng ứng trên 660%).
Nguyên nhân chủ yếu là do giá thép trong giai đoạn này tăng cao( tăng từ 77USD/tấn năm
2001 lên tới 307USD/tấn năm 2004),và một phần cũng là do sản lợng tăng cao. Trong 6
tháng đầu năm 2005, sản lựong thép phế liệu nhập khẩu của Công ty đạt 16.450tấn, đạt
57% kế hoạch năm, KNNK đạt trên 5triệu USD. Mặc dù con số này còn rất nhỏ so với
tổng KNNK của Việt Nam nhng nó cũng góp phần bình ổn lại thị trờng đang trong tình
trạng hỗn loạn cung – cầu về thép. Nếu tiếp tục duy trì ở mức tăng trởng nh vậy việc hoàn
thành và vợt mức chỉ tiêu năm nay của Công ty sẽ là tất yếu.
Từ bảng 2 cũng cho ta thấy sự thay đổi đáng kể về thị trờng nhập khẩu của Công ty,
chuyển dịch từ nhập khẩu thép phế liệu hoàn toàn từ Châu Âu (năm 2000, 2001 nhập khẩu
100%) dần sang nhập khẩu chủ yếu từ thị trờng Châu á ( hiện nay lợng thép phế nhập khẩu
từ châu á chiếm trên 70%).
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi trên? Trớc đây, bạn hàng truyền thống
công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền cũn vậy: Sau khi nhận đợc đơn chào hàng của nớc ngoài
chào bán, cơ sở để tính giá nhập khẩu của Công ty là giá ở một số thị trờng thép phế liệu
lớn trên thế giới, hoặc có thể tham khảo giá của bạn hàng truyền thống Châu Âu hay giá
trên các tạp chí , bản tin có uy tín trên thế giới. Tuy nhiên, Công ty không thể không tính
đến giá đầu ra cho mặt hàng này nhằm đảm bảo thu lợi nhuận và làm ăn có hiệu quả. Để đi
đến quyết định có chấp nhận giá của phía chào hàng đa ra hay không, Công ty phải tính
toán phần chênh lệch giữa giá thép phế liệu nhập khẩu và giá bán lại ở thị trờng trong nớc,
sau khi trừ đi các khoản chi phí có liên quan có thu đợc lợi nhuận không và khoản lợi
nhuận thu đợc này có đợc coi là hiệu quả kinh doanh hay không? Hiện nay, giá nhập khẩu
và giá bán lại thép phế trên thị trờng Việt Nam của Công ty: Tuỳ từng chủng loại mà Công
ty sẽ nhập khẩu và bán lại với các mức giá khác nhau:
- Loại thép phế liệu dùng cho Cán kéo: Công ty nhập khẩu với giá là 270- 280 USD/
tấn giá CNF Cảng Hải Phòng (cha có thuế VAT, bảo hiểm, phí mở L/C, phí giao nhận bốc
xếp Cảng, phí giám định ), giá bán loại này trên thị trờng hiện nay: từ 4.800.000đ/tấn đến
5.400.000đ/tấn tuỳ thuộc vào kích thớc và chủng loại cụ thể.
- Loại thép phế liệu dùng cho nấu chảy: giá nhập khẩu là 225 USD/tấn giá CNF Hải
Phòng (cha có thuế VAT, bảo hiểm, phí mở L/C ), giá bán 3.900.000đ/tấn-
4.100.000đ/tấn( chỉ bán cho các lò luyện phôi thép, nh: Công ty gang thép Thái nguyên,
Thép Hoà Phát ).
Ngoài việc thụ động chờ phía chào hàng đa ra đơn giá, sau đó so sánh và đa ra
quyết định có chấp nhận giá đó hay không, Công ty cũng đẩy mạnh công tác nghiên cứu,
tìm hiểu thị trờng để chuyển mình sang thế chủ động tìm đến những thị trờng mới có giá
thấp và đảm bảo cung cấp ổn định, lâu dài cho Công ty.
* Về chất lợng thép phế liệu nhập khẩu: Chất lợng là một trong những điều khoản
của hợp đồng nhập khẩu. Vì vậy, phải đề cập chi tiết, cụ thể về chất lợng và quy cách
phẩm chất của hàng hoá để tránh xảy ra sự tranh chấp giữa ngời bán và ngời mua. Mỗi
một mặt hàng có những quy định riêng về tiêu chuẩn phẩm chất và ở mỗi nớc lại có những
quy định khác nhau về mặt hàng đó, đối với thép phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam cũng
vậy. Nhng khi tham gia vào buôn bán ngoại thơng thì phải sử dụng những tiêu chuẩn mang
tính quốc tế.
khỏi.
Từ năm 1986 trở lại đây, Việt Nam thực hiện cơ chế đổi mới, từng bớc tiến hành
công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngành sản xuất thép trong nớc đã có sự chuyển mình. Thay
cho nhập khẩu thép thành phẩm , Việt Nam nhập khẩu phôi thép và thép phế liệu về để
phục vụ cho ngành luyện kim, từ đó tự mình sản xuất thép và từng bớc đáp ứng nhu cầu
trong nớc. Đây là kết quả đáng mừng cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cho
sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta nói riêng- Việt Nam từ chỗ là một nớc
nhập khẩu thành phẩm là chính nay đã trở thành một thị trờng nhập khẩu nguyên liệu về
để tự mình sản xuất
Cơ chế mở cửa đã giúp Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc
trên thế giới, thực hiện phơng châm của Đảng “ Việt Nam muốn trở thành bạn của tất cả
các nớc trên thế giới”. Trên cơ sở đó, bạn hàng của Việt Nam không còn chỉ hạn chế là
Liên Xô cũ và các nớc thuộc khối SEV mà đã mở rộng ra ở tất cả các nớc trong khu vực
và thế giới. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty có nhiều cơ hội để lựa chọn
và xác định bạn hàng cho phù hợp với nhu cầu và ngành nghề kinh doanh của mình, hơn
nữa còn giúp cho Công ty có điều kiện tiến hành phân tích kỹ lỡng và phân loại thị trờng
nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho mình.
Phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, Công ty nhập khẩu thép phế liệu chủ yếu từ
thị trờng Châu á và các nớc thuộc khu vực Châu Âu và một số lợng nhỏ từ các nớc khác
(Nhập khẩu từ Châu á chiếm 70%, Châu Âu và các nớc khác chiếm trên 30% tổng sản
lợng thép phế liệu nhập khẩu của Công ty). Các yếu tố dẫn tới việc quyết định lựa chọn thị
trờng của Công ty: giá cả, chất lợng, số lợng và một vài yếu tố khác.
4. Tình hình tiêu thụ thép phế liệu nhập khẩu của Công ty
Thị trờng trong nớc hiện nay, cầu luôn luôn lớn hơn cung, vì vậy mà số lợng thép
phế Công ty nhập về luôn đợc tiêu thụ hết, Công ty bán lại sản phẩm này với mức giá vừa
phải, phù hợp với giá bán trên thị trờng và đảm bảo Công ty làm ăn có lãi. Tuỳ thuộc vào
từng loại mà giá bán chúng có sự khác nhau, ví dụ: thép dùng cho cán kéo giá bán là
4.800.000đ/tấn- 5.400.000đ/tấn, thép phế liệu dùng cho nấu chảy từ 3.900.000đ đến
4.100.000đ/tấn
4.1. Thị trờng tiêu thụ thép phế của Công ty:
và nhập khẩu thép phế liệu là rất lớn trong tổng doanh thu của cả Công ty. Để minh chứnh
cho điều này, ta có thể làm một phép so sánh đơn giản giữa doanh thu từ hoạt động kinh
doanh nhập khẩu thép phế liệu với doanh thu từ sản xuất khí công nghiệp trong cùng kì:
Năm 2000 doanh thu từ nhập khẩu thép phế liệu là 17,75 tỷ VNĐ, trong khi đó sản xuất
khí công nghiệp chỉ đạt doanh thu 2,7 tỷ (gấp 7 lần); so sánh tơng tự, trong năm 2004 nhập
khẩu thép phế liệu đạt 84 tỷ VNĐ - gấp 14 lần sản xuất khí công nghiệp (5,85 tỷ VNĐ).
Sở dĩ có sự chênh lệch nh vậy là do: hoạt đông sản xuất khí công nghiệp chủ yếu phục vụ
cho công nghiệp phá dỡ trong Công ty và Tổng công ty, chỉ phần nhỏ còn lại là đem ra
tiêu thụ trên thị trờng.
Bảng 3
Bảng doanh thu và lợi nhuận từ “nhập khẩu thép phế liệu”
của Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô quyền
7
T NĂM ĐƠN VỊ DOANH LỢI
T TÍNH THU NHUẬN
1 2000 1000đ 18.750.000 562.500
2 2001 1000đ 29.700.000 891.000
3 2002 1000đ 43.840.000 1.096.000
4 2003 1000đ 56.000.000 1.120.000
5 2004 1000đ 84.000.000 1.680.000
Từ bảng 3 cho ta thấy: doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động “nhập khẩu thép phế
liệu” của Công ty tăng tỷ lệ thuận với mức tăng sản lợng thép phế nhập khẩu. Do nhu cầu
đối với thép phế liệu ở thị trờng trong nớc ngày càng tăng, cung không đủ đáp ứng cầu nên
lợng thép phế do Công ty nhập về không bị tồn kho, nhập về bao nhiêu lại xuất ra hết bấy
nhiêu. Thông thờng, giá tăng sẽ dẫn đến cầu giảm, nhng vì trong giai đoạn hiện nay, sắt
thép đợc coi là mặt hàng thiết yếu đối với ngời dân nên nhu cầu tiêu dùng sắt thép là cần
thiết, mà nguyên liệu chính cho công nghiệp luyện thép lại là thép phế liệu. Do đó, cầu đối
với mặt hàng này không còn phụ thuộc nhiều vào giá cả nữa (mặc dù giá thép phế liệu
tăng cao - trong vòng 3 năm tính từ đầu năm 2001 đã tăng lên gấp 3 lần từ 77USD/tấn lên
đến 307USD/tấn). Giá thép phế liệu tăng cao là một trong những nhân tố tạo lên sự tăng
hợp đồng mua bán, thanh toán và mở L/C đợc thực hiện nhanh.Tạo lập đợc uy tín với
khách hàng trong nứơc giúp Công ty có đợc thêm nhiều hợp đồng bán sản phẩm của mình
và ngày càng mở rộng thị trờng.
+ Ngoài ra, thị trờng đầu ra của chủng loại hàng hoá này là rất lớn( cầu luôn lớn hơn
cung), nh đã đợc phân tích ở trên đối với nhu cầu này là rất lớn – cầu luôn lớn hơn cung
(nh đã phân tích ở trên).
Việc đổi mới, cải tiến hoạt động kinh doanh “nhập khẩu thép phế liệu” theo hớng
ngày càng nâng cao năng lực và chất lợng kinh doanh góp phần làm tăng doanh thu và lợi
nhuận , từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành quả đạt đợc, hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu còn một số vấn đề từ
phía Nhà nớc và cả phía công ty:
+ Trớc hết cần phải kể đến sự cạnh tranh của các đơn vị ngoài ngànhtham gia nhập
khẩu thép phế liệu: Trong cơ chế thị trờng, hệ thống các công ty t nhân rất phát triển. Do
cơ chế thoáng, họ đã nhập ủy thác, nhập trực tiếp, lậu thuế… tạo thành sự cạnh tranh gay
gắt về giá và một sự cạnh tranh gay gắt đáng sợ hơn cả là cơ chế thởng, gửi giá …bất chấp
mọi quy chế tài chính mà Công ty phải chấp hành đầy đủ. Trong khi đó, hệ thống phân
phối của Công ty này vẫn trông mong vào sự mua lại của các công ty luyện thép và các
làng nghề thủ công.
+ Nhà nớc cha có văn bản pháp lý cụ thể quy định chi tiết về quy cách phẩm chất
đối với thép phế liệu nhập khẩu.
+ Thủ tục Hải quan phải qua nhiều khâu, nhiều cửa gây nên nhiều khó khăn cho các
đơn vị kinh doanh nhập khẩu trong khâu làm thủ tục nhập khẩu.
+ Tồn tại cần đợc đề cập ở đây là sự yếu kém của một số đơn vị thuộc khối lu thông,
đầu mối tiêu thụ thép phế liệu nhập khẩu của Công ty. Khối lu thông này nay rơi vào tình
trạng kém năng động nhờng hầu hết thị trờng bán lẻ cho các công ty t nhân.
+ Thị trờng nhập khẩu chủ yếu của Công ty là Châu á luôn có những biến động khó
khăn về kinh tế, chính trị khiến cho công tác nhập khẩu của Công ty gặp nhiều khó khăn,
không ổn định.
+Tỷ giá ngoại tệ của Việt Nam không ổn định, luôn luôn biến động gây ra nhiều
khó khăn trong công tác nhập khẩu.
vụ cho ngành luyện kim không phải là quặng khai thác đợc trong nớc mà là thép phế nhập
khẩu từ nớc ngoài là chủ yếu.
Theo tính toán cho thấy: Nếu một máy công suất 200.000tấn phôi/năm thì thép phế
thu gom đợc trong nớc ớc tính nhiều nhất chỉ đợc 80.000tấn, phần còn lại là nhập khẩu.
Hiệp hội thép Việt Nam cho biết: mỗi năm ngành thép cần 1,5- 2triệu tấn thép phế liệu
phục vụ cho sản xuất và lợng thép phế này chủ yếu có đợc từ nguồn nhập khẩu.
Từ phân tích nhu cầu đối với thép phế liệu ở trên cho ta thấy đợc tầm quan trọng của
nhập khẩu thép phế đối với ngành thép nói riêng và nền kinh tế quốc dân của Việt Nam
nói chung.
2) Xuất phát từ lợi ích của Công ty:
Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu suy cho cùng cũng là nhằm mục đích tăng doanh
thu và lợi nhuận cho Công ty. Nh trên đã phân tích, mức tăng trởng của Công ty hàng năm
đạt tới 30%/năm. Trong đó doanh thu từ hoạt động kinh doanh thép phế liệu nhập khẩu
đóng góp một phần đáng kể cho sự tăng trởng đó ( chiếm trên 60% ). Để có đợc kết quả đó,
tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung và kinh doanh thép phế liệu nói
riêng phải đạt đợc hiểu quả. Ngoài chức năng thu lợi nhuận cho Công ty, việc nhập khẩu
thép phế còn có một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, đó là góp phần bình
ổn lại thị trờng thép ở trong nớc- nhập khẩu thép phế liệu giúp các doanh nghiệp sản xuất
thép ổn định về nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, từ đó giúp giảm bớt sự biến động
của thị trờng thép trong nớc do nhu cầu đối với mặt hàng này đang tăng mạnh.
Nh vậy, việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu là rất cần thiết đối với
Công ty, cũng nh đối với nền kinh tế nớc ta.
II. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU
THÉP PHẾ LIỆU
1. Kiến nghị đối với nhà nớc
Nh trên đã trình bày, còn khá nhiều vấn đề tồn tại trong công tác quản lý Nhà nớc
đối với hoạt động nhập khẩu thép phế liệu gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu.
Trong khi đó, công tác quản lý nhập khẩu của nhà nớc đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao chất lợng nhập khẩu thép phế liệu. Vì vậy, trên cơ sở phân tích những tồn tại ở
trên, để nâng cao chất lợng nhập khẩu thép phế liệu, ngời viết đa ra những kiên nghị sau:
doanh nghiệp sẽ phải nhập khẩu 2triệu tấn thép phế phục vụ cho nhu cầu của các nhà máy
sản xuất thép”
9
.Nh vậy, nhu cầu nhập khẩu thép phế liệu của nớc ta sẽ là rất lớn. Trong
khi đó, các doanh nghiệp nhập khẩu thép phế liệu đang gặp rất nhiều khó khăn do cha có
tiêu chuẩn cụ thể đối với thép phế nhập khẩu - Theo Quyết định số 03/QD-BTNMT của
Bộ tài nguyên môi trờng, chỉ quy định một số tiêu chuẩn chung chung đối với phế liệu
nhập khẩu nói chung. Vì vậy, việc ban hành các văn bản pháp lý quy định chi tiết về quy
cách phẩm chất đối với thép phế liệu nhập khẩu là rất cần thiết và phải đợc tiến hành càng
sớm càng tốt. Khi ban hành các quyết định, thông t, nghị định Nhà nớc , các Bộ, các
Ngành cần đa ra các văn bản hớng dẫn chi tiết và thống nhất các cơ quan chức năng thực
hiện tốt các quyết định, thông t đó
+ Mặc dù hiện nay Nhà nớc ta quy định thuế nhập khẩu đối với thép phế là 0%,
nhng đây vẫn là mặt hàng nằm trong diện chịu thuế, phải thực hiện kê khai thuế. Nh vậy sẽ
gây khó khăn hơn cho các doanh nghiệp khi tiến hành làm các thủ tục nhập khẩu, mà pháp
luật Việt Nam đợc coi là rờm rà, nhiều khâu và nhiều cấp quản lý. Vì vậy, nớc ta nên tiến
hành cải tiến lại bộ máy quản lý theo hớng ngày càng nâng cao năng lực cán bộ quản lý và
tinh giản hoá các thủ tục pháp lý, giảm bớt sự cồng kềnh trong các khâu pháp lý.
+ Tỷ giá ngoại tệ ảnh hởng rất lớn tới hoạt động nhập khẩu, việc tăng giá đồng
ngoại tệ sẽ gây thiệt hại cho các đơn vị nhập khẩu. Trong khi đó, ở Việt Nam giá ngoại tệ
thờng xuyên biến động là vấn đề đáng lo ngại cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Chính vì
vậy, Nhà nớc ta cần phải có chính sách quản lý ngoại tệ để hạn chế sự biến động về giá
ngoại tệ, giúp các doanh nghiệp an tâm nhập khẩu và từng bớc nâng cao chất lợng nhập
khẩu của đơn vị mình, trong đó bao gồm cả đơn vị nhập khẩu thép phế liệu.
2. Kiến nghị đối với Công ty công nghiệp tàu thuỷ Ngô Quyền
+ Trớc hết cần giải quyết những khó khăn về vốn: Mặc dù, hiện nay Công ty công
nghiệp tàu thủy Ngô Quyền đã là một trong 29 đơn vị hạch toán độc lập của tổng công ty
VINASHIN, nhng Công ty vẫn cha thực sự chủ động về nguồn vốn kinh doanh của mình,
vốn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn cấp của Tổng công ty (Tổng công ty cấp vốn dựa
trên quyết định của Thủ tớng Chính phủ, vì đây là Tổng công ty của nhà nớc), do vậy hoạt
+ Về công nghệ phá dỡ: Trớc đây, việc phá dỡ tàu cũ của Công ty chủ yếu thực hiện
bằng các phơng pháp thủ công nên hiệu quả cha cao, sản lợng thép phế liệu thấp. Mặc dù,
Công ty đã thay thế các biện pháp thủ công bằng những dây truyền máy móc, thiết bị, từng
bớc công nghệ hóa, nhng so với mặt bằng chung của Thế giới thì dây truyền công nghệ
hiện có của Công ty còn lạc hậu rất nhiều. Tháng 9 vừa qua, Xởng phá dỡ đã đệ trình lên
Giám đốc Công ty dự án nhập khẩu dây truyền phá dỡ tàu hiện đại của Nhật trị giá trên 20
tỷ VNĐ và kế hoạch đó đang trong giai đoạn chờ đợc phê duyệt. Việc nhập khẩu dây
truyền phá dỡ này giúp cho hoạt động phá dỡ đợc tiến hành nhanh, dễ dàng, từ đó tăng
sản lợng thép phế liệu góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của Công ty. Dự án này nên
sớm đợc phê duyệt và đi vào thực hiện vì lợi ích chung của Công ty.
+ Thực trạng kinh doanh của khối lu thông trong nhiều năm qua cho thấy giữa các
Công ty cùng ngành thiếu nhiều thông tin có liên quan trong thị trờng và khách hàng của
mình. Bởi vậy cần xây dựng hệ thống thông báo cho toàn ngành về thị trờng, xu hớng thị
trờng, xây dựng kế hoạch nối mạng máy tính trong toàn Tổng Công ty, trớc mắt là trong
khối văn phòng Công ty và đề nghị sử dụng mạng Internet cho phòng nghiệp vụ kinh
doanh xuất nhập khẩu. Từ đó tạo điều kiện cho cán bộ của phòng nắm bắt đợc toàn bộ tình
hình thị trờng nhập khẩu, sự cạnh tranh của các đơn vị ngoài ngành, nhờ đó có thể đa ra
đợc các quyết định đúng đắn và kịp thời.
+ Phân chia thị trờng kinh doanh các sản phẩm thép phế liệu nhập khẩu phải hết sức
rõ ràng. Kiên quyết ngăn chặn các hình thức tranh dành thị trờng giữa các Công ty thành
viên. Là một Tổng công ty lớn, có nhiều đơn vị thành viên, vì vậy tình trạng không thống
nhất giữa các đơn vị là không thể tránh khỏi. Đặc biệt là các đơn vị thờng xảy ra tình trạng
tranh dành thị trờng vì mục tiêu của đơn vị mình. Để hạn chế điều này, Tổng công ty
VINASHIN cần có chính sách phân định thị trờng cụ thể, rõ ràng cho từng đơn vị.
+ Tổng Công ty đã xây dựng cơ chế thởng phạt cho các đơn vị, cá nhân có thành
tích, kỷ luật nghiêm minh những giám đốc có cơ sở kinh doanh thua lỗ kéo dài, cố tình