Nhóm mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội - Pdf 20

Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy
cơ xã hội Trịnh Thị Thu Hà Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: GS.TS. Lê Thị Quý
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Khái quát một số đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của nhóm mại dâm
đồng giới nam tham gia nghiên cứu. Mô tả thực trạng thực hành các hành vi nguy cơ
cao trong nhóm mại dâm đồng giới nam. Cụ thể: cuộc sống tình dục đa dạng bạn
tình; đa dạng hình thức quan hệ tình dục; việc sử dụng các biện pháp tình dục an
toàn; sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện có ảnh hưởng đến các hành vi tình
dục. Phân tích thực trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS
của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu; kiến thức của họ về các
bệnh lây truyền qua đường tình dục. Đưa ra những biện pháp can thiệp, những
hướng giải quyết cho nhóm mại dâm nam đồng giới để hạn chế những hành vi nguy
cơ và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho bản thân họ.

Keywords. Xã hội học; Đồng giới nam; Tệ nạn xã hội; Mại dâm

Content
1. Lí do chọn đề tài
Nam mại dâm đồng giới và những người đồng tính (người có khuynh hướng tình dục
đồng giới) là một hiện tượng mới nổi lên gần đây ở Việt Nam, và nó đang được dư luận, báo
chí hết sức quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên hiện tượng đồng tính hay những người có khuynh

điều tra (22% ở Hà nội và 41% ở thành phố Hồ Chí Minh). Điều đáng chú ý là những người
nam quan hệ tình dục đồng giới trả lời có bán dâm phần lớn cũng đều trả lời có tiêm chích ma
túy (mặc dù không có thông tin về loại hành vi nào xuất hiện trước, nghiện ma túy hay bán
dâm), nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy giữa hai loại hành vi này có mối quan hệ với
nhau. Nghiên cứu này cũng cho thấy trong số nam đồng tính có bán dâm thì nhiều người
cũng có mua dâm nữ: Ở thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ này là 28% trong nhóm nam có bán
dâm và 6% trong nhóm nam không bán dâm (tỉ lệ này chưa có con số cụ thể tại Hà nội). Thực
tế những người này vừa là nam bán dâm vừa là khách hàng mua dâm của nữ mại dâm; điều
đó cho thấy sự giao thoa phức tạp về hành vi nguy cơ trong nhóm nam bán dâm, và nó cũng
phù hợp với các báo cáo xuất hiện ở các nước trong khu vực như Thái Lan hoặc Philippines.
Một nghiên cứu khác ở nhóm nam bán dâm ở Hà Nội do nhóm nghiên cứu của Đơn vị nghiên
cứu Sức khỏe cộng đồng, Đại học Y Hà Nội thực hiện năm 2007 cũng cho thấy: hơn 80%
nam giới trong tổng số 110 mẫu là nam thanh niên từ các tỉnh khác về Hà nội; khoảng 75%
nói mình bán dâm là vì lí do kinh tế, tuy nhiên cũng có khoảng hơn 20% nói rằng việc bán
dâm là do muốn có quan hệ tình cảm và tình dục với một người đàn ông khác. Như vậy lí do
bán dâm của họ không phải là đơn giản chỉ vì tiền.
Xuất phát từ các hình thức quan hệ tình dục chứa đựng nhiều nguy cơ như các hành vi
quan hệ tình dục hậu môn và mạng lưới bạn tình đa dạng về giới tính, tuổi tác, quốc tịch;
cộng thêm cả sự thiếu chủ động trong việc thực hiện các biện pháp tình dục an toàn khiến cho
những người bán dâm đồng giới nam có nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đường
tình dục và HIV/AIDS. Chính vì vậy nghiên cứu này của tôi nhằm tìm hiểu về những nguy cơ
xã hội mà những người trong nhóm mại dâm đồng giới nam này có thể vướng phải; cụ thể
hơn là nguy cơ đối mặt với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS là hệ quả
của đời sống tình dục đa dạng và lối sống thiếu kiểm soát của họ.
Nghiên cứu của tôi là về vấn đề “Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã
hội”, trong đó tôi tập trung nghiên cứu về các hành vi nguy cơ liên quan đến các bệnh lây
truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS của nhóm nam mại dâm đồng giới trên địa bàn Hà
Nội.
Nghiên cứu về một quần thể ẩn như nhóm nam mại dâm đồng giới có rất nhiều khó
khăn và thách thức, nhưng may mắn tôi đã được tham gia và nghiên cứu “Các đặc điểm nhân

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng cuộc sống của những người bán dâm đồng
giới nam: những hành vi nguy cơ với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là
HIV/AIDS. Sự liên hệ giữa những hành vi nguy cơ với các kết quả xét nghiệm bệnh của họ
có thể cho chúng ta biết yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh, mang tính quyết định đến khả năng
phòng tránh bệnh tật cho bản thân những người bán dâm đồng giới nam và xa hơn là phòng
tránh cho cộng đồng. Qua đó cũng có thể đưa ra những kế hoạch can thiệp hiệu quả và phù
hợp hơn cho nhóm mại dâm đồng giới nam.
3.2. Nhiệm vụ cụ thể:
* Mô tả một số đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của nhóm mại dâm đồng giới nam
tham gia nghiên cứu.
* Mô tả thực trạng thực hành các hành vi nguy cơ cao trong nhóm mại dâm đồng giới
nam. Cụ thể: Cuộc sống tình dục đa dạng bạn tình; đa dạng hình thức quan hệ tình dục; việc
sử dụng các biện pháp tình dục an toàn; sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện có ảnh
hưởng đến các hành vi tình dục.
* Mô tả thực trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của
nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu. Kiến thức của họ về các bệnh lây truyền
qua đường tình dục.
* Đưa ra những biện pháp can thiệp, những hướng giải quyết cho nhóm mại dâm nam
đồng giới để hạn chế những hành vi nguy cơ và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình
dục cho bản thân họ.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này là: Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã
hội. (Nghiên cứu tại địa bàn Hà Nội).
4.2. Khách thể nghiên cứu:
- Những người nam giới có hoạt động bán dâm cho một người nam giới khác để nhận
tiền hoặc vật chất. Những người này phải đảm bảo các tiêu chí sau: là nam giới có quan hệ
tình dục với một người nam giới khác và nhận được vật chất trong vòng 90 ngày qua; nằm
trong độ tuổi từ 16 đến 35 tuổi tính ở thời điểm tham gia điều tra; cư trú tại Hà Nội trong
khoảng thời gian 1 tháng trở lên.

p: tỷ lệ HIV (+) trong nhóm nam bán dâm
q = 1 – p
ME: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ HIV (+) thu được từ mẫu nghiên cứu so với
quần thể
o = 0,05 => z (z
1-o/2
) = 1,96
Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà Nội sẽ là:
- N = 400 (dựa trên con số ước tính của Donn Colby và cộng sự năm 2003)
- p = 0,08 (dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự năm 2004)
- ME = 0,03
Vậy cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà nội là 176 đối tượng. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn
bảng hỏi và làm các xét nghiệm bệnh trên số 176 người này.
5.2. Phương pháp thu thập mẫu nghiên cứu
Vì nhóm mại dâm đồng giới nam là một quần thể ẩn, họ rất khó để nhận biết và tiếp
cận cũng như có thể mời họ tham gia vào nghiên cứu, nên nghiên cứu viên đã phải xây dựng
một kế hoạch tìm kiếm và tiếp cận với nhóm này và tạo dựng mối quan hệ với họ trước khi
mời họ về tham gia nghiên cứu.
Phương pháp lựa chọn mẫu sẽ là Time – location sampling. Phương pháp này dựa trên
cơ sở: mỗi một nhóm xã hội thường có những tụ điểm nhất định mà ở đó họ thường gặp gỡ,
chia sẻ với nhau và để tiến hành các hoạt động mang đặc trưng của nhóm. Với nhóm mại dâm
đồng giới nam cũng vậy. Nghiên cứu viên đã tiến hành tham khảo ý kiến của những người có
nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực mại dâm đồng giới nam và có tham khảo các nghiên cứu trước
đó để nhận diện những địa điểm ban đầu nhóm này thường xuất hiện.
Kết quả ban đầu là một số địa điểm như hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, khu vực
Quan Thánh và các tụ điểm Spa, các quán bar, club dành cho người đồng tính. Sau đó nghiên
cứu viên tiến hành đi thực địa tại các địa điểm này, các buổi thực địa được xây dựng làm sao
đảm bảo tiêu chuẩn: các khung giờ xuất hiện tại địa bàn đảm bảo được xuất hiện đầy đủ trong
vòng 1 tuần và đảm bảo để các nhóm xã hội trên địa bàn dần quen với sự có mặt của nghiên
cứu viên và dần chấp nhận nghiên cứu viên như một thành viên trong bối cảnh chung ở địa


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status