Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
MỤC LỤC
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 1
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển Khu công nghiệp ( KCN), Khu chế xuất (KCX) là định hướng chính sách quan
trọng của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương của Đảng qua các thời kỳ đều xác định vai trò của
KCN, KCX là một trong những nền tảng của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Thực tế đóng góp của hệ thống các KCN, KCX vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong
hơn 20 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của chủ trương và mô hình KCN, KCX.
Quá trình xây dựng và phát triển KCN, KCX gắn liền với việc xây dựng mô hình quản lý
và hoạt động của các KCN, KCX tương đối đặc thù, mang tính đột phá; từng bước hoàn thiện
chức năng, nhiệm vụ, bộ máy của Ban Quản lý các KCN, KCX thể hiện vai trò đầu mối quản lý
nhà nước KCN, KCX ở địa phương. Trên thực tế, thành công của thu hút FDI vào các KCN,
KCX mang dấu ấn đậm nét của việc mạnh dạn thử nghiệm và triển khai áp dụng có hiệu quả các
cơ chế, chính sách, mô hình hoạt động riêng cho KCN, KCX, qua đó tạo môi trường hấp dẫn cho
các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế còn nhiều khó khăn về môi trường đầu tư kinh
doanh, trong điều kiện pháp luật đã có những sự thay đổi nhất định, thể chế chính sách, tổ chức
bộ máy còn chưa hoàn thiện, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp
ứng yêu cầu, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn một số hạn chế nhất định.
Với mục đích này, nhóm chúng tôi tập trung nghiên cứu “phân tích pháp luật và bình
luận, đánh giá về thực trạng thành lập, hoạt động của các Khu chế xuất, khu công nghiệp ở
Việt Nam.Nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thành lập, hoạt động
của KCX, KCN ở nước ta”.
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 2
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: PHÁP LUẬT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
1.1. Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX)
các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng
xuất khẩu.
Các công ty 100% vốn trong nước có thể được vào khu công nghiệp, khác với khu chế xuất chỉ
liên kết với các công ty vốn nước ngoài
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 3
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Về chức năng hoạt động:
Chức năng hoạt động của KCN là sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất hàng
công nghiệp, kể cả sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Trong khi đó, chức năng hoạt
động của KCX là sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu.
1.3. Pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất
1.3.1. Cơ sở pháp lý cho KCN, KCX ở Việt Nam hoạt động và phát triển
Quá trình xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách về KCN, KCX đã được trải qua 4 giai
đoạn:
- Giai đoạn 1 từ 1991 đến 1997: giai đoạn đầu xây dựng và triển khai một số cơ chế, chính sách
KCN, KCX (Nghị Định 192/1994/NĐ-CP ban hành ngày 28/12/1994 của Chính Phủ, Nghị Định
12/1997/NĐ-CP ngày 18/02/1997 của Chính Phủ);
- Giai đoạn 2 từ 1997 đến 2006: cơ chế, chính sách KCN, KCX được quy định có hệ thống tại
Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ và là giai đoạn ủy quyền cho một số ban
quản lý KCN, KCX trong lĩnh vực đầu tư và một số lĩnh vực với mức ủy quyền hạn chế.
- Giai đoạn 3 từ 2006 đến 2008: Luật Đầu tư 2005, Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006
đã ban hành những quy định mới theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư từ trung ương
tới địa phương, tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu
tư và Ban quản lý các KCN, KCX, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và quản lý các dự
án đầu tư vào KCN, KCX.
Tuy nhiên, Nghị định 108/2006/NĐ-CP đã thay thế Nghị định 36/NĐ-CP trong khi các quy định
về quản lý KCN, KCX trên các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực đầu tư lại chưa được ban hành kịp
thời, đã tạo sự thiếu hụt về cơ sở pháp lý và gây khó khăn cho địa phương và doanh nghiệp triển
khai quản lý hoạt động của KCN, KCX.
- Giai đoạn 4: Từ sau năm 2008, sau khi Nghị định 29/NĐ-CP được ban hành ngày 14/03/2008
phân cấp, ủy quyền.
Các bộ, ngành đã triển khai các công việc cụ thể sau:
- Vấn đề bảo vệ môi trường KCN, KCX: Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy chế
quản lý và bảo vệ môi trường KKT, KCNC, KCN và cụm công nghiệp (Thông tư 08/2009/TT-
BTNMT ngày 15/7/2009) trong đó quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan
trong bảo vệ môi trường đối với từng giai đoạn phát triển KCN, KCX, KKT.
- Vấn đề cấp ủy quyền cấp Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa form D, Giấy phép thành
lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài đã được hướng dẫn tại nhiều văn bản quy
phạm pháp luật do Bộ Công Thương chủ trì xây dựng, công văn hướng dẫn hoặc quyết định ủy
quyền trực tiếp của Bộ Công Thương.
- Vấn đề cấp thẩm định phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN, thiết kế cơ sở các dự án nhóm B, C
trong KCN, chứng chỉ quy hoạch các dự án trong KCN đã được Bộ Xây dựng hướng dẫn tại
Thông tư số 19/2008/TT-BXD ngày 20/11/2008.
- Việc kiện toàn bộ máy Ban quản lý KCN, KKT đã được Bộ Nội vụ nghiên cứu, trình Thủ tướng
Chính phủ ban hành các Quyết định thành lập Ban quản lý KCN, KKT trên cơ sở hợp nhất các
cơ quan quản lý KCN, KCX, KKT ven biển, KKT cửa khẩu ở địa phương.
- Vấn đề quản lý lao động KCN, KCX, KKT: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành
Thông tư số 13/2009/TT-BLĐTBXH ngày 06/5/2009 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà
nước về lao động trong các KCN, KCX, KKT và KCNC.
- Về Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006. Bộ Kế
hoạch và Đầu tư đã tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Đề án quy
hoạch tổng thể phát triển KCN của các địa phương.
- Hiện tại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì xây dựng Quy hoạch phát triển các KCN cả nước
đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Quy hoạch các KCN, KCX cả nước được
xây dựng trên cơ sở tổng hợp các Đề án quy hoạch KCN của các địa phương đã được phê duyệt
hoặc đang trong quá trình trình duyệt.
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 5
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
+ Vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng các dự án trong KCN, KKT (Nghị định 69/2009/NĐ-CP
ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư).
1.3.4. Vấn đề sửa đổi Nghị định 29/2008/NĐ-CP
Những điểm bất hợp lý, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị định 29/2008/NĐ-
CP đã đặt ra vấn đề cần phải nghiên cứu, sửa đổi Nghị định để phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn
phát triển KCN, KKT. Việc sửa đổi Nghị định 29/2008/NĐ-CP nên được thực hiện theo hướng:
- Điều chỉnh, bổ sung một số quy định về quy hoạch, thành lập KCN, KCX, KKT; hoạt động của
KKT ven biển, KKT cửa khẩu; quyền và nghĩa vụ của công ty phát triển hạ tầng KCN, KCX,
KKT cho phù hợp với tình hình thực tế.
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 6
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
- Quy định rõ hơn cơ chế phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT trên các ngành lĩnh
vực theo hướng tiếp tục chuyển dần từ cơ chế ủy quyền sang cơ chế giao quyền trực tiếp của các
bộ, ngành trung ương, UBND cấp tỉnh cho Ban quản lý KCN, KKT; quy định bổ sung cơ chế
phối hợp giữa Ban quản lý KCN, KKT với các bộ, ngành trung ương, các sở ngành địa phương
trong công tác quản lý hoạt động KCN, KCX, KKT.
- Giải quyết một số vướng mắc liên quan đến các quy định về thẩm quyền của Ban quản lý KCN,
KKT trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính; lĩnh vực lao động; môi
trường… theo hướng tạo điều kiện cho Ban quản lý KCN, KKT thực hiện đầy đủ vai trò đầu mối
quản lý KCN, KCX, KKT ở địa phương theo cơ chế ”một cửa, tại chỗ”.
- Bổ sung, làm rõ các quy định về vị trí, vai trò, tổ chức bộ máy, biên chế của Ban quản lý KCN,
KKT nhằm tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý, nguồn lực để các BQL KCN, KKT triển khai
nhiệm vụ.
- Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về KCN, KCX, KKT ở cấp Trung ương cho tương xứng
với sự phát triển và đóng góp ngày càng cao của hệ thống các KCN, KCX, KKT trong phát triển
kinh tế địa phương và cả nước, cũng như yêu cầu của việc thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát,
chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn đối với hệ thống BQL KCN, KKT ở địa phương.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
các khu công nghiệp ưu tiên thành lập đến năm 2000 mà toàn bộ các khu trong danh sách đó chỉ
tập trung ở Hà Nội hay Hồ Chí Minh, thì một số tỉnh thành cũng đã xúc tiến phát triển các khu
công nghiệp ở địa phương mình. Sau đó, theo đề nghị của các tỉnh Chính Phủ cũng đã bổ sung
phê duyệt danh sách nói trên.
Việc ban hành Quy chế khu công nghiệp năm 1994 là một bước tiến lớn trong chính sách
phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam, vì nó tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động của nhà đầu tư
thứ cấp (doanh nghiệp thuê đất), nhà đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, và các cơ
quan chủ quản (chính quyền). Lần đầu tiên khu công nghiệp được quy định rõ ràng trong một
văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do quy chế này còn đơn giản, nên cơ sở pháp lý này
chưa đủ mạnh để hậu thuẫn các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thuộc
khu vực kinh tế tư nhân.
Bên cạnh việc ban hành Quy chế về khu công nghiệp, Chính phủ đã thành lập một cơ
quan giúp việc cho Thủ Tướng về đường lối phát triển khu công nghiệp. Ban đầu đó là Văn
phòng các khu công nghiệp tập trung (tháng 8 năm 1996) đặt trong Văn phòng Chính Phủ. Sau
đó là Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam (tháng 12/1996) do Chính Phủ chỉ đạo trực
tiếp.
2.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1995 – 1997:
Cả nước có thêm 40 khu công nghiệp mới được thành lập, nhiều gấp tám lần số lượng
thành lập trong giai đoạn thí điểm. Phần lớn, các khu mới thành lập trong giai đoạn này ở các
tỉnh phía Nam, nhất là ở Bình Dương và Đồng Nai.
Để giải quyết những bất cập của Quy chế 1994, Chính Phủ đã ra nghị định số 136/NĐ-CP
ngày 24/4/1997 ban hành quy chế mới về khu công nghiệp thay cho quy chế năm 1994. Từ đó
đến nay phát triển các khu công nghiệp chuyển sang giai đoạn tăng nhanh và ổn định, tốc độ tăng
số lượng khu công nghiệp hàng năm đạt bình quân 20%.
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020, Nhà nước sẽ cho phép thành lập mới một cách có chọn lọc các khu công nghiệp, để đến
năm 2015 tổng diện tích các khu công nghiệp đạt khoảng 65.000 ha – 70.000 ha, đến năm 2020
thì hoàn thiện về cơ bản mạng lưới khu công nghiệp trên toàn lãnh thổ với tổng diện tích các
khu công nghiệp đạt khoảng 80.000 ha. Theo tính toán của Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, tổng số khu
ở tỉnh Bắc Giang chỉ có một khu công nghiệp. Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung có khoảng
40 khu công nghiệp, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định. Vùng kinh tế trọng điểm Mekong Delta tập trung khoảng 48 khu công nghiệp, trong đó
tỉnh Cần Thơ tập trung số lượng khu công nghiệp lớn nhất là khoảng 11, còn tỉnh Trà Vinh chỉ có
một khu công nghiệp.
Tuy nhiên về mặt nổi thì ta thấy rằng số lượng các khu công nghiệp ngày một tăng
nhưng những bất cập trong việc hoạch định các khu công nghiệp đang là vấn đề cần nhắc đến.
Vậy những bất cập trong việc hoạch định xây dựng các khu công nghiệp đó là:
• Vấn đề thứ nhất: Là tình trạng thiếu đồng nhất giữa quy hoạch ngành với
quy hoạch lãnh thổ.
Cuộc chạy đua thành lập các KCN, KCX với mục đích là có KCN, KCX và hy vọng
hưởng lợi từ các KCN đang làm mất đi quy hoạch tổng thể, không gắn quy hoạch KCN, KCX
với quy hoạch ngành, vùng và quy hoạch lãnh thổ quốc gia, chưa xem xét đầy đủ tất cả các yếu
tố: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực vật chất, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân
lực, để giải quyết tối ưu bài toán quy hoạch. Tình hình đầu tư phát triển các KCN không theo
quy hoạch tổng thể, thiếu sự phối hợp giữa các địa phương trong vùng nên đã không tận dụng
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 9
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
được lợi thế so sánh, dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt làm hiệu quả hoạt động các KCN bị
giảm sút.
• Vấn đề thứ hai: Là chưa thống nhất quan điểm phát triển kinh tế và vấn đề
xã hội.
Một số địa phương (như Hưng Yên, Hải Dương, Đồng Nai, Long An…) do quy hoạch
phát triển các KCN chưa hợp lý, sử dụng nhiều đất chuyên trồng lúa, đất có ưu thế đối với sản
xuất nông nghiệp, đất đang có khu dân cư tại những vị trí có hạ tầng kỹ thuật dẫn đến tình trạng
các hộ nông dân bị thu hồi đất, không có đất canh tác, ảnh hưởng đến đời sống và gây tâm lý bất
ổn trong nhân dân.
Mạng lưới KCN, KCX nặng tính cục bộ, khép kín trong địa giới hành chính, xuất hiện sự
cạnh tranh không lành mạnh. Tình trạng “Quy hoạch treo”, “Dự án treo”, “đền bù treo ” đang
diễn ra phổ biến ở hầu hết các tỉnh, dân mất đất không có việc làm, mất lòng tin, nảy sinh nhiều
Về cách tính giá thuê đất hàng năm theo Nghị định 142/2005:
Tiền thuê đất phải nộp 01 năm = Đơn giá thuê đất x Diện tích đất thuê
Trong đó đơn giá thuê đất được tính trên cơ sở giá thị trường các năm qua đều tăng cao dẫn đến
mức giá thuê đất tăng cao theo; về hệ số xác định đơn giá thuê theo Nghị định 142/2005 là 0.5%;
hệ số này được Nghị định 121/2010 điều chỉnh thành 1.5%, thực tế việc điều chỉnh này làm giá
thuê đất tăng gấp 3 lần.
Nghị định 121/2010/NĐ-CP hướng dẫn xử lý các dự án thuê đất trước ngày 01/6/2006
theo hướng các dự án mà một trong ba loại giấy tờ gồm giấy chứng nhận đầu tư, quyết định cho
thuê đất, hợp đồng thuê đất nếu có quy định đơn giá và nguyên tắc điều chỉnh thì được tiếp tục
thực hiện nguyên tắc điều chỉnh giá thuê đó: việc quy định như hiện nay là không thỏa đáng.
Các dự án thuê đất trước đây được áp dụng nguyên tắc điều chỉnh giá thuê theo hướng ổn
định chu kỳ ít nhất 5 năm, khi điều chỉnh tăng thì tăng không quá 15% so với mức giá trước đó.
Nguyên tắc này được quy định tại Quyết định 189/2000/QĐ-BTC ngày 24/11/2000, Quyết định
1357/TC/QĐ/TCT ngày 30/12/1995 của Bộ Tài chính và được áp dụng cho tất cả các dự án
(không qui định phải đưa vào giấy chứng nhận đầu tư, quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê
đất), theo quy định tại Nghị định 121/2010 chỉ cho các dự án có ghi nguyên tắc điều chỉnh giá
thuê vào 3 loại giấy tờ trên mới được hưởng là không hợp lý, không thỏa đáng đối với các nhà
đầu tư thuê đất cùng thời điểm.
Mặt khác các dự án thuê đất trước ngày 01/6/2006 không được khấu trừ tiền bồi thường
vào tiền thuê đất và phải tính đơn giá thuê đất cao bằng với các dự án vào sau ngày 1/6/2006.
2.2.1.2 Thứ hai: Là giá tính thuế trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện điều chỉnh giá thuê đất theo Nghị định 142/2005 và Nghị định 121/2010 trên
địa bàn tỉnh trong thời gian qua, Ban Quản lý các KCN nhận được nhiều ý kiến từ phía các
doanh nghiệp phản ánh về mức giá cao.
Cụ thể tại KCN Biên Hòa I, việc điều chỉnh đơn giá thuê lại đất theo hướng dẫn của Sở
Tài chính tại các văn bản số 323/STC-GCS ngày 21/02/2011 và văn bản số 1168/STC-GCS ngày
03/6/2011 đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Khu công nghiệp Biên Hòa I là rất cao so với
đơn giá thuê đất cũ (800 đồng/m
2
/năm):
2.2.2.1 Tỷ lệ lấp đầy:
Tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay là 63% (là tỉ lệ diện tích cho thuê
so với diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê). Bộ Xây dựng cho biết, đến nay đã có 283 khu
công nghiệp tập trung, khu chế xuất có quyết định thành lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết với
tổng diện tích đất tự nhiên gần 80.000ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt
gần 52.000ha. Có 178 khu công nghiệp đã đưa vào hoạt động, với diện tích 47.300ha, đã cho
thuê khoảng 25.000ha (tỷ lệ lấp đầy 63%). Trong đó khoảng 77 khu công nghiệp mà tỷ lệ lấp đầy
thấp hơn tỷ lệ bình quân trong cả nước nói chung. Hơn 100 khu công nghiệp mà tỷ lệ lấp đầy cao
hơn mức bình quân. Và có hơn 41 khu đã cho thuê hết diện tích đất công nghiệp, nghĩa là tỷ lệ
lấp đầy là 100% và tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, Đồng Nai.
Trong đó ở vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung thì riêng tại tỉnh Bình Định, là một trong
những địa phương có thể nói là thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư vào các khu công
nghiệp, với tỷ lệ lấp đầy trên 89%, trong đó, khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ đã lấp đầy
100% diện tích. Đồng thời ở vùng kinh tế trọng điểm Miền Bắc thì tỉnh Hải Phòng với khu công
nghiệp Nomura có tỉ lệ lấp đầy trên 97%. Công Thương - Khu công nghiệp Nomura được thành
lập ngày 23-12-1994 giữa UBND thành phố Hải Phòng và Tập đoàn Tài chính Nomura (Nhật
Bản). Sau 19 năm thành lập, đến nay Nomura đã có trên 53 dự án FDI đang hoạt động với tổng
vốn đăng ký đầu tư đạt trên 1 tỷ USD. Tỷ lệ vốn đầu tư bình quân đạt khoảng 8 triệu USD/ha,
đạt tỷ lệ đầu tư vào loại cao nhất trong các khu công nghiệp đang hoạt động của cả nước. Các
nhà đầu tư chủ yếu đến từ Nhật Bản, Mỹ, EU…Trong đó, nhiều dự án công nghệ cao, hoạt động
hiệu quả như Robotech, Yazaki, Toyoda Gosei, Toyota Boshoku, Pioneer, GE…
Tuy nhiên cũng tại vùng kinh tế trọng điểm Miền Bắc thì tỉnh Bắc Giang có tỷ lệ lấp đầy
các khu công nghiệp chưa cao và thấp hơn so với mức bình quân của cả nước. Cụ thể là tỷ lệ lấp
đầy các khu công nghiệp mới chỉ đạt 57%. Không những thế, điều đáng quan tâm ở đây là các
khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tỷ lệ lấp đầy bình quân 72.3% diện tích
đất hữu dụng, cao hơn rất nhiều so với mức bình quân chung của cả nước là 63%. Trong đó có
nhiều khu công nghiệp đã lấp đầy 100% diện tích.
Thông qua tỉ lệ lấp đầy khu công nghiệp của cả nước và một số tỉnh, khu kinh tế trọng
điểm ta thấy được sự lãng phí nguồn lực đang là một thực trạng đáng báo động.
Nguồn lực, trước hết là đất đai, nguồn lực vật chất hữu hạn và cực kỳ quan trọng của một
năm, thế nhưng trong những năm gần đây thì số lượng dự án đầu tư giảm chỉ còn khoảng 45-50
dự án/năm. Không những thế vốn các dự án mới đăng ký cũng giảm, còn các dự án nhỏ thì vốn
thấp và việc thực hiện giải ngân cũng rất chậm. Không chỉ có vậy, hiện nay tỷ lệ các dự án thuộc
nhóm công nghệ cao tại các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn còn rất thấp.
Mặc dù tình hình chung của các khu công nghiệp trên cả nước là như vậy, nhưng riêng
các khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai trong năm 2012 tình hình thu hút vốn đầu tư có những
chuyển biến đáng kể so với những năm gần đây. Đó là trong năm 2012 Ban Quản lý các Khu
Công nghiệp Đồng Nai đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 53 Dự án vốn đầu tư nước ngoài mới
(FDI) với tổng vốn đầu tư là 546.983.076 USD và 14 dự án vốn đầu tư trong nước với tổng vốn
đầu tư là 2.389.697.244.000 đồng; đồng thời điều chỉnh 406 dự án tăng vốn FDI với mức vốn
tăng là 546.983.076 USD và 11 dự án vốn trong nước với mức vốn tăng là 854.513.020.000
đồng. Như vậy, trong năm 2012 tổng cấp mới và điều chỉnh tăng vốn vào các Khu Công nghiệp
Đồng Nai đạt 1.199.103.987 USD và 3.244.210.264.000 đồng, đạt 141% kế hoạch năm (850
triệu đô la Mỹ).
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 13
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
2.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh:
Khu công nghiệp và khu chế xuất hiện nay đã và đang góp phần quan trọng trong việc
nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để có
thể thấy được thực trạng sản xuất kinh doanh của các khu công nghiệp, khu chế xuất thì ta phân
tích thông qua ba chỉ tiêu sau:
2.2.3.1 Giá trị sản xuất công nghiệp và doanh thu
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX thời kỳ 1996-2000 đạt khoảng 9,5
tỷ USD, tăng bình quân khoảng 20%/năm (tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân trên cả
nước đạt 12%). Riêng trong Giai đoạn 1998-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế - tài
chính, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có giảm
sút, do đó ảnh hưởng tới tình hình hoạt động chung của các doanh nghiệp KCN, đặc biệt là tình
hình xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp 1998-1999 chỉ tăng 6,9%. Cùng với sự phục hồi của
nền kinh tế thế giới và khu vực, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN trở lại
với tốc độ tăng trưởng cao, trong thời kỳ 2001 - 2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các
Trong giai đoạn 2001-2005, nhiều doanh nghiệp KCN đã hết thời gian được hưởng ưu đãi miễn,
giảm thuế nên tổng giá trị nộp ngân sách của các doanh nghiệp KCN, KCX tăng mạnh và đạt
khoảng 2 tỷ USD, gấp 6 lần so với kế hoạch 5 năm 1996-2000. Trong giai đoạn 2006-2010, các
KCN, KCX nộp ngân sách 5,9 tỷ USD, gấp 3 lần so với kỳ kế hoạch trước. Năm 2011, các doanh
nghiệp trong KCN, KCX đóng góp vào ngân sách nhà nước 7.700 tỷ đồng và 55 triệu USD,
trung bình nộp ngân sách khoảng 1,38 tỷ đồng/ha. Đóng góp vào ngân sách nhà nước năm 2012
đạt 30,5 nghìn tỷ đồng và 416 triệu USD, tăng hơn 15% so với so với cùng kỳ năm 2011.
Tiêu biểu cho cả nước về hoạt động sản xuất kinh doanh là khu công nghiệp Nomura –
Hải Phòng đây được đánh giá là khu công nghiệp hiện đại, đồng bộ nhất Việt Nam, thu hút được
phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài. Với sự khởi đầu khó khăn nhưng bằng nhiều nỗ lực, đến
năm 2009 khu công nghiệp này đã tạo việc làm cho 20 000 người lao động, giá trị sản xuất của
các công ty, xí nghiệp trong công ty đã lên đến 500 triệu USD, đạt 10% GDP và 30% kim ngạch
mậu dịch của Hải Phòng. Không dừng lại ở đó, năm 2011 KCN Nomura đã tạo việc làm cho trên
23.000 lao động địa phương. Các DN hoạt động sản xuất - kinh doanh trong KCN chủ yếu tập
trung vào những ngành nghề có kỹ thuật và công nghệ cao như: chế tạo máy móc, sản xuất linh
kiện, phụ tùng ô tô, các thiết bị điện, điện tử… Giá trị xuất khẩu đạt hơn 568 triệu USD- chiếm
gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố; doanh thu đạt hơn 593 triệu USD; nộp thuế
và ngân sách đạt hơn 8,6 triệu USD; thuế thu nhập cá nhân nộp tăng gần 30% so với năm 2010.
Trong năm 2012, giá trị xuất khẩu của KCN Nomura đã chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Hải Phòng.
2.2.4 Thực trạng về nguồn lực lao động
2.2.4.1 Việc làm
Việt Nam là nước đông dân, tốc độ tăng dân số là khá cao so với các nước trong khu vực.
Về thực chất, Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp có tỉ lệ nửa thất nghiệp cao. Thêm
vào đó, số người thất nghiệp ở đô thị ngày càng tăng và chủ yếu là những người vừa đến tuổi lao
động, do dân số tăng nhanh so với các thập kỷ trước. Vì vậy vấn đề tạo thêm công ăn việc làm
cũng là mục tiêu quan trọng trong những năm tới và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất
chính là một biện pháp để tăng thêm việc làm. KCN góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập
cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động. Các KCN đã tạo ra một số lượng
lớn việc làm, nâng cao trình độ tay nghề và tương ứng với nó là thu nhập của người lao động,
Mặc dù khu công nghiệp đã tạo ra được một lượng lớn việc làm cho người lao động
nhưng một số vấn đề liên quan đến vấn đề nhà ở cho công nhân, nhân viên làm việc trong các
khu này vẫn chưa được đáp ứng.
Năm 2007, trong số 1 triệu lao động đang làm việc tại các KCN, KCX có khoảng trên
700.000 lao động là người tỉnh ngoài hoặc huyện ngoài và có nhu cầu thuê nhà ở trong thời
gian lao động tại các KCN, KCX. Trong các khu nhà tập trung (xây dựng từ nguồn ngân sách
nhà nước hoặc từ phía các doanh nghiệp) cũng chỉ đủ cung cấp chỗ ở, sinh hoạt cho khoảng 7-
10% số lao động đang làm việc tại đây và có nhu cầu về nhà ở. Trên 90% công nhân còn lại
phải tự thu xếp chỗ ở, thuê trọ rải rác trong các khu dân cư gần nơi họ làm việc hay các KCN.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 chỉ có 4/14 khu công nghiệp, KCX có khu tập thể cho
công nhân.
Năm 2011, chỉ khoảng 10% số lao động được ở trong các khu nhà xây dựng từ nguồn
vốn ngân sách Nhà nước hoặc nhà của doanh nghiệp đầu tư, còn lại đều phải tự thu xếp thuê nhà
trọ tại các khu dân cư gần KCN. Thực tế cho thấy, hầu hết phòng trọ thuê của tư nhân đều rất
chật hẹp, diện tích sử dụng bình quân từ 2 đến 3 m2/người, điều kiện sống không bảo đảm, ảnh
hưởng đến sức khỏe, đôi khi còn xảy ra tình trạng mất trật tự, an toàn xã hội, hệ thống phòng
cháy chữa cháy cũng không được đảm bảo Số nhà ở cho công nhân đã tăng lên 20% năm 2012
nhưng con số này vẫn còn quá ít so với 80% công nhân phải đi thuê nhà bên ngoài tại các KCN,
KCX. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng chỉ mới giải quyết được nơi ở cho 50% công nhân.
Theo quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2015, tổng số công nhân, người lao động
làm việc tại các KCN đạt khoảng 6,3 triệu người và đến năm 2020 khoảng 7,2 triệu người. Do
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 16
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
vậy, số công nhân, lao động tại các KCN cả nước có nhu cầu về chỗ ở đến năm 2015 khoảng
2,65 triệu người và năm 2020 khoảng 4,2 triệu người.
2.2.5 Các hoạt động của khu công nghiệp, khu chế xuất
2.2.5.1 Hoạt động Marketing
Vừa qua Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất và các công ty phát triển hạ tầng
khu công nghiệp chưa có những chiến lược cụ thể nhằm tổ chức xúc tiến, giới thiệu các hoạt
Do vậy khái niệm khu công nghiệp cần phải sửa đổi bổ sung để nó trở thành một thực thể kinh tế
- xã hội hoàn chỉnh.
3.1.2. Hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý chưa đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển khu công nghiệp:
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 17
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Hạn chế của mô hình tổ chức bộ máy quản lý hiện nay là: Ban quản lý cấp tỉnh chưa được khẳng
định bằng luật pháp (chế định bằng pháp luật) về vị trí trong quản lý nhà nước, nên phải thực
hiện quyền quản lý theo cơ chế uỷ quyền, theo đó trách nhiệm và quyền hạn chưa đầy đủ, mô
hình chịu sự lãnh đạo song trùng chưa phải là mô hình đáp ứng nhu cầu quản lý trong tình
hình hiện nay, khi mà chúng ta chưa bỏ được chức năng "cơ quan chủ quản", ở Trung ương
chưa có đầu mối theo quan điểm là chủ quản của các ban quản lý cấp tỉnh.
Trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, việc phát hiện và điều chỉnh các chính sách liên
quan đến quản lý phát triển chưa kịp thời;
3.1.3. Khu công nghiệp ngày càng phát triển, từ đó yêu cầu chính sách phải theo sát
và đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển sát với đặc thù của khu công nghiệp:
Trong khi đó, hiện nay chưa có quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật bằng những cơ
chế chính sách hướng các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp thông qua hỗ trợ của
nhà nước như: ưu đãi về thuế, vốn, ngân hàng hay thủ tục hành chính đơn giản hơn so với
đầu tư ở ngoài khu công nghiệp.
Ta chưa có điều kiện tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, để làm được điều này cần phải có luật để điều chỉnh.
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp chưa thực sự gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của ngành, của vùng lãnh thổ;
Trong quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch cũng như trong công tác quản lý chưa có sự
phân loại các khu công nghiệp;
Công tác vận động xúc tiến đầu tư gặp nhiều khó khăn;
3.1.4. Hiện nay, giới hạn trong khu công nghiệp chỉ có hoạt động công nghiệp và dịch
vụ công nghiệp phục vụ xuất khẩu:
Các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc cho phép mở khu thương mại tự do, phát
rỗi rẻ tiền, có cơ sở hạ tầng chấp nhận được và một hoạt động dịch vụ thuận lợi. Một điều
quan trọng khác là các ưu thế trường học và dịch vụ y tế phù hợp, điều kiện sống tương đối
dễ chịu và nhà ở cho các nhà quản lý và gia đình họ.
Trung ương cần định hướng các khu công nghiệp cần phát triển trong cả nước và trong toàn khu
vực, tránh tình trạng lạm phát khu công nghiệp, ứ đọng vốn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng
cần xem xét lại giá cho thuê đất để có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực, cũng
như việc thu tiền thuê đất không nhiều so với hiệu quả khi đầu tư đem lại.
Để chấm dứt tình trạng quy hoạch xây dựng khu công nghiệp không đồng bộ, thì ngay sau khi
phê duyệt cho dự án xây dựng hạ tầng một khu công nghiệp, chính phủ cần cân đối các
nguồn vốn, kể cả các hình thức huy động vốn kế hoạch xây dựng đồng bộ hạ tầng cả trong và
ngoài hàng rào khu công nghiệp theo yêu cầu của tiến trình phục vụ sản xuất các doanh
nghiệp khu công nghiệp và đời sống của dân cư khu vực.
Muốn vậy phải thực hiện tốt kế hoạch đền bù, giải phóng mặt bằng. Nhà nước cần có chính sách
đền bù thống nhất và hợp lý đồng thời ở từng khu vực cần xây dựng và thực hiện phương án
đền bù, giải phóng mặt bằng nhanh có hiệu quả. Chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng phải
được hạch toán vào giá thành cho thuê lại đất, nhằm thúc đẩy công ty phát triển hạ tầng cũng
như các cơ quan chức năng quan tâm đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất.
Bên cạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng tại các vùng kinh tế trọng điểm của
cả nước thì đối với một số địa phương có điều kiện để hình thành địa bàn trọng điểm để phát
triển công nghiệp để tạo khả năng phát huy các nguồn lực sẵn có như nguyên liệu, lao động,
đất đai thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Do vậy tại các địa phương có khả năng trên,
nên chăng chúng ta cũng có xu hướng xây dựng KCN, KCX với quy mô vừa và nhỏ cho phù
hợp với khả năng thực tế của vùng.
Xác định rõ mục tiêu, danh mục ngành nghề và khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư vào KCN và
KCX trong từng giai đoạn theo hướng hạn chế các dự án thâm dụng nhiều lao động như dệt
may, giày da, lắp ráp cơ điện tử… giảm dần tỷ lệ sản xuất gia công, tăng cường thu hút đầu
tư đi vào chiều sâu, chọn lọc các ngành nghề và dự án đầu tư.
Xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất phải đặc biệt đảm bảo đúng quy định về an toàn môi
sinh, môi trường. Hợp tác trong xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, không nhất định địa
phương nào cũng có đầy đủ hệ thống xử lý chất thải công nghiệp, hoặc những khu vực gần
thuế vụ Thực hiện theo phương thức đặt cơ quan đại diện đủ thẩm quyền giải quyết trực
tiếp công việc tại từng khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp. Xoá bỏ dần chế độ xét duyệt
từng trường hợp cụ thể, đối với một số thủ tục có thể ban hành điều lệ mẫu theo đó ban quản
lý khu công nghiệp cấp tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện.
Các quy định chung về tổ chức cán bộ cũng đã được ban hành, tạo hành lang để các doanh
nghiệp khu công nghiệp tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh, các cơ quan quản lý Nhà
nước chỉ cần giám sát và thực hiện các biện pháp chế tài khi có doanh nghiệp vi phạm các
quy định mẫu và hướng dẫn chung đã nêu, hạn chế đến mức thấp nhất việc xét duyệt từng
trường hợp một.
Đồng thời xoá bỏ những khác biệt trong đối xử giữa các dự án đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư
trong nước sẽ khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đưa dự án vào các khu công nghiệp và
khả năng "lấp đầy" các khu công nghiệp sẽ mau chóng được thực hiện bằng cách nhanh
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 20
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
chóng triển khai Luật doanh nghiệp, trước hết là bãi bỏ 84 "giấy phép con", sẽ giảm nhẹ gánh
nặng cho doanh nghiệp ĐTTN khi đưa các dự án vào khu công nghiệp.
3.2.3. Hoàn thiện và đồng bộ hoá hệ thống pháp luật, tạo môi trường pháp lý thuận
lợi cho phát triển khu công nghiệp:
Xây dựng ban hành mới một số cơ chế chính sách còn thiếu, bổ sung sửa đổi một số chính sách
đã có nhưng không còn phù hợp để tạo ra môi trường pháp lý đồng bộ, hình thành "luật chơi"
hoàn chỉnh cho hoạt động của các khu công nghiệp.
Từ phía chính sách, yếu tố chủ chốt gây nên thất bại hoặc sự nghèo nàn của khu công nghiệp,
khu chế xuất là ban hành các chính sách cần thiết quá chậm nhiều các điều lệ, điều luật
không thích hợp ảnh hưởng tới khu công nghiệp, khu chế xuất. Ví dụ như: thể thức thuế quan
cứng nhắc, phiền hà, tốn thời gian. Do đó trong khu cần phải có chính sách hợp lý, quyền sở
hữu phải được xác định rõ ràng và bảo hộ một cách đáng tin cậy, còn sự can thiệp và kiểm tra
của luật pháp phải giảm tới mức tối thiểu, để tránh những chậm trễ vô lý hoặc đắt giá gây ra
bởi chính quyền. Quyền thuê và thải công nhân với chi phí lao động thấp là đặc biệt quan
trọng. Việc giao dịch giữa các công ty trong khu cần được để thực sự tự do, không có điều
tiết.
3.2.5. Cần có chính sách thuế đất hợp lý hơn, nên miễn tiền thuế đất hoặc chỉ thu
tượng trưng với mức thấp nhất để phát triển hạ tầng khu công nghiệp.
Phải coi việc giải phóng mặt bằng để lập khu công nghiệp thuộc loại đất sử dụng vào mục đích
công cộng vì lợi ích quốc gia thì mới có chính sách đền bù và giải toả nhanh.
Cho phép các doanh nghiệp thuê lại đất trong khu công nghiệp cũng có đầy đủ các quyền theo
quy định của pháp luật, ít nhất phải có quyền chuyển nhượng để tạo điều kiện cho họ tiếp tục
cho thuê lại mới thuận lợi cho việc thu hút đầu tư lấp đầy khu công nghiệp.
3.2.6. Cần có cơ chế chính sách tài chính và thuế hợp lý để thực sự khuyến khích hoạt
động của các khu công nghiệp.
Muốn vậy phải nới lỏng việc sử dụng thị trường nội địa cho các khu công nghiệp tại Việt Nam sử
dụng thị trường trong nước đối với những sản phẩm mà trong nước chưa sản xuất được hoặc
đã sản xuất nhưng kém hiệu quả và sức cạnh tranh. Song nên khuyến khích họ từng bước
nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, hạn chế hình thức đơn thuần gia công để vừa đảm bảo chiến lược
hướng về xuất khẩu nhưng cũng không coi nhẹ thị trường nội địa.
Có thể giảm thuế đối với các dự án đầu tư trong nước, và có thể gia hạn thêm thời hạn miễn thuế
đối với các dự án đầu tư trong nước để xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa dự án đầu tư nước
ngoài và dự án đầu tư trong nước. Và tuỳ theo từng trường hợp việc miễn thuế có thể là toàn
bộ hay từng phần và có thể kết hợp với các khuyến khích khác như: miễn trừ khấu hao hoặc
trả sau, không hạn chế mức thua lỗ, giảm thuế cho các khoản lợi nhuận tái đầu tư.
Các khuyến khích về tài chính bao gồm việc miễn mọi chế độ quản lý về ngoại hối, đảm bảo cho
chuyển về nước không hạn chế số lợi nhuận thu được và một số các biện pháp khuyến
khích khác như:
- Trợ cấp về thành tích xuất khẩu.
- Có trao giải thưởng hàng năm cho các công trình sáng tạo hoặc cải tiến sản phẩm .
- Trợ cấp khấu hao nhanh.
- Trợ cấp lãi suất vay tín dụng.
- Trợ cấp một phần chi phí cho tài sản cố định, chi phí đào tạo công nhân.
3.2.7. Đào tạo tay nghề công nhân cung ứng cho các khu công nghiệp, khu chế xuất:
Tập trung đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ lao động đang chuẩn bị làm việc trong các khu công
nghiệp - khu chế xuất vì vấn đề này đang là điểm yếu trong giáo dục - đào tạo của chúng ta,
các vùng nguyên liệu cung cấp cho các KCN và KCX và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
cung cấp hàng hoá cho nhau, thay thế hàng nhập khẩu, làm giảm giá thành, tăng cường xuất
khẩu.
Các giải pháp ở trên về quy hoạch phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất, về hoàn thiện
chính sách quản lý, đào tạo lực lượng lao động cho khu công nghiệp và khu chế xuất nếu
được thực hiện tốt thì nó sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài. Dưới đây là một số giải pháp bổ sung:
Để thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài các nước muốn tiếp nhận vốn đều
phải tìm cách tạo môi trường đầu tư thuận lợi trong đó bao gồm cả môi trường pháp lý ngày
càng hoàn thiện đi đôi với môi trường kinh doanh thuận lợi. Môi trường pháp lý lành mạnh,
tiến bộ phù hợp với thông lệ quốc tế là một tiêu chí để nhà đầu tư lựa chọn quyết định đầu tư.
Môi trường pháp lý đó phải có định hướng rõ ràng hỗ trợ có định hướng rõ ràng hỗ trợ cho
các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động ở nước sở tại một cách dễ dàng, thuận lợi nhất.
Về môi trường kinh doanh, chúng ta phải tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi trong đó bao
gồm các yếu tố như kết cấu hạ tầng phải tương đối hiện đại, hệ thống luật pháp và tư pháp
tốt, hệ thống thông tin và tư vấn tốt, hệ thống tài chính và tiền tệ ổn định, có hiệu quả, an
ninh kinh tế và an toàn xã hội được đảm bảo
Phải có hình thức tuyên truyền vận động quảng cáo trên các phương tiện truyền thông để cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nước thấy rõ lợi ích và quyền lợi khi vào các khu công nghiệp
hoạt động.
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 23
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Những ý kiến trên có thể mới chỉ đề cập tới một vài khía cạnh của vấn đề. Muốn đẩy mạnh việc
lấp đầy các khu công nghiệp hiện có cần tiến hành hàng loạt các biện pháp cấp bách trong đó
điều quan trọng trước hết là phải tạo một số sân chơi bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong và
ngoài nước, cũng như giữa các nhà đầu tư trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau.
Nhóm 12 - Đêm 4 – K22 Page 24
Khu công nghiệp, khu chế xuất GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
KẾT LUẬN