Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại phòng bảo hiểm Cầu Giấy, công ty bảo hiểm Hà Nội - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
MỤC LỤC
Trang
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua đất nước đã có nhiều thay đổi lớn cả về kinh tế, chính
trị, văn hoá xã hội. Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập mạnh mẽ hơn
với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
được nâng lên. Để phục vụ cho hoạt động buôn bán, giao lưu ngày một phát triển
trong nền kinh tế - một nhu cầu bức thiết của xã hội thì điều tiên quyết là phải
phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó cơ sở hạ tầng giao thông chiếm vị trí rất quan
trọng. Hệ thống đường xá, cầu cống phải được mở rộng hơn và nâng cấp hơn để
đảm bảo cho việc vận chuyển nhanh chóng, thuận tiện, mà trước hết là an toàn
hơn.
Do sự tăng lên quá nhanh của các phương tiện giao thông (đặc biệt là xe
cơ giới), nên mặc dù cơ sở hạ tầng giao thông đã có sự phát triển hơn nhưng tình
hình tai nạn giao thông vẫn là vấn đề đáng lo ngại cho toàn xã hội. Tai nạn xảy ra
kéo theo tổn thất về người và của, điều đó chẳng những gây đau đớn về mặt tinh
thần cho người thân mà còn làm thiệt hại về kinh tế cho gia đình và xã hội. Vì vậy
bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời để đảm bảo về mặt tài chính cho các chủ xe
mỗi khi phương tiện của họ không may gặp rủi ro, góp phần bảo vệ sự an toàn
chung của xã hội.
Nhưng một thực tế hiện nay đó là số lượng xe tham gia bảo hiểm vật chất xe
còn tương đối thấp so với tổng lượng xe cơ giới hiện đang lưu hành. Điều này có
thể là do: Các sản phẩm bảo hiểm còn xa lạ với người dân, do vấn đề thu nhập, do
các sản phẩm bảo hiểm vật chất xe chưa thực sự hấp dẫn, hoặc do hoạt động giám
định - bồi thường của các công ty bảo hiểm chưa đáp ứng được mong muốn của

máu” của nền kinh tế quốc dân. Giao thông vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của
nhân dân, giúp cho các hoạt động sinh hoạt được thuận tiện.
Các mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương được thực hiện nhờ mạng
lưới giao thông vận tải. Vì thế, những nơi nằm gần các tuyến vận tải lớn hoặc các
đầu mối giao thông vận tải cũng là những nơi tập trung các ngành sản xuất, dịch
vụ và dân cư. Nhờ hoàn thiện kỹ thuật, mở rộng cự li vận tải, tăng tốc độ vận
chuyển mà các vùng xa xôi về mặt địa lí cũng trở nên gần. Những tiến bộ của
ngành vận tải đã có tác động to lớn làm thay đổi sự phân bố sản xuất và phân bố
dân cư trên thế giới.
Ngành giao thông vận tải phát triển góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế,
văn hoá ở những vùng núi xa xôi, củng cố tính thống nhất của nền kinh tế, tăng
cường sức mạnh quốc phòng của đất nước và tạo nên mối giao lưu kinh tế giữa
các nước trên thế giới.
Với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, sự phân công lao động ngày càng
mở rộng, là điều kiện phát triển của ngành giao thông vận tải nói chung. Tuy vậy
có một thực tế là cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ nước ta còn nhiều yếu kém,
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
không đồng bộ và chưa tương xứng với sự phát triển chóng mặt của các phương
tiện xe cơ giới, có nhiều đoạn đường không đạt tiêu chuẩn về chất lượng, tỷ lệ
nhựa thấp, đường có bề mặt rộng cho hai làn xe còn ít, nhiều con đường bị xuống
cấp nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do nền kinh tế nước ta còn nhiều khó
khăn, chưa đủ điều kiện để một lúc có thể làm thay đổi toàn bộ cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ. Mặc dù trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước, Đảng và Nhà Nước ta đã đầu tư rất lớn cho cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ thông qua nguồn vốn từ ngân sách Nhà Nước và sự hỗ trợ từ nguồn vốn
vay của các chính phủ nước ngoài, nguồn vốn này đã được sử dụng cho việc làm
mới và nâng cấp nhiều con đường quan trọng, có ý nghĩa chiến lược để đáp ứng
nhu cầu đi lại của nhân dân và các hoạt động kinh tế xã hội khác. Bên cạnh đó,

+ Những người tham gia giao thông chưa được trang bị các kiến thức về luật
an toàn giao thông một cách đầy đủ. Đồng thời chất lượng đào tạo lái xe ở các
trung tâm còn kém.
+ Người tham gia giao thông không có giấy phép hợp lệ….
- Do bản thân xe tham gia giao thông.
+ Hệ thống an toàn của xe không đảm bảo tiêu chuẩn kĩ thuật đề ra.
+ Thời gian sử dụng xe đã quá lâu và xe đã quá cũ nát…
- Do cơ sở hạ tầng.
+ Đường xá, cầu cống còn kém chất lượng, mặc dù chúng ta đã cố gắng khắc
phục nhưng vẫn không theo kịp tốc độ tăng của lượng xe tham gia giao thông,
đặc biệt là nền kinh tế mở cửa và phát triển như hiện nay.
+ Địa hình ở nước ta khá phong phú và phức tạp, đồng thời thời tiết cũng
phức tạp, thường xuyên xảy ra lũ lụt và có sương mù. Đây là nguy cơ tiềm ẩn của
tai nạn giao thông.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
1.2.2. Hậu quả.
Dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì những vụ tai nạn xe cơ giới cũng mang
lại những hậu quả khó lường. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB)
hiện nay là mối hiểm hoạ đối với đời sống con người. Thiên tai hay một cuộc
chiến tranh nào rồi cũng có ngày kết thúc, nhưng TNGTĐB trong điều kiện sinh
hoạt và sự phát triển của con người thì khó có thể khẳng định được hồi kết thúc.
Từ năm 1996 đến hết năm 2007, ở nước ta xảy ra 233.831 vụ TNGTĐB, làm chết
114.906 người, làm bị thương 244.550 người. Tính trung bình mỗi ngày xảy ra 54
vụ TNGTĐB, làm chết 27 người và làm bị thương 56 người. Riêng thiệt hại về tài
sản, vật chất (cả hữu hình và vô hình) là rất lớn, khó mà tính ra con số chính xác
được. Theo ước tính trung bình mỗi năm Việt Nam tốn khoảng 900 USD cho vấn
đề tai nạn giao thông.

So sánh với năm
trước
Tăng
(giảm)
tuyệt đối
Tăng
(giảm)
tương
đối (%)
Số người
bị thương
So sánh với năm
trước
Tăng
(giảm)
tuyệt đối
Tăng
(giảm)
tương đối
(%)
1996 19.075 __ __ 5.581 __ __ 21.556 __ __
1997 19.162 87 0,46 5.324 -257 -4,60 20.465 -1.091 5,06
1998 20.725 1.563 8,16 5.518 194 3,64 21.869 1.404 6,86
1999 21.512 787 3,80 5.682 164 2,97 22.897 1.028 4,70
2000 23.115 1.603 7,45 6.131 449 7,90 24.264 1.367 5,97
2001 24.324 1.209 5,23 7.526 1.395 22,75 25.689 1.425 5,87
2002 25.998 1.674 6,88 8.312 786 10,44 25.955 266 1,04
2003 27.121 1.123 4,32 8.851 539 6,48 26.256 301 1,16
2004 29.135 2.014 7,43 9.103 252 2,85 27.102 846 3,22
2005 29.083 -52 -0,18 11.214 2.111 23,19 28.326 1.224 4,52

So sánh với năm
trước
Tăng
(giảm)
tuyệt đối
(+/-)
Tăng
(giảm)
tương
đối
(%)
Mô tô (chiếc)
So sánh với năm
trước
Tăng
(giảm)
tuyệt đối
(+/-)
Tăng
(giảm)
tương
đối
(%)
Tổng số
(chiếc)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
1996 386.979 ___ ___ 4.208.274 ___ ___ 4.595.253
1997 418.768 31.789 8,20 4.827.219 618.945 14,70 5.245.987

Cùng với sự phát triển bất hợp lý, không đồng đều giữa số lượng phương
tiện xe cơ giới với sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là sư gia tăng
các vụ tai nạn giao thông. Chỉ tính riêng tháng 2 năm 2008 đã xảy ra 1.067 vụ,
làm chết 1.002 người, bị thương 767 người do tai nạn giao thông. So sánh tỷ lệ
TNGT trên 10.000 phương tiện giao thông cơ giới đường bộ với tháng 02/2007
giảm 0,26 về số vụ; giảm 0,22 số người chết; giảm 0,29 số người bị thương. So
với tháng 01/2008 giảm 01 vụ; giảm 21 người chết; tăng 130 người bị thương.
Điểm đáng chú ý nhất ở đây chính là tai nạn xe cơ giới luôn chiếm tỷ lệ cao trong
các loại hình giao thông vân tải, chiếm 93,7 % về số vụ, 94,13 % số người chết và
98,8% về số người bị thương, và tỷ lệ này luôn ở mức ổn định, không thay đổi
nhiều qua các năm.
Tai nạn giao thông là vấn đề mang tính xã hội và chỉ có thể hạn chế một
phần nào đó mà không thể kiểm soát một cách tuyệt đối được. Các nước đều phải
đối mặt với tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng, phải đối mặt với những
thiệt hại không nhỏ về người và của mà chủ phương tiện gây ra. Tuy nhiên trên
thực tế có những chủ phương tiện lại trốn tránh không thực thi, có khi gây tai nạn
rồi bỏ trốn. Bởi thế việc giải quyết bồi thường trở nên khó khăn, lợi ích của người
bị nạn không được đảm bảo, gây ảnh hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội.
Làm thế nào để sẵn sàng có nguồn tài chính cho việc giải quyết bồi thường
hậu quả các vụ tai nạn, bảo vệ quyền lợi của người bị hại? Đây là mối quan tâm
không chỉ của Nhà Nước mà còn của các chủ xe và bản thân người bị thiệt hại.
Nhiều biện pháp được áp dụng khi có tai nạn giao thông xảy ra như chủ phương
tiện lập quỹ dự trữ, đi vay… nhưng các giải pháp này chỉ mang tính tạm thời, thụ
động. Do vậy, các chủ phương tiện phải tìm kiếm các giải pháp hiệu quả hơn và
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
bảo hiểm chính là giải pháp mang lại hiệu quả cao trong việc xử lý rủi ro do tai
nạn giao thông gây ra. Quỹ bảo hiểm được lập dựa trên sự đóng góp một khoản
tiền nhỏ của các chủ xe cho các công ty bảo hiểm để bồi thường những thiệt hại

Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới
đóng góp, cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo
hiểm cho người tham gia để họ ổn định tài chính, khắc phục khó khăn. Như vậy
ngân sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên khi không
may họ gặp rủi ro. Mặt khác, hoạt động bảo hiểm này là bảo hiểm thương mại
nên có trách nhiệm đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế,
dẫn đến tăng thu cho ngân sách. Ngoài ra, từ một phần số tiền không phải chi trả
bồi thường, nhà bảo hiểm có thể sử dụng để đầu tư tăng trưởng vốn, cùng với Nhà
Nước đầu tư trở lại xây dựng hệ thống đường xá giao thông, cầu đường…nhằm
nâng cao cơ sở hạ tầng, đảm bảo an toàn cho nhân dân và từ đó có điều kiện phát
triển kinh tế hơn.
 Góp phần ngăn ngừa tai nạn giao thông, hạn chế tổn thất.
Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này luôn đi cùng công tác tuyên
truyền, quảng cáo giúp mọi người nhận thức được vai trò của bảo hiểm vật chất
xe cơ giới và những rủi ro thiệt hại có thể xảy ra đối với phương tiện của mình.
Do vậy họ sẽ tự giác chấp hành luật lệ an toàn giao thông vì lợi ích trước hết của
chính bản thân họ. Bên cạnh đó, việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ
giới cũng đi liền với việc giúp các cá nhân, tổ chức tăng cường công tác đề phòng
và hạn chế tổn thất, giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất có thể. Cơ quan, công
ty bảo hiểm đóng góp một cách tích cực để thực hiện biện pháp hạn chế rủi ro
như tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp phòng tránh tai nạn, cùng ngành giao
thông làm các biển báo nhắc nhở mọi người phải kiểm soát được tốc độ khi điều
khiển phương tiện trên những đoạn đường nguy hiểm, những đoạn đường hay xảy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
ra tai nạn giao thông, đường lánh nạn…Còn đối với các chủ xe, lái xe là những
người trực tiếp điều khiển các phương tiện giao thông, việc tham gia nghiệp vụ
bảo hiểm vật chất xe cơ giới có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của chủ
xe, thúc đẩy họ phải thực hiện các biện pháp an toàn khi lái xe và luôn chăm lo

tế và phục vụ nhu cầu đi lại ngày càng cao của người dân. Với thực tế nền kinh tế
nước ta hiện nay, việc đi lại, vận chuyển bằng xe cơ giới là hình thức chủ yếu và
phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân.
Đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá
trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia. Để xác định là xe cơ giới, người
ta thường dùng các tiêu thức sau:
 Xe cơ giới phải được gắn động cơ (khác với xe không có động cơ như xe
đạp, xe do gia súc kéo…).
 Xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đường dẫn bằng chính động
cơ gắn trên nó (khác với tàu hỏa, xe điện…).
 Xe cơ giới phải có tối thiểu một chỗ ngồi cho người điều khiển.
Xe cơ giới được cấu thành từ nhiều bộ phận (khối động cơ, hệ thống
nhiên liệu, hệ thống điện, hệ thống truyền lực, hệ thống lái, hệ thống phanh và
hộp số, bộ phận thân vỏ). Các bộ phận này được lắp ráp ăn khớp với nhau theo
một nguyên lý nhất định, mỗi cái có một chức năng nhất định. Hệ thống nhiên
liệu sẽ chuyển hóa nhiên liệu thành cơ năng, cơ năng này được chuyền qua các bộ
phận đến bánh xe - bộ phận duy nhất tiếp xúc với mặt đất để đẩy xe đi dưới sự
điều khiển của con người.
Xe cơ giới được coi là nguồn nguy hiểm nên để trở thành đối tượng bảo
hiểm, xe cơ giới phải đảm bảo những tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật và các điều kiện
pháp lý nhất định - phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký xe, biển
kiểm soát, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường, giấy lưu
hành xe.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Trên phương diện kỹ thuật bảo hiểm, người ta thường phân chia xe cơ giới
thành các tổng thành. Trên cơ sở phân chia đó, bên bảo hiểm có thể bảo hiểm toàn
bộ xe hoặc bảo hiểm từng bộ phận xe. Trong các tổng thành, thân vỏ xe chiếm tỷ
trọng lớn về mặt giá trị và nếu có xảy ra tai nạn thì thân vỏ xe cũng chính là bộ

Trước hàng loạt rủi ro, tai nạn, việc xác định phạm vi bảo hiểm và quy định loại
trừ trong những mẫu đơn bảo hiểm của các công ty bảo hiểm rất cần thiết, để đảm
bảo các yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2.1. Rủi ro được bảo hiểm.
Người bảo hiểm bồi thường cho Chủ xe tham gia bảo hiểm những thiệt hại
vật chất xảy ra do những tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của lái xe, chủ xe, đó
là:
- Những rủi ro thông thường gắn liền với hoạt động của xe: Đâm va, lật đổ…
- Những rủi ro bất thường dễ phát sinh khác: cháy, nổ…
- Những rủi ro khách quan có nguồn gốc tự nhiên: bão, lũ lụt, sét đánh, động
đất, mưa đá…
- Rủi ro khách quan có nguồn gốc xã hội: mất cắp, mất cướp toàn bộ, đập
phá…
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới có phạm vi thời gian bảo hiểm 24/24 giờ, trong
suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm (điều này được ghi trong giấy
chứng nhận bảo hiểm).
Thông thường hợp đồng vật chất xe cơ giới có hiệu lực trên toàn lãnh thổ
quốc gia. Trong hợp đồng mở rộng phạm vi bảo hiểm ra ngoài lãnh thổ quốc gia
theo yêu cầu của người được bảo hiểm thì phải được sự chấp thuận bằng văn bản
của người bảo hiểm.
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, người bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ xe:
- Chi phí sửa chữa, thay thế nhằm phục hồi xe nguyên vẹn như trước khi sự
kiện bảo hiểm xảy ra.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
- Trị giá các phụ tùng thay mới, trừ khấu hao ngoại trừ trường hợp tham gia
bảo hiểm theo điều kiện “ mới thay cũ ”.
- Tổn thất toàn bộ thực tế hoặc ước tính (trong trường hợp xe bị tổn thất toàn
bộ hoặc ước tính).

- Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ.
- Lái xe say rượu bia, có sử dụng ma túy, hoặc các chất kích thích khác trong
khi điều khiển xe.
- Xe vận chuyển chất cháy nổ trái phép (không có giấy phép vận chuyển
hoặc vận chuyển trái với quy định trong giấy phép vận chuyển).
- Xe chở quá trọng tải hoặc quá số hành khách theo quy định.
- Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi
trường phương tiện cơ giới đường bộ.
- Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn.
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử.
Loại trừ rủi ro có tính “ xã hội ” với hậu quả lan rộng như: chiến tranh, bạo
loạn…
Những quy định loại trừ khác như:
- Loại trừ những thiệt hại có tính chất hậu quả gián tiếp như: Giảm giá trị
thương mại; ngừng sản xuất, sử dụng, khai thác.
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
(trừ trường hợp có thỏa thuận riêng).
- Loại trừ thiệt hại do mất cắp bộ phận xe.
Ngoài ra, người bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi
thường cho chủ xe khi:
- Chủ xe cung cấp thông tin không đầy đủ, trung thực khi kê khai các nội
dung trong giấy bảo hiểm (về tình trạng xe, địa bàn hoạt động của xe).
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
- Không thực hiện đầy đủ các quy định về: thông báo tai nạn, trong việc đòi
người thứ ba, vấn đề này phụ thuộc vào yêu cầu quản lý rủi ro của người bảo
hiểm, vào những yếu tố khác của hợp đồng như là phí bảo hiểm.
3. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm.
3.1. Giá trị bảo hiểm (GTBH) và số tiền bảo hiểm (STBH).

khảo bảng giá trị xe mới do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành hàng năm và giá xe tại
các hãng xe ô tô trên cơ sở sự biến động về giá cả xe mới trên thị trường.
+Xu hướng tiêu dùng các loại xe của thị trường, tình hình sản xuất trong
nước hoặc nhập khẩu của các xe cùng loại hay các phụ tùng thay thế.
+Tình trạng hao mòn thực tế của xe: Có thể dựa vào các căn cứ sau để đánh
giá:
Số km đã khai thác trên thực tế.
Số năm đã sử dụng xe, mục đích sử dụng xe.
Tần suất sử dụng xe hay hệ số khai thác.
Đặc điểm địa hình hoặc điều kiện đường xá của vùng hay tuyến mà xe
thường xuyên hoạt động.
Tình trạng kỹ thuật và hình thức bên ngoài của xe trên thực tế.
 Giá mua bán trên thị trường của các xe tương đối cùng loại.
Với các căn cứ và cách đánh giá trên, chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có thể
thỏa thuận đi đến thống nhất một giá trị xe tham gia bảo hiểm hợp lý. Nói chung
mọi quá trình đánh giá xác định giá trị xe chỉ cho một kết quả tương đối, hợp lý
để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên.
Trên cơ sở GTBH, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm với STBH nhỏ hơn,
hoặc bằng, hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe. Tuy nhiên, việc quyết định tham
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
gia bảo hiểm với số tiền là bao nhiêu sẽ là cơ sở để xác định số tiền bồi thường
khi có tổn thất xảy ra.
+ Nếu chủ xe tham gia với STBH nhỏ hơn giá trị thực tế của xe thì được gọi
là bảo hiểm dưới giá trị.
+ Nếu chủ xe tham gia với STBH bằng giá trị thực tế của xe thì được gọi là
bảo hiểm ngang giá trị.
+ Nếu chủ xe tham gia với STBH lớn hơn giá trị thực tế của xe thì được gọi
là bảo hiểm trên giá trị.

Thời hạn bảo hiểm (ngắn hạn hoặc dài hạn).
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46B
22
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Bảng 3: Biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới
(không tính khấu hao hay thay mới).
Giá trị thực tế
Tỷ lệ phí bảo hiểm cơ bản trên số tiền
bảo hiểm
Xe ô tô
Bảo hiểm
toàn bộ
Bảo hiểm
bộ phận
Xe mô tô,
xe máy
Xe sử dụng dưới 3 năm hoặc giá trị còn
lại từ 70% trở lên so với giá trị xe mới.
1.5% 2.5% 1%
Xe sử dụng từ 3 đến 6 năm hoặc giá trị
còn lại từ 50% đến 70% so với xe mới.
1.7% 2.7% 1.2%
Xe sử dụng trên 6 năm hoặc giá trị còn
lại dưới 50% so với giá trị xe mới.
1.9% 2.9% 1.4%

(Nguồn: Biểu phí quy định của Bộ Tài Chính)
Tỷ lệ phí cơ bản thường áp dụng cho một năm hợp đồng, cùng với tỷ lệ phí cơ
bản đó là quy định về tỷ lệ giảm phí đối với những hợp đồng có thời hạn dưới
một năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status