so sánh một số giống lúa chất lượng cao tại huyện lạng giang, tỉnh bắc giang - Pdf 20

Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học nông nghiệp hà nội






O VN THNH
SO SNH MT S GING LA CHT LNG CAO
TI HUYN LNG GIANG, TNH BC GIANG

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Chuyên ngành: trồng trọt
Mã số: 60.62.01

Ngời hớng dẫn khoa học: ts. NGUYễN VĂN CƯƠNG Hà Nội - 2011

học, ñặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Cây lương thực - Trường ðại học Nông
nghiệp Hà Nội; Trung tâm giống cây trồng Tân Dĩnh - Lạng Giang, Xí nghiệp
giống cây trồng Phi Mô - Lạng Giang, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện
Lạng Giang - tỉnh Bắc Giang, Trạm Khuyến nông huyện Lạng Giang, Trạm
Khí tượng – Thủy văn Bắc Giang; Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn và bà con
nông dân huyện Lạng Giang (tỉnh Bắc Giang) ñã tận tình giúp ñỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp. Cuối cùng tôi xin biết
ơn gia ñình, bạn bè và ñồng nghiệp ñã ủng hộ, ñộng viên khích lệ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.

Tác giả luận văn ðào Văn Thành
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v

3.3. Nội dung nghiên cứu 29
3.4. Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Quy trình kỹ thuật áp dụng chung trong thí nghiệm 31
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.5.1. Khí hậu vụ Xuân 2011 32
3.5.2 Thời kỳ mạ 32
3.5.3 Thời kỳ ruộng cấy 32
3.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 36
3.5.6 Chất lượng lúa gạo 37
3.6. Phương pháp phân tích số liệu 37
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1. ðiều kiện thời tiết, khí hậu tại Bắc Giang ñối với cây lúa. 38
4.2. Tình hình sản xuất lúa ở Lạng Giang 40
4.2. Kết quả ñánh giá các dòng, giống lúa ở vụ Xuân năm 2011 42
4.2.1. ðánh giá một số ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển giai ñoạn mạ 42
4.2.2. Thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng 44
4.2.3. ðặc ñiểm thân, lá 46
4.2.4. Kiểu ñẻ nhánh 49
4.2.5. Diện tích lá, khối lượng chất khô tích lũy 50
4.2.6. Một số ñặc tính nông học khác 53
ðơn vị tính: ñiểm 54
4.2.7. Khả năng chống chịu với một số ñối tượng sâu bệnh hại chính 56
4.2.8. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 63
4.2.9. ðánh giá một số chỉ tiêu về chất lượng gạo của các giống lúa 66
5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 70
5.1. Kết luận 70
5.2. ðề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 81
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………


Bảng 4.11: ðánh giá tỷ lệ hạt chắc và ñộ rụng hạt 55

Bảng 4.12: Mức ñộ kháng sâu hại của các giống 58

Bảng 4.13: Mức ñộ chống chịu bệnh hại của các giống 62

Bảng 4.14: Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 64

Bảng 4.15: Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo xay xát của các giống lúa 68

Bảng 4.16: Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo thương phẩm và nấu nướng
của các giống lúa 69

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

1

1. MỞ ðẦU

1.1. ðặt vấn ñề
Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong những cây cung cấp nguồn lương thực
quan trọng nhất của loài người, với 40% dân số thế giới sử dụng lúa gạo làm
thức ăn chính và có ảnh hưởng ñến ñời sống của ít nhất 65% dân số thế giới.
ðối với Việt Nam, cây lúa có một giá trị ñặc biệt quan trọng trong việc
giải quyết nhu cầu lương thực cho nhân dân. ðể ñảm bảo an ninh lương thực
trong hoàn cảnh dân số tăng, diện tích nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do
mở rộng diện tích ñất ở, xây dựng khu công nghiệp, ñường giao thông thì việc
sử dụng các giống có năng suất cao chất lượng tốt là yếu tố tất yếu.
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp truyền thống, trong ñó cây

chống chịu sâu bệnh hại của các giống lúa chất lượng tại huyện Lạng Giang
tỉnh Bắc Giang
- ðề xuất ñược một số giống tốt cho sản xuất thông qua việc ñánh giá
các ñặc ñiểm nông sinh học của các giống tham gia thí nghiệm.
1.3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Qua ñề tài này xây dựng cơ sở lý luận nhằm tuyên truyền cho nhân dân
hiểu biết về sản xuất giống chất lượng cao ñem lại hiệu quả kinh tế cho gia
ñình và xã hội.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác ñịnh ñược 1-2 giống lúa chất lượng giới thiệu, bổ sung vào cơ cơ
cấu sản xuất của huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Nguồn gốc và phân loại cây lúa
2.1.1. Nguồn gốc cây lúa
Cây lúa (Oryza sativa L.) thuộc họ hoà thảo (Gramineae) chi Oryza có
2 loài ñược trồng chủ yếu là O.sativa trồng phổ biến ở Châu Á và loài O.
Glaberrima trồng ở Tây Phi với diện tích không ñáng kể. Cây lúa là cây trồng
xuất hiện sớm và tồn tại lâu ñời, ñặc biệt ở Trung Quốc, Ấn ðộ và một số
nước Châu Á trong ñó có Việt Nam, G.Second (1986) nghiên cứu về tiến hoá
của chi Oryza cho rằng hai loài phụ của loài O.sativa là O.Indica và
O.Japonica ñã xuất hiện cách ñây 2 ñến 3 triệu năm ở dãy núi Himalaya, sau
ñó theo di thực, phát tán ñến các nơi khác trên thế giới. Trung tâm phát sinh
lúa trồng có nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc và Ấn ðộ là trung tâm phát

Lúa Indica thường trồng ở khí hậu nhiệt ñới và cận nhiệt ñới, có thân
cao, dễ ñổ ngã, nhiều chồi, lá ít xanh và cong, kháng ñược nhiều sâu bệnh
nhiệt ñới. Hạt gạo dài hoặc trung bình, có nhiều tinh bột. Năng suất kém hơn
lúa Japonica.
Lúa Japonica thường ñược trồng ở những vùng ôn ñới hoặc những nơi
có ñộ cao trên 1.000m, có thân ngắn, chống ñổ ngã, lá xanh ñậm, thẳng ñứng,
ít chồi, hạt gạo thường tròn, ngắn hoặc trung bình, và dẻo khi nấu vì ít chất
tinh bột. Lúa Japonica có năng suất cao.
Lúa Javanica (bulu) hay lúa Japonica nhiệt ñới ñược trồng ở Indonesia,
có ñặc tính ở giữa hai loại lúa Japonica và Indica. Hình thái gần giống như lúa
Japonica. Thân cứng, chắc và ít cảm quang. Có bản lá rộng nhiều lông. Hạt
lúa thường có râu.
Ngoài 3 loài kể trên còn có Oryza glaberrima ñược trồng ở tây Châu
Phi cách ñây 3.500 năm. Nguồn gốc có thể ở lưu vực sông Niger ở Mali, có
thân cao như Indica, gié lúa thẳng, có ít hoặc không có nhánh phụ. Hạt lúa
không có lông trên vỏ trấu, và gạo ñỏ [74]. Loại lúa này kháng nhiều sâu bệnh
và chịu ñược hạn, nhưng năng suất kém hơn những loại lúa nêu trên.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

5

Vào ñầu thời gian cuộc cách mạng xanh, các chuyên gia lúa gạo trên
thế giới ñã ñồng ý về phân loại lúa theo ñặc tính của ñất ñai và khí hậu (IRRI,
1984) [79] như sau:
* Lúa rẫy (lúa ñất khô): Trồng ở vùng có mưa nhiều hoặc ít, ñất tốt
hoặc xấu và phối hợp các yếu tố này.
* Lúa tưới tiêu: Trồng ở vùng có nhiệt ñộ thích hợp hoặc nhiệt ñộ thấp.
* Lúa ruộng nước trời: Lúa ruộng cạn (5 – 25 cm), sâu vừa (25 – 50
cm), trong quá trình sinh trưởng hoà toàn phụ thuộc vào nước mưa, thường bị
hạn hoặc bị ngập nước.

2.2. Những nghiên cứu về cây lúa
2.2.1.Nghiên cứu về ñặc ñiểm di truyền, giải phẫu hình thái của cây lúa .
2.2.1.1. Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa ñược tính từ khi hạt lúa nảy mầm ñến
khi chín hoàn toàn và thay ñổi tuỳ theo giống và ñiều kiện ngoại cảnh. Thời
gian sinh trưởng có ý nghĩa ñến phạm vi phân bố, khả năng thâm canh của
giống. Shouichi Yoshida [44]; ðào Thế Tuấn, Phan Mạnh Lâm [64] cho rằng:
thời gian sinh trưởng của cây lúa chia làm 2 thời kỳ chính :
-Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: lúc cây lúa mọc rễ, thân, lá.
-Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: cây lúa làm ñòng, ra hoa, kết hạt.
Một số nhà nghiên cứu (IRRI) cho rằng: trong suốt quá trình sinh
trưởng phát triển, cây lúa trải qua 3 thời kỳ lớn: Sinh trưởng sinh dưỡng, sinh
trưởng sinh thực và thời kỳ hình thành hạt và chín. Ba thời kỳ sinh trưởng của
cây lúa trải qua 10 giai ñoạn phát triển: Nứt nanh - nảy mầm, giai ñoạn mạ, ñẻ
nhánh, vươn lóng, phân hoá ñòng, trổ bông, nở hoa, chín sữa, chín sáp và chín
hoàn toàn [27]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy: thời gian sinh
trưởng của cây lúa chia làm 4 thời kỳ: Sinh trưởng sinh dưỡng mạnh, sinh
trưởng sinh dưỡng chậm, sinh thực và chín [17]. Qua việc chia thời gian sinh
trưởng của cây lúa nhằm mục ñích hiểu ñược bản chất của quá trình sinh
trưởng và phát triển của nó, từ ñó ñề xuất ra các biện pháp kỹ thuật hợp lý tác
ñộng vào cây lúa ñể có một ruộng lúa năng xuất cao nhất [17]. Ở miền Bắc
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

7

các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng 90 - 120 ngày, giống lúa
trung ngày là 140 - 160 ngày. Các giống lúa chiêm cũ, do thời vụ gieo cấy có
ñiều kiện nhiệt ñộ thấp nên thời gian sinh trưởng kéo dài 180 - 200 ngày. Ở
ñồng bằng sông Cửu Long các giống lúa ñịa phương có thời gian sinh trưởng
200 - 240 ngày ở vụ Mùa, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh

Châu Mỹ (Century Patna, SLO-17) ít ñược sử dụng ñể tạo giống vì chúng làm
cho bông ngắn lại hoặc phân li kéo dài hoặc phân ly qua nhiều thế hệ khó
chọn lọc. Các dạng lùn có nguồn gốc Trung Quốc thường có lá ngắn, màu
xanh ñậm, thân cứng, chịu ñạm cao và khó ñổ.
2.2.1.3. Khả năng sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng mạnh, sớm ở thời kỳ ñầu của quá trình sinh
trưởng là một ñặc tính có lợi rất cần thiết cho lúa gieo thẳng, các giống lúa
nào có khả năng sinh trưởng tốt sẽ tạo ñiều kiện cho quá trình quang hợp và
tích luỹ chất khô nhiều hơn, từ ñó có năng suất cao hơn.
Tính trạng này do nhiều kiểu gen kiểm tra, khó tổ hợp với gen kiểm tra
tính chín sớm nhưng dễ dàng kết hợp với gen kiểm tra tính lùn và không phản
ứng với quang chu kỳ (IRRI,1972) [78].
2.2.1.4. Khả năng ñẻ nhánh
ðẻ nhánh là một ñặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ ñến
quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa. Các kết quả nghiên cứu
cho rằng tính ñẻ nhánh khỏe thuộc di truyền số lượng, có hệ số di truyền thấp
ñến trung bình và chịu ảnh hưởng của ñiều kiện ngoại cảnh. Nghiên cứu các
tổ hợp lai cho nhận xét rằng kiểu ñẻ nhánh chụm và ñứng thẳng là lặn, kiểu ñẻ
nhánh xòe là trội [96].
Quá trình ñẻ nhánh liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá. Thường khi ra
lá ñầu tiên thì mầm nách ở mắt ra lá bắt ñầu phân hoá, trong quá trình ra các
lá tiếp theo thì cũng tương tự như vậy ở các nhánh tiếp theo. Theo quy luật thì
khi lá thứ 4 xuất hiện thì lá thứ nhất kết thúc thời kỳ phân hoá và bắt ñầu xuất
hiện nhánh thứ nhất và khi ra lá thứ 5 thì nhánh thứ 2 xuất hiện. Thời gian ñẻ
nhánh của cây lúa ñược tính từ khi lúa bén rễ hồi xanh ñến khi làm ñốt, làm
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

9

ñòng. Tuy nhiên ở ruộng mạ cũng có hiện tượng ñẻ nhánh nếu mạ gieo thưa,

lá, phiến lá, tai lá và thìa lá [44]. Thời kỳ con gái, các bẹ lá ôm lấy nhau và
tạo thành thân của nhánh lúa, gọi là thân giả [27]. Các lá phát triển liên tục từ
dưới lên trên, mỗi lá cách nhau một bước: ví dụ lá 5 ở thời kỳ xuất hiện thì lá
thứ 6 ở thời kỳ hình thành bẹ lá, lá 7 ở thời kỳ hình thành phiến lá và lá 8 ở
thời kỳ phân hoá mầm [49].
Nói chung cây lúa có quá trình quang hợp theo con ñường C3 (Ishii &
CTV,1977). Quang hợp là quá trình nhận năng lượng ánh sáng mặt trời và
chuyển hoá năng lượng này thành năng lượng hoá học dự trữ dưới dạng
Hydratcacbon. Khoảng 80%- 90% chất khô cây xanh tích luỹ ñược là do
quang hợp [71]. Như vậy quang hợp giữ một vị trí ñặc biệt quan trọng trong
sự tạo thành năng suất lúa. Vấn ñề ñặt ra là muốn cho cây quang hợp mạnh thì
cần ñiều chỉnh cho nó có một bộ lá tối ưu, diện tích quang hợp lớn mà không
che phủ lẫn nhau, hàm lượng diệp lục trong lá cao. Vì vậy cần phải có chỉ số
diện tích lá (LAI) (m
2
lá/m
2
ñất) thích hợp.
Nghiên cứu về sự liên quan của bộ lá tới năng suất lúa, ðào Thế Tuấn
[65] cho rằng một giống có năng suất cao phải có ñủ 2 ñiều kiện:
- Diện tích lá lớn trước khi trỗ ñể tạo nên một sức chứa lớn.
- Hiệu suất quang hợp sau trỗ cao có thể tạo ra ñược bông lúa to, tức
nguồn chất dinh dưỡng lớn.
Tổng số lá trên thân chính nhiều hay ít có liên quan ñến thời gian sinh
trưởng và diện tích lá của quần thề. Thời gian hoạt ñộng của lá dài hay ngắn
có quan hệ rất lớn ñến việc tích luỹ dinh dưỡng cho cây và bông hạt quyết
ñịnh ñến năng suất lúa [49]. Lá ñòng và hai lá giáp lá ñòng có thời gian hoạt
ñộng dài nhất 45-50 ngày phụ thuộc vào giống. Các lá xuất hiện trước có thời
gian hoạt ñộng ngắn dần, lá thứ nhất có thời gian hoạt ñộng 7 ngày, lá thứ hai
có thời gian hoạt ñộng là 14 ngày [49]. Lá ñòng có thời gian sống dài nhất

Năng suất ruộng lúa phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành năng suất, năng
suất ñược cấu thành bởi ba yếu tố: số bông/m
2
, số hạt chắc/bông và khối
lượng 1000 hạt. Trong cả ba yếu tố trên thì sự ñóng góp của số bông/m
2

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

12
74%, hai yếu tố còn lại là 26% [26]. ðồng thời số bông/m
2
cũng là yếu tố
tương ñối dễ ñiều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại do số hạt/bông và khối
lượng 1.000 hạt ñược kiểm soát chặt chẽ bởi yếu tố di truyền. Về nguyên tắc
thì mật ñộ gieo cấy càng cao thì số bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất
ñịnh, việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông, nếu vượt quá giới hạn
ñó thì số hạt/bông bắt ñầu giảm ñi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho
nhiều bông. Theo ðinh Văn Lữ (1978) nếu tăng số bông ñến một phạm vi mà
số hạt/bông và tỉ lệ hạt chắc giảm ít thì ñạt năng suất cao, nhưng nếu số bông
tăng quá cao thì số hạt/bông và tỉ lệ hạt chắc giảm nhiều làm cho năng suất
giảm [37]. Số bông trên ñơn vị diện tích gieo cấy phụ thuộc vào mật ñộ cấy
và số dảnh cơ bản khi cấy, còn số hạt trên bông và khối lượng 1000 hạt phụ
thuộc lượng dinh dưỡng mà cây hút ñược. Vì vậy ñể ñảm bảo cho quần thể
lúa phát triển mạnh, song song với việc tăng mật ñộ cấy thì phải tăng mức
phân bón (Bùi Huy ðáp, 1970 [16]; ðào Thế Tuấn, 1980 [65]. Theo Phạm
Văn Cường và cs (2005), năng suất hạt của các giống lúa ở các mức ñạm khác
nhau có tương quan ở mức ý nghĩa với số bông/m
2
và số hạt/bông [9].

nhiều do ñiều kiện dinh dưỡng và ngoại cảnh mà chủ yếu phụ thuộc vào yếu
tố giống. Khối lượng 1.000 hạt ñược cấu thành bởi 2 yếu tố: khối lượng vỏ
trấu (thường chiếm khoảng 20%) và khối lượng hạt gạo (thường chiếm
khoảng 80%). Vì vậy muốn khối lượng hạt gạo cao, phải tác ñộng vào cả 2
yếu tố này.
Việc hiểu rõ sự liên hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất là chìa khóa
cho sự cải tiến năng suất. ðể có một ruộng lúa năng suất cao, giữa các yếu tố
phải có sự cân bằng thích hợp. Có thể ñiều chỉnh cân bằng ñó thông qua các
biện pháp kỹ thuật thâm canh.
2.2.3. Các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Nếu tính theo thời kỳ sinh trưởng thì cây lúa có 3 thời kỳ sinh trưởng chính:
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: tính từ lúc hạt thóc nảy mầm ñến khi
bắt ñầu vào giai ñoạn phân hoá hoa lúa (trên thực tế người ta tính từ khi gieo
mạ, cấy lúa, cây lúa ñẻ nhánh tới số nhánh tối ña).

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

14
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: tính từ lúc bắt ñầu phân hoá hoa lúa ñến
khi lúa trỗ bông và thụ tinh (bao gồm từ: làm ñòng - phân hoá ñòng, ñến trỗ
bông - bông lúa thoát khỏi lá ñòng, nở hoa, tung phấn, thụ tinh).
Thời kỳ chín: sau khi thụ tinh, bông lúa bước vào kỳ chín, kết thúc thời
kỳ này là bông lúa chín hoàn toàn, sau ñó tiến hành thu hoạch hạt thóc.
Nếu tính theo giai ñoạn sinh trưởng thì cây lúa có 10 giai ñoạn sinh trưởng:
(1) Giai ñoạn trương hạt, (2) Giai ñoạn hạt nảy mầm, (3) Giai ñoạn ñẻ nhánh,
(4) Giai ñoạn phát triển lóng thân, (5) Giai ñoạn phân hoá hoa, (6) Giai ñoạn
trỗ bông, (7) Giai ñoạn nở hoa thụ phấn, thụ tinh (8) Giai ñoạn hạt chín sữa,
(9) Giai ñoạn hạt chín sáp, và (10) Giai ñoạn hạt chín hoàn toàn.
2.2.4. Di truyền ñộ xếp sít hạt/bông và bông hữu hiệu/khóm
Khi nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất thì số hạt trên bông là

C; trung bình từ 70 - 74
0
C; cao > 74
0
C [11]. Hàm lượng amylose
ñược coi là thành phần quan trọng bậc nhất ñể xác ñịnh chất lượng nấu nướng.
2.2.5.1. Di truyền mùi thơm
Mùi thơm là một trong tính trạng quan trọng nhất quyết ñịnh ñến giá trị
thương phẩm và chất lượng gạo. Mùi thơm, khi nấu cơm mùi vị bốc hơi cho
thấy một hợp chất chính của formaldehydes và hydrogen sulfide. Emmanual
(1993) khi ñánh giá mùi thơm của gạo IR64, Azucena và Basmati ñã chứng
minh các hợp chất pentanol, hexanol, benzaldehyde, 2-acetyl-1-pyrroline và
2-acetyl-1-pyrroline là thành phần chính trong mùi thơm của gạo [34]. Tính
trạng mùi thơm rất dễ bị thay ñổi bởi ñiều kiện môi trường. Mùi thơm của
Basmati cần nhiệt ñộ lạnh của môi trường gieo trồng. Mùi thơm của
Khaodawkmali và các giống lúa thơm cổ truyền ở Việt Nam có thể bị ảnh
hưởng bởi ñiều kiện ñất ñai. Nàng thơm chợ ðào chỉ duy trì mùi thơm khi
trồng tại chợ ðào (Long An), tám thơm chỉ thích hợp khi trồng tại ñồng bằng
sông Hồng và sẽ mất mùi thơm khi trồng tại ñồng bằng sông Cửu Long (Bùi
Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang -2003). Tuy vậy người ta vẫn chưa xác ñịnh rõ
nguyên nhân [34]. Khai thác tính trạng thơm của các giống cổ truyền vẫn là
hướng ưu tiên trước mắt. Cải tiến dạng hình cây lúa thơm bằng phương pháp
chọn dòng thuần ñã ñược áp dụng thành công ở Việt Nam ñối với một số giống
như: nàng hương, tám xoan (thập kỷ 1990) (Bùi Chí Bửu và cs, 1995) [4].

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

16
2.2.5.2. Di truyền ñộ dẻo của lúa gạo
ðộ bền thể gen là một trong những chỉ tiêu có tính chất quyết ñịnh ñến

nên phụ thuộc vào tập quán của từng nhóm dân cư: căn cứ chủ yếu vào hàm
lượng amyloza, nhiệt ñộ hoá hồ, ñộ bền thể gen, ñộ nở cơm, sức hút nước và
hương thơm…
- Chất lượng dinh dưỡng: ñược thể hiện thông qua hàm lượng protein,
hàm lượng lysine…
2.2.6.1. Chất lượng thương phẩm.
ðánh giá của IRRI về phân loại hạt chất lượng theo chỉ tiêu hình dạng
và kích thước hạt theo hạt gạo xay: loại rất dài: > 7,5mm; loại dài: 6,61 -
7,5mm; loại trung bình: 5,51 - 6,60mm; loại ngắn < 5,50mm. Dạng hạt ñược
ñánh giá theo tỉ lệ dài/rộng (D/R): hạt thon D/R > 3,0; trung bình D/R khoảng
2,1-3,0; bầu D/R khoảng 1,1 - 2,0; tròn D/R < 1,1.
* Cơ sở di truyền của chất lượng thương phẩm
Theo Ramaiah (1933) thì chiều dài hạt gạo do 1 gen kiểm tra. Bolich
(1957) ghi nhận chiều dài hạt gạo là 2 gen kiểm tra. Còn Ramaiah và
Parthasarthy (1933) thì do 3 cặp gen kiểm tra tính trạng này. Các tác giả khác
như Mitro (1962), Chang (1974) [75], Nakatats và Jackson (1973), Somrith và
cộng sự (1979) lại cho rằng tính trạng này là do nhiều gen kiểm tra và kích
thước, khối lượng hạt di truyền ña gen [97]
Hình dạng hạt là kết quả của mối quan hệ giữa chiều dài, chiều rộng hạt
và ñộ dầy hạt gạo. Những ñặc ñiểm này là thuộc tính của giống và ñược di
truyền trung gian giữa hai bố mẹ (Virmani,1994) [99]. Khi nghiên cứu về
hình dạng hạt, Ramaiah (1933) ñã chứng minh rằng kiểu hạt ngắn, tròn trội
hơn kiểu hạt dài hình ôvan. Ông ñem lai giống hạt dài (>10mm) với hạt ngắn
(<5,81mm) cho ra tỷ lệ phân ly ở ñời F2 là 3 ngắn/1 dài. Ông cho rằng tính
trạng này ñược kiểm tra do 3 nhân tố di truyền K1, K2, K3 mức ñộ liên kết
của các nhân tố này dẫn ñến chiều dài của hạt khác nhau.

Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ………………………

18

19
gạo trong thường ngon hơn gạo ñục [13].
Tỷ lệ gạo nguyên là tính trạng di truyền bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi
trường, ñặc biệt là nhiệt ñộ và ẩm ñộ trong suốt thời gian lúa chín ñến thu
hoạch (Nagato K.Y Kono, 1963) [90]. Do ñặc tính nở hoa trên một bông lúa
và giữa các bông trong một khóm không ñều nên các hạt chín không ñều
(Ramaiah,1953;Matsubayashi,1969; Vergara,1980). Theo Mahadevappa,
(1969) thời gian thu hoạch thường phải ước ñoán ñể thu hoạch nhằm ñạt năng
suất cao và tỷ lệ gạo gẫy ít vì lúa chưa chín. Nếu thu hoạch muộn, do có nhiều
hạt quá chín sẽ bị rụng và nứt vỡ. Banguaek (1994) cho biết thời ñiểm tốt nhất
cho thu hoạch là sau khi hạt phơi màu 33-36 ngày [39]. Lê Doãn Diên (1995)
[12] cũng có nhận xét tỷ lệ gạo nguyên thay ñổi nhiều tuỳ theo bản chất giống và
phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ẩm ñộ khi lúa chín và
ñiều kiện bảo quản phơi sấy sau thu hoạch. Cũng theo ông tỷ lệ gạo nguyên phụ
thuộc vào kích thước, hình dạng hạt và hàm lượng protein trong hạt.
Ngoài ra các nghiên cứu của Dilay (1988), Hou (1988), A.Ali và cộng
sự cho thấy tỷ lệ gạo nguyên còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mức
phân bón, thời ñiểm tiêu nước và mật ñộ cấy [12].
Tỷ lệ gạo nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với ñộ cứng của hạt và ñộ
bạc bụng, chịu ảnh hưởng lớn bởi kỹ thuật sau thu hoạch (gặt ñập, phơi sấy,
tồn trữ ) (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang (2000) [5]. Tỷ lệ gạo nguyên còn
phụ thuộc vào thời ñiểm thu hoạch và tuốt lúa khác nhau. Những nghiên cứu
của Bùi Chí Bửu và CTV (1996) [6] cho thấy tỷ lệ gạo nguyên cao nhất khi
thu hoạch vào lúc chín 28- 30 ngày. Tiến hành thu sớm sau khi lúa trổ 20
ngày hoặc thu muộn sau khi lúa trỗ 35 ngày thì tỷ lệ gạo nguyên ñều thấp.
Kích thước, dạng hạt và ñộ bạc bụng của hạt là những yếu tố ảnh
hưởng nhiều ñến chất lượng xay xát và ñặc biệt là tỷ lệ gaọ nguyên. Nghiên
cứu của Yadav (1989) [100] cho thấy tỷ lệ gạo nguyên tăng tương quan với sự
giảm chỉ số dài/rộng hạt, hay nói cách khác hạt càng dài thì tỷ lệ gạo nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status