MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các từ viết tắt
vi
Danh mục các bảng
vii
MỞ ĐẦU
1
1
Đặt vấn đề
1
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
4
1.2 Tình hình sản xuất lúa và lúa chất lượng cao tại tỉnh Bắc Ninh
5
1.3 Những nghiên cứu về các chỉ tiêu chất lượng lúa gạo
8
1.3.1 Chất lượng thương trường
8
1.3.2 Chất lượng xay xát
10
1.3.3 Chất lượng dinh dưỡng
10
1.3.4 Chất lượng ăn uống
13
1.4 Những nghiên cứu về giống lúa chất lượng cao
1.6.1 Diện tích, sản lượng, năng suất lúa chất lượng cao của huyện từ 2006
– 2013
21
1.6.2 Cơ cấu giống lúa của huyện Tiên Du năm 2013
22
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
25
2.1.Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
25
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
25
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
25
2.1.3 Thời gian tiến hành nghiên cứu.
25
2.2 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Sinh trưởng, phát triển giai đoạn mạ của các giống lúa
34
3.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa
36
3.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
38
3.1.4 Động thái đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa
40
3.1.5 Tăng trưởng số lá của các giống lúa tại Tiên Du- Bắc Ninh
43
3.2 Một số chỉ tiêu sinh lý của các giống lúa chất lượng cao
3.2.1 Chỉ số diện tích lá
44
44
3.2.2 Khối lượng chất khô tích lũy của các giống lúa ở các giai đoạn sinh
trưởng (g/m2đất)
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
62
1
Kết luận
62
2
Đề nghị
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
PHỤ LỤC
66
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
LSD
: Sai khác giữa các công thức
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSSV
: Năng suất sinh vật học
NSTT
: Năng suất thực thu
NXB
: Nhà xuất bản
NXB KHKT
: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
PB
: Phân bón
TGST
5
1.3
Diện tích lúa chất lượng cao của các huyện, thị xã, thành phố của
tỉnh Bắc Ninh (từ 2011 - 2013)
6
1.4
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện Tiên Du
22
1.5
Cơ cấu giống lúa vụ Xuân, vụ Mùa năm 2013 của huyện Tiên Du
24
3.1
Một số chỉ tiêu trong giai đoạn mạ của các giống trong vụ Xuân và
vụ Mùa 2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
3.2
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa trong vụ Xuân và vụ Mùa
3.6
41
Động thái đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa trong
vụ Mùa 2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
3.5
35
43
Chỉ số diện tích lá (LAI) tại các giai đoạn sinh trưởng của các giống
lúa chất lượng cao trong vụ Xuân và vụ Mùa 2014 tại Tiên Du- Bắc
Ninh
3.7
45
Khối lượng chất khô tích lũy tại các giai đoạn sinh trưởng của các
giống lúa tại Tiên Du- Bắc Ninh trong vụ Xuân và vụ Mùa 2014
3.8
Hiệu suất quang hợp thuần (HSQHT) của các giống lúa trong vụ
Xuân và vụ Mùa 2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
3.9
56
Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa trong vụ Xuân và
vụ Mùa năm 2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
3.12b
54
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa trong
vụ Mùa 2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
3.12a
52
59
Hiệu quả kinh tế của các giống lúa trong vụ Xuân và vụ Mùa năm
2014 tại Tiên Du- Bắc Ninh
60
viii
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng cung cấp nguồn lương thực quan
Tuy nhiên, trên thực tế còn tồn tại trong sản xuất lúa của huyện là trình độ
sản xuất lúa của nông dân còn hạn chế, chủ yếu quan tâm đến số lượng, chưa
quan tâm nhiều tới chất lượng do đó hiệu quả kinh tế thu được từ sản xuất lúa
còn thấp. Vì vậy, việc nghiên cứu, chuyển giao giống lúa mới ngắn ngày, sạch
bệnh, có năng suất, chất lượng là cần thiết không chỉ đối với huyện Tiên Du, mà
là vấn đề tất yếu trong sản xuất lúa của Bắc Ninh.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên và nhằm góp phần khắc phục những tồn
tại để đạt được phương hướng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của huyện Tiên
Du, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “So sánh một số giống lúa
chất lượng cao tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn ra được 1-2 giống lúa chất lượng cao, năng suất, khả năng chống
chịu sâu bệnh tốt và thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở tỉnh Bắc Ninh.
3. Yêu cầu
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống lúa.
- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các giống lúa.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa.
- Đánh giá một số chỉ tiếu chất lượng của các giống lúa.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để bổ sung một số giống lúa cho
chất lượng tốt, năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt thích hợp với
điều kiện khí hậu đất đai của địa phương.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được 1 -2 giống lúa chất lượng cao, bổ sung vào cơ cấu giống
cây trồng của huyện Tiên Du và một số vùng lân cận có điều kiện khí hậu tương
tự trên địa bản tỉnh bắc Ninh. Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất
nông nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội của huyện Tiên Du-Tỉnh Bắc Ninh.
(triệu tấn)
2006
155,3
41,30
641,20
2007
155,0
42,40
657,20
2008
157,7
43,70
689,00
2009
158,4
162,7
45,27
745,71
Năm
(Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014 )
3
Châu Á có diện tích trồng và sản lượng lớn nhất nhưng năng suất cao nhất
lại là ở Châu Âu và Châu Đại Dương. Trong lịch sử phát triển thì cây lúa là loại cây
trồng có tốc độ phát triển tương đối nhanh về cả diện tích, năng suất và sản lượng.
Qua bảng số liệu 1.1 cho thấy được tình hình sản xuất lúa trên thế giới có
nhiều biến động.
Diện tích trồng lúa có nhiều thay đổi từ 155,3 triệu ha năm 2006 xuống
còn 155,0 triệu ha năm 2007, nhưng sau năm 2008 thì diện tích có xu hướng tăng
đều qua các năm.
Năng suất lúa có xu hướng tăng và khá ổn định qua các năm. Năng suất
lúa thấp nhất là 41,3 tạ/ha vào năm 2006. Sau đó tăng khá đều qua các năm và
đạt cao nhất là 45,48 tạ/ha vào năm 2012, năm 2013 năng suất đạt 45,27 tạ/ha
giảm 0,21 tạ/ha so với năm 2012.
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước nông nghiệp với đa số người dân sinh sống bằng
nông nghiệp. Trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển
của dân tộc. Nước ta nằm ở tọa độ 8030’- 23023’ vĩ tuyến bắc và 102010’109029’ kinh tuyến đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Với đặc điểm khí hậu
này Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa nước. Từ lâu cây lúa đã trở thành cây
7,30
48,90
35,85
2007
7,20
49,90
35,94
2008
7,20
52,30
38,73
2009
7,40
52,30
38,89
44,04
(nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014)
1.2. Tình hình sản xuất lúa và lúa chất lượng cao tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Do vậy, sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngoài
việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, đồng thời còn cung cấp cho các tỉnh lân
cận như: Hà Nội, Lạng Sơn, Quảng Ninh... Đây là các thị trường rộng mở và đòi
hỏi nhu cầu rất cao, là điều kiện thúc đẩy sản xuất lúa chất lượng của tỉnh phát
triển theo hướng hàng hóa.
Theo Nguyễn Trọng Khánh và Nguyễn Văn Hoan (2014), Nhu cầu tiêu
thụ các loại gạo có chất lượng tốt tại vùng Đồng bằng Sông Hồng cao hơn hẳn
gạo có chất lượng thấp.
Theo Công văn số 462-CV/TU của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc “Chủ
trương cải tạo giống lúa đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh” với mục tiêu đến năm
2010 diện tích gieo cấy lúa chất lượng, có giá trị kinh tế cao chiếm 30%, diện
tích lúa lai lên 30%, còn lại là các giống lúa thuần khác, năng suất lúa cả năm
bình quân toàn tỉnh lên 60 tạ/ha. Những năm gần đây sản xuất lúa nếp, lúa thơm
chất lượng đã được đầu tư phát triển hình thành nên 13 vùng sản xuất hàng hóa.
- Vùng lúa Tám Xoan ở Chi Lăng (Quế Võ) diện tích 200 ha. Năng suất
bình quân đạt 36 tạ/ha chất lượng gạo thơm, dẻo, ngon và dễ tiêu thụ, cho thu
nhập cao hơn 1,3 - 1,5 lần thóc tẻ thường.
5
Bảng 1.3: Diện tích lúa chất lượng cao của các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh (từ 2011 - 2013)
Năm 2011
Huyện
TP.Bắc Ninh
5.595,2
1.097,5
19,6
5.554,0
Gia Bình
8.678,0
920,0
10,6
Lương Tài
9.649,0
1.825,6
Quế Võ
14.200,0
Thuận Thành
8.637,0
682,0
7,9
8.600,0
753,0
8,8
18,9
9.710,0
1.930,4
19,9
9.815,0
2.242,0
22,8
5.594,0
39,4
Từ Sơn
5.276,0
3.024,7
57,3
5.227,0
2.894,0
55,4
4.989,3
2.320,0
46,5
Tiên Du
8.489,0
2.376,4
28,0
8.453,0
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh)
- Vùng lúa thơm có năng suất cao (giống DT122) có diện tích 160 ha ở
các xã: Phú Hòa 20 ha, Trung Chính 100 ha thuộc huyện Lương Tài; Nghĩa Đạo
20 ha, Ninh Xá 20 ha thuộc huyện Thuận Thành. Năng suất bình quân 50 tạ/ha,
chất lượng gạo thơm, dẻo hơn, giá bán trung bình bằng 1,2 - 1,3 lần so với thóc
tẻ khác, cho thu nhập khá và nhu cầu thị trường xuất khẩu đang cần.
- Vùng lúa nếp hoa vàng và giống nếp BM9603 tập trung ở các xã: Đình
Bảng 180 ha, Tương Giang 120 ha thuộc huyện Từ Sơn; Yên Phụ 100 ha, Hòa
Tiến 100 ha thuộc huyện Yên Phong; Phú Lâm 100 ha, Nội Duệ 60 ha thuộc
huyện Tiên Du; Thanh Khương 30 ha, Ninh Xá 50 ha thuộc huyện Thuận Thành.
Năng suất bình quân đạt 45 tạ/ha. Giá bán cao hơn lúa tẻ thường từ 1,8 đến 2 lần.
Trong những năm tới, giống lúa nếp và lúa chất lượng sẽ là sản phẩm có
lợi thế cạnh tranh của tỉnh Bắc Ninh, đem lại hiệu quả kinh tế gấp 1,3 - 1,5 lần so
với lúa thường. Sau 3 năm triển khai thực hiện chủ trương cải tạo cơ cấu giống
lúa và phát triển sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, diện tích lúa chất lượng
của các huyện trong tỉnh đã chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu gieo trồng.
Nhờ thực hiện chủ trương cải tạo cơ cấu giống lúa nên diện tích lúa chất
lượng cao cũng tăng khá. Tuy nhiên, đến năm 2012, diện tích lúa chất lượng cao
giảm xuống còn 18,534.50 ha, giảm 2.661,0 ha so với năm 2011. Theo báo cáo
của các huyện, thị xã, thành phố và số liệu điều tra của Sở Nông nghiệp và
PTNT, nguyên nhân diện tích lúa chất lượng giảm chủ yếu là do năm 2011 được
mùa, sản lượng lúa chất lượng cao, một số giống lúa chất lượng cao ít phù hợp
với thị hiếu tiêu dùng như nếp N87, N97, tẻ thơm HT1 tiêu thụ khó khăn, gây
ảnh hưởng đến tâm lý mở rộng sản xuất ở vụ sau.
Theo số liệu điều tra năm 2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT về nhu cầu
sản xuất lúa chất lượng cao trong thời gian tới của nông dân, có 58,4% ý kiến giữ
nguyên diện tích; 14,2% ý kiến mở rộng diện tích và 26,4% ý kiến giảm diện tích
thử và đặc điểm trong quá trình chế biến.
1.3.1. Chất lượng thương trường
Chất lượng thương trường (thương phẩm): là các tiêu chuẩn liên quan đến giá
cả mua bán, trao đổi trong nước và quốc tế. Các chỉ tiêu chất lượng thương trường
gồm có: chiều dài, chiều rộng hạt gạo xát, màu sắc nội nhũ, độ bạc bụng, độ trong
hạt gạo.
Theo Bolich.(1957) ghi nhận chiều dài hạt gạo là do 2 kiểu gen kiểm tra.
Theo Somrith B.(1979) lại cho rằng tính trạng này là do nhiều gen kiểm tra và
kích thước, khối lượng hạt di truyền đa gen.
8
Chiều dài và hình dạng hạt di truyền độc lập nên có thể tổ hợp hai tính
trạng đó vào một giống. Không có sự khác biệt di truyền nào gây cản trở sự tái tổ
hợp của tính trạng hạt thon dài với các tính trạng độ trong, độ bạc bụng, hàm
lượng amylose trong nội nhũ, kiểu cây, thời gian sinh trưởng và năng suất (
Nguyễn Thế Hùng và Vũ Thị Tám, 2003). Lúa đặc sản và lúa cổ truyền ở Việt
Nam có kích thước và hình dạng hạt nhỏ hơn so với các giống lúa cải tiến. Các
giống lúa đặc sản miền Bắc thường có dạng hạt nhỏ hơn và hương thơm hơn so
với các giống lúa đặc sản miền nam (Lê Doãn Diên, 1990).
Theo Lê Doãn Diên.(1990), hạt càng mảnh dài và độ bạc bụng càng cao
thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp. Độ trong suốt của hạt gạo tùy thuộc vào tính chất
của phôi nhũ, mức độ bạc bụng với vết đục xuất hiện ở trên lưng, bụng hoặc ở
trung tâm hạt gạo.
Tinh bột ở vùng bạc bụng xuất hiện rời rạc có cấu trúc kém chặt chẽ hơn
vùng trong suốt nên nó tạo ra các khe hở chứa không khí giữa các hạt trung bình
(Del Rosario etal., 1968). Mặc dù độ bạc bụng không ảnh hưởng gì đến phẩm
chất cơm, nhưng ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu thụ. Người tiêu thụ thích hạt gạo có
nội nhũ trong và trả giá cao hơn những loại gạo này (Khush etal., 1979).
Theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang.(2000), tỷ lệ gạo nguyên có
mối quan hệ chặt chẽ với độ cứng của hạt và độ bạc bụng, chịu ảnh hưởng lớn
bởi kỹ thuật sau thu hoạch (gặt đập, phơi sấy, tồn trữ...). Tỷ lệ gạo nguyên còn
phụ thuộc và thời điểm thu hoạch và tuốt lúa khác nhau. Những nghiên cứu
của Bùi Chí Bửu và cs.(1995) cho thấy: tỷ lệ gạo nguyên cao nhất khi thu
hoạch vào lúc chín 28-30 ngày. Tiến hành thu sớm sau khi lúa trỗ 20 ngày
hoặc thu muộn sau khi lúa trỗ 35 ngày thì tỷ lệ gạo nguyên đều thấp.
Kích thước, dạng hạt và độ bạc bụng của hạt là những yếu tố ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng xay xát và đặc biệt là tỷ lệ gạo nguyên. Nghiên cứu của
Yadav.(1989) cho thấy tỷ lệ gạo nguyên tăng tương quan với sự giảm chỉ số
dài/rộng hạt, hay nói cách khác hạt càng dài thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp.
1.3.3. Chất lượng dinh dưỡng
Chất lượng dinh dưỡng: được thể hiện thông qua hàm lượng protein, hàm
lượng lysine...
1.3.3.1. Hàm lượng protein
Protein của lúa gạo là loại dinh dưỡng cao, cao nhất trong tất cả các loại
protein của các hạt ngũ cốc khác nhe lúa mì, ngô, cao lương... Protein của gạo
được đặc trưng bơi tính dễ đồng hóa và tính cân bằng của 8 aminoacid không
thay thế đối với sức khỏe của con người.
10
Hàm lượng protein là một thông số quan trọng trong giá trị dinh dưỡng hạt
gạo. Protein trong hạt gạo có giá trị cao hơn so với các loại hạt cốc khác, bởi vì hàm
lượng lysin của nó khá cao (3,5-4%). Do đó hàm lượng protein của lúa gạo tuy thấp
khoảng 7-10% nhưng nó vẫn được xem như là một protein có phẩm chất cao nhất
(Juliano, 1985).
Theo Somrith (1979), di truyền tính trạng protein do đa gen điều khiển có
hệ số di truyền khá thấp, có thể do ảnh hưởng tương tác mạnh mẽ của kiểu gen
IR20, IR22 cao hơn hẳn giống IR8 khi bón ở mức 150 kg N/ha làm nhiều lần và bón
vào lúc cấy, phân hóa đòng. Còn trong vụ mưa thì hàm lượng protein không ảnh
hưởng đáng kể ở các giống (Vũ Bình Hải, 2002). Theo kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Văn Hiển.(1992) trên các giống lúa địa phương và nhập nội thì bón phân
phối hợp NPK có hiệu lực làm tăng hàm lượng protein trong hạt hơn là bón riêng rẽ.
Tuy nhiên, có sự tương quan nghịch giữa năng suất hạt và hàm lượng
protein trong hạt do sự phân phối năng lượng trong quá trình tổng hợp protein
hoặc tổng hợp tinh bột trên cơ sở sự ưu tiên theo quá trình nào của một giống lúa.
Giống lúa năng suất cao thì protein trong hạt có xu hướng thấp. Đó là thách thức
cho nhà chọn giống lúa cải tiến, vừa đạt năng suất cao, vừa có hàm lượng protein
cao (Bùi Chí Bửu, 2005).
1.3.3.2. Hàm lượng amylose
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự biến đổi của hàm lượng
amylose trong phạm vi nhiệt độ 22-310C, Paule cho biết: Với những giống có
hàm lượng amylose cao và trung bình thì hầu như không có sự thay đổi, còn
những giống có hàm lượng amylose thấp thì nhiệt độ tăng hàm lượng amylose
thường giảm.
Theo Bùi Chí Bửu và cs.(2005), tinh bột chiếm tỷ lệ trên 90% trong hạt
gạo. Hàm lượng amylose có thể được xem là hợp phần quan trọng nhất, bởi vì nó
có tính chất quyết định trong việc làm cho cơm dẻo, mềm hoặc cứng. Thường vụ
Đông Xuân có hàm lượng amylose thấp hơn vụ Hè Thu. Gạo ở vùng đất phèn có
xu hướng amylose cao hơn.
Do điều kiện khí hậu các giống lúa gieo trồng ở vùng đồng bằng Sông
Cửu Long có hàm lượng amylose trung bình cao hơn các giống được sử dụng ở
đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Thanh Thủy, 1999).
1.3.3.3. Nhiệt độ hóa hồ
Theo Lê Doãn Diên. (1995), tác giống lúa mùa ở nước ta đặc biệt là lúa
12
13
cây khác nhau. Sau khi tiến hành lai chéo các dòng này thu được các dạng cây và
độ hữu thụ khác nhau. Những cây có dạng khỏe và độ hữu thụ cao được chọn ra để
phân tích hàm lượng amyloza, nhiệt độ hóa hồ và hương thơm. Những dòng có
dạng cây xấu, độ hữu thụ thấp, chất lượng hạt kém và độ thơm thấp được loại bỏ
qua các thế hệ. Sau một số chu kỳ lai và chọn lọc những dòng có dạng cây khỏe,
thấp cây, đáp ứng được các đặc điểm về chất lượng như Basmati được chọn lọc và
tiến hành khảo nghiệm tại IRRI, Ấn Độ và Pakistan (Chaudhar, 2001).
Với sự phát hiện ra cây lúa dại có hạt phấn bất thụ vào 1970, các nhà khoa
học Trung Quốc, Ấn Độ và IRRI đã tạo ra một số dòng CMS - bất dục đực thuộc
tế bào chất (A), dòng bảo tồn thích ứng (B), và dòng phục hồi (R) thích hợp để
sản xuất ra những tổ hợp lúa lai đa dạng. Những tổ hợp lai 3 dòng đầu tiên của
Trung Quốc gồm có Wei-you 2, Wei-you 3, Wei-you 6, Shan-you 2, Shan-you 3,
Shan-you 6, Nam-you 2, Nam-you 3, Si-you 2, Si-you 3 và Si-you 6.
1.4.2. Những nghiên cứu về giống lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Công tác chọn tạo giống lúa chất lượng cao ở Việt Nam dựa theo các giá trị
tiêu chuẩn tương tự như lúa của Thái Lan và IRRI. Theo đó thì những giống lúa có
phẩm chất gạo cao là những giống lúa có hạt gạo dài từ 6,61 đến 7,5 mm, tỷ lệ gạo
nguyên ≥ 55%, gạo trắng trong, ít bạc bụng, độ hoá hồ trung bình, độ bền thể gel
mềm, hàm lượng amylose trung bình (Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu., 2006).
1.4.2.1. Nguồn giống lúa thơm Việt Nam
Ở Việt Nam, lúa thơm được trồng cả ở miền Nam và miền Bắc. Miền Nam
có giống lúa thơm nổi tiếng là Nàng Thơm Chợ Đào, còn miền Bắc thì có lúa Tám
thơm. Trong số 2000 mẫu giống lúa địa phương ở miền Nam có 28 mẫu là giống
lúa thơm hoặc nếp thơm. Hầu hết các giống lúa thơm miền Nam có dạng hạt thon
dài, thuộc dạng Indica. Có nhiều giống lúa thơm có thể hợp thành ba nhóm chính
là: Nàng thơm sớm, Nàng thơm lỡ và Nàng thơm muộn. Nổi tiếng nhất là giống
truyền (Nguyễn Hữu Nghĩa, 2007).
1.4.2.2. Phục tráng và cải tiến các giống lúa chất lượng cao cổ truyền
Việt Nam là một trong những cái nôi sản xuất lúa nước của châu Á với rất
nhiều giống lúa cổ truyền nổi tiếng. Những năm vừa qua Viện Lúa ĐBSCL đã
phối hợp với các đơn vị nghiên cứu và các địa phương trong vùng phục hồi và
phát triển các giống lúa chất lượng cao bao gồm các giống lúa đặc sản cổ truyền
như Nàng Thơm Chợ Đào ở Long An, Nàng Nhen ở An Giang, Nàng Chồn ở Bà
Rịa - Vũng Tàu… đã đáp ứng được một phần nhu cầu về chất lượng gạo ngày
càng cao ở các thành phố và hướng tới thị trường xuất khẩu gạo chất lượng cao
15
góp phần chuyển từ nền sản xuất lúa chú trọng số lượng sang chất lượng và tăng
hiệu quả kinh tế. Đặc biệt trong những năm gần đây, các giống lúa đặc sản như
lúa thơm và lúa nếp đã được trồng phổ biến trên diện rộng chiếm khoảng 10%
diện tích gieo trồng của cả vùng góp phần tăng năng lượng gạo đặc sản xuất khẩu
năm 2004 - 2005 lên hàng trăm ngàn tấn (Nguyễn Thị Trâm, 1998).
1.4.2.3. Chọn tạo giống lúa chất lượng cao mới
Song song với việc nhập nội và phục tráng giống, công tác chọn tạo
giống lúa chất lượng cao mới đang được các nhà khoa học nông nghiệp Việt
Nam rất quan tâm.
Với phương pháp phả hệ, từ 1 tổ hợp lai xa giữa hai giống lúa thuộc loài
phụ Indica và Japonica, Hoàng Tuyến Minh và tập thể tác giả Viện Di truyền
Nông nghiệp Việt Nam đã tạo ra giống lúa DT112 có năng suất khá, chất lượng
giống cao, có mùi thơm, thời gian sinh trưởng ngắn. Ngoài ra một loạt các giống
chất lượng khác của Viện Di truyền như DT17, DT15, DT21, T2… cũng đã đưa
ra thử nghiệm và mở rộng sản xuất (Nguyễn Hữu Nghĩa , 2005).
Các giống lúa ĐH101, ĐH77, ĐH15, TH3-3… của Nguyễn Thị Trâm và
các tác giả trường Đại học Nông nghiệp I cũng là những giống có chất lượng
hành đầu của Việt Nam đã có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo các giống
lúa, nhất là các giống chất lượng cao, các giống lúa nếp thơm, tẻ thơm như:
IR64, IR66, T1, X21, Xi23,… đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Hiện tại các giống lúa
lai HYT của Viện lai tạo ra cũng đang được thí nghiệm và sản xuất thử ở nhiều
nơi, kết quả thu được cũng rất khả quan (Trương Đích, 1999). Để tạo cơ sở cho
việc ứng dụng các quy trình canh tác giống lúa chất lượng cao tập thể tác giả
của Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã giới thiệu về các giống
chất lượng và kỹ thuật canh tác nhằm không ngừng nâng cao năng suất và chất
lượng của lúa (Lê Vĩnh Thảo và cs., 2003).
Các đề tài nghiên cứu phát triển giống lúa tẻ thơm cho một số vùng sinh thái
ở Việt Nam như giống lúa HT1, DT122 có hương thơm, năng suất cao, thích ứng
rộng đã được mở rộng vào sản xuất (Lê Vĩnh Thảo và cs., 2003). Giống lúa
BM9603 cho năng suất cao được gieo cấy ở nhiều vùng như Bắc Ninh, Hải Phòng.
Nguyễn Thị Trâm và cs.(2006) đã chọn tạo được giống Hương Cốm từ
giống Hương 125s, MR365, Tám Xoan đột biến (TX93), Magô và R9311 có hàm
lượng amylose 17,5%, hàm lượng Protein 8,7%, nhiệt độ hoá hồ thấp, độ bền của
gel mềm, chống đổ ngã rất tốt. Giống có hương thơm rất đặc trưng và được đánh
17
giá có chất lượng gạo ngon.
Ứng dụng chỉ thị phân tử và sắc khí để chọn tạo giống, tại Hội nghị quốc
gia chọn tạo giống lúa năm 2004 (Nguyễn Thị Lang và cs.,2004) báo cáo đã thiết
kế được 2 mồi RG28F - R và RM223 có thể sử dụng trong chương trình chọn tạo
giống lúa thơm. Năm 2008, Nguyễn Thị Lang và cs đã sử dụng 2 mồi trên để xác
định tính thơm trên OM4900 (cặp lai C53/Jasmine 5) và trên OM6161 (cặp lai
C51/Jasmine 85) và cho rằng 2 chỉ thị phân tử này giúp phát hiện quần thể phân
ly F2 có chứa gel fgr trong các các thể.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gạo
khi để nguội (Lê Doãn Diên và cs., 1984).
Các giống lúa đặc sản cổ truyền của Việt Nam (Tám, Dự, Di, Gié, Mùa...)
đều có hàm lượng amylose cao hoặc trung bình. Đặc biệt các giống lúa Tám có
hàm lượng amylose trung bình và do đó chúng có cơm mềm, dẻo, bóng và khi để
nguội cơm không bị cứng. Đây là ưu thế của gạo Tám trong tập đoàn lúa cổ
truyền ở nước ta (Lê Doãn Diên và cs., 1984).
Trong các giống lúa trồng, lúa Indica có hàm lượng protein cao hơn lúa
Japonica. Các công trình nghiên cứu của các tác giả Đài Loan cho thấy lúa
Indica có hàm lượng protein trung bình 12,91%, lúa Japonica là 8,81% (Lê
Doãn Diên và cs., 1984).
Các giống lúa nếp có hàm lượng amylose thấp và hàm lượng protein cao hơn
lúa tẻ. Vì vậy trong chương trình chọn tạo giống lúa có hàm lượng protein cao, ở
một số nước người ta đã lai tạo với các giống nếp (Lê Doãn Diên và cs, 1984).
1.5.2. Ảnh hưởng hưởng của phân bón và mùa vụ
1.5.2.1. Ảnh hưởng của phân bón
Phân bón cho lúa ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hạt. Nếu không bón hoặc
bón ít đạm thì lúa cao sản chỉ chứa một lượng protein thấp hoặc tương đương với lúa
địa phương.
Hàm lượng tinh bột trong hạt gạo thường có mối tương quan nghịch với
hàm lượng đạm. Nếu hàm lượng đạm được giữ nguyên thì hàm lượng tinh bột có
thể được giữ nguyên hoặc giảm đi (Lê Doãn Diên và cs, 1984).
Lân ảnh hưởng đến sự chuyển đường và tinh bột tích lũy về hạt và các bộ
phận thu hoạch.
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng phân bón N,P,K đến tỷ lệ bạc
bụng và hàm lượng amylose trong hạt gạo trên đết phèn các tác giả rút ra kết
19