Báo cáo về trẻ em khuyết tật và gia đình trẻ em khuyết tật tại đà nẵng - Pdf 20

Bà Alison Dexter – Giám đôc Nghiên cứu
Bà Trần Liên Phương – Giám đốc Quản lý Khách hàng và Chuyên viên Nghiên cứu Định tính
Ông Jean-Pierre Depasse – Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu Xã hội và Cộng đồng
Chị Lê Mai Khanh – Cán bộ Nghiên cứu
Chị Đàm Thu Hằng – Cán bộ Nghiên cứu
Anh Matthew Erickson – Cán bộ Nghiên cứu
Báo cáo về Trẻ khuyết tật
và Gia đình Trẻ khuyết tật
tại Đà Nẵng

áng 11, 2009
Biên son cho
c hin bi
Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi

3
 
Li cm ơn ................................................................................................................................................................5
Tóm tt ......................................................................................................................................................................6
Gii thiu .................................................................................................................................................................. 8
Giới thiệu về dự án nghiên cứu ........................................................................................................................8
Nn tng chung .....................................................................................................................................................10
Đôi nét về Đà Nẵng ..........................................................................................................................................10
Tình hình người khuyết tật và trẻ khuyết tật ..............................................................................................11
Phương pháp nghiên cu ...................................................................................................................................12
Phương pháp và cách thức ứng dụng ............................................................................................................12
Giai đoạn định lượng - Khảo sát trong cộng đồng .....................................................................................12
Giai đoạn định tính ..........................................................................................................................................12
Các phân tích được thực hiện ........................................................................................................................14
Kt qu nghiên cu ..............................................................................................................................................15
1. Kin thc, thái  và hành vi ........................................................................................................................15

   
Bảng 1: Dữ liệu Kinh tế Đà Nẵng (2008) .........................................................................................................10
Bảng 2: Nghiên cứu dân tộc học .........................................................................................................................13
Bảng 3: Nhóm thảo luận .......................................................................................................................................13
Bảng 4: Các bên hữu quan....................................................................................................................................14
Bảng 5: Sự khác biệt theo cách hiểu gần đây (nhưng không chính thức) giữa thuật ngữ phân loại của bộ
y tế và bộ giáo dục đào tạo....................................................................................................................................22
Bảng 6: Trẻ khuyết tật có thể có cuộc sống bình thường ...............................................................................35
5
  
Việc soạn thảo tài liệu này sẽ không thể thành công nếu không có sự hỗ trợ, tham gia tận tình và nỗ lực
của các cá nhân, các tổ chức Chính phủ và Phi Chính phủ.
Sự phối hợp của các đội nghiên cứu cũng sẽ không thể tạo kết quả tốt nếu không có sự tư vấn của các
chuyên gia UNICEF tại Việt Nam: Bà Naira Avetisyan – Chuyên gia về Bảo vệ trẻ em và Trẻ khuyết tật;
Bà Nguyễn Tố Trân – Chuyên gia về Truyền thông thay đổi hành vi và cùng Cô Marialaura Ena.
Danh sách các đơn vị và cá nhân được phỏng vấn được đính kèm trong phần phụ lục của tài liệu này.
6
 
Ước tính có khoảng hơn 1 triệu trẻ khuyết tật (gọi tắt là TKT) ở Việt Nam. Cùng với dịch chuyển chung
trên toàn cầu, Việt Nam hiện đang tiến tới một mô hình xã hội về vấn đề khuyết tật nhằm tạo điều kiện
hòa nhập cho đối tượng này với cộng đồng. Mô hình này chú trọng vào những thay đổi cần thiết của
cộng đồng về thái độ, sự trợ giúp xã hội, thông tin và những cơ cấu cụ thể nhằm cho phép những người
khuyết tật tham gia vào xã hội và đóng góp vào giá trị kinh tế.
Năm 2008, UNICEF Việt Nam đã khởi xướng một chương trình đa ngành cho trẻ khuyết tật, bao gồm
cả các nạn nhân chất độc màu da cam. Chương trình dựa trên cơ sở những chương trình hỗ trợ hiện
tại của UNICEF và các mối quan hệ đối tác nhằm củng cố thêm các chính sách, khung pháp lý và các
chương trình cho trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ. Chương trình này bao gồm hợp phần quốc gia và hợp
phần địa phương. Ở cấp địa phương, dự án sẽ tập trung vào việc tăng cường năng lực, vận động chính
sách, cung cấp dịch vụ và nghiên cứu. Đà Nẵng ở miền Trung Việt nam là nơi đầu tiên được chọn trong
ba tỉnh thành đề xuất cho dự án này.

kiến thức, thái độ và cảm nhận của các gia đình và trẻ khuyết tật, đồng thời nếu phù hợp cũng đưa ra
những nhìn nhận mang tính xã hội của cộng đồng và các bên liên quan về những vấn đề này. Với ý định
giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn về những khám phá từ nghiên cứu. Phần tiếp theo
sẽ tập trung vào các vấn đề liên quan tới các hệ thống và sự hỗ trợ cho việc hòa nhập của trẻ khuyết tật
với cộng đồng hiện nay. Quan điểm của từng bên hữu quan cũng được cung cấp. Phần cuối nhằm vào
mục đích truyền thông của chương trình, chủ yếu là đối tượng mục tiêu, ưu tiên về truyền thông, thông
điệp chính cũng như phương tiện chuyển tải thông điệp. Các phép phân tích thống kê cao cấp được ứng
dụng để hỗ trợ cho mục đích này.
Tóm li, trong khi còn rt nhiu iu phi làm, thì ã có sn nn tng tích cc cho vic thay i.
Cũng nên lưu ý là chúng ta nhận thấy sự nhất quán trong kiến thức, thái độ và quan niệm của từng cá
nhân, gia đình, xã hội và các cấp hữu quan, do ó các n lc tp trung s làm òn by cho s thay i
trên din rng.
Ở cấp cơ sở xã hội, hp tác tt hơn là ht sc quan trng nhằm đảm bảo nỗ lực của mọi ban ngành
đoàn thể và các tổ chức được đồng bộ để hướng tới những thành quả rõ ràng và hiệu quả hơn. Cht
lưng thông tin tt hơn, dưới dạng thống kê chi tiết số lượng trẻ khuyết tật sẽ giúp một cách đáng kể.
Các k hoch h tr tài chính cho các gia ình tr là cn thit và cũng trong kế hoạch ưu tiên, quan
trọng là sự tiếp cận với các khoản hỗ trợ này phải dễ dàng và thống nhất.
Về khía cạnh y tế sức khỏe, giáo dc thêm v sc khe cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ cũng như các
nhân viên trong ngành là rất cần thiết. Đồng thời cũng cần ci tin trang thit b và phương tin trong
bệnh viện, cũng như nâng cao kiến thức về phục hồi chức năng.
Nhng vn  liên quan ti vic giáo dc hòa nhp cn phi ưc  cp ti thông qua việc nâng
cao nhận thức vể chính việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ, cũng như với đội ngũ
giáo viên/giảng viên. Phát triển các tài liệu và chương trình hỗ trợ theo từng dạng khuyết tật, theo lứa
tuổi cùng với sự động viên đội ngũ giáo viên nói chung chính là những yếu tố hỗ trợ chủ yếu. Ở những
nơi giáo dục hòa nhập có tồn tại thì hiện có phản hồi tốt từ mọi cấp tuy những rào cản về mặt quan niệm
vẫn còn khá phổ biến.
Về phương diện cơ s h tng thì cn ban hành chính sách c th liên quan tới việc xây dựng các công
trình công cộng và sự tiếp cận cho người khuyết tật và trẻ khuyết tật, c bit là các vn  liên quan
ti giao thông và s tip cn vi trưng hc. Một ma trận chiến lược đặt ra nhằm tóm lược lại những
yếu tố cần cải thiện chính trong từng khía cạnh khác nhau.

Mô hình xã hội về khuyết tật làm rõ sự khác biệt giữa sự khuyết tật, như một điều kiện về sức khỏe làm
cho một người nào đó coi như không thể đi lại, và ảnh hưởng gây cản trở của xã hội về sự khuyết tật.
Nói một cách đơn giản hơn, không phải việc khuyết tật vận động ngăn cản một con người đi vào một
tòa nhà không được trợ giúp, mà chính những bậc thang hiện hữu làm cho người sử dụng xe lăn không
thể tiếp cận được với tòa nhà. Ý tưởng then chốt chính là xã hội đã gây ra khuyết tật cho con người. Nói
cách khác, “khuyết tật” được hình thành trong môi trường xã hội. Mô hình xã hội này đặt con người
lên trên hết. Nó nhấn mạnh phẩm giá, sự độc lập, sự trao quyền, sự tham gia, sự bình đẳng, sự lựa chọn
và tính riêng tư. Mục tiêu của mô hình này là cho thấy con người trước chứ không phải sự khuyết tật
trước. Chính vì lẽ đó, mô hình xã hội về khuyết tật tập trung vào những thay đổi cần có từ xã hội, nghĩa
là những thay đổi về thái độ, trợ giúp xã hội, thông tin và những cấu trúc vật lý. Mô hình cũng khái quát
tiềm năng của những người khuyết tật đóng góp cho xã hội và làm gia tăng giá trị kinh tế nếu họ được
trao quyền bình đẳng cũng như những tiện nghi và cơ hội phù hợp như những người khác.
Mô hình xã hội thường trái ngược với mô hình y tế vốn xem sự khuyết tật đồng nghĩa với suy giảm hay
tàn tật. Mô hình này tập trung vào chẩn đoán, tiên liệu, điều trị và ngăn ngừa trong bối cảnh người có
tật được coi là người có những vấn đề về sức khỏe. Hướng tập trung của nó không phải là theo cách một
người khuyết tật sống một cuộc sống đời thường ra sao. Hậu quả của mô hình y tế này là nó khơi gợi sự
thương hại và sự khoan dung của xã hội chứ không phải sự hòa nhập.
9
Việc có sẵn dữ liệu về trẻ khuyết tật là tối quan trọng trong nỗ lực làm cho họ được biết tới trong những
chương trình nghị sự về chính sách quốc gia. Do đó, việc thu thập những thông tin đáng tin cậy về trẻ
khuyết tật xét trên phương diện nào đó vẫn còn là một thách thức chính do việc sử dụng những định
nghĩa khác nhau về trẻ khuyết tật của các cơ quan chính phủ khác nhau cũng như nhận thức vẫn còn hạn
chế về quyền và nhu cầu của trẻ khuyết tật.
Vì lẽ đó, việc nghiên cứu được đặt ra nhằm tìm hiểu khoảng cách về năng lực và để giúp cho việc xây
dựng chính sách, cũng như phát triển truyền thông nhằm thay đổi hành vi của xã hội cũng như từng cá
nhân. Mục đích của nghiên cứu này gồm ba phần: đầu tiên là tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của
trẻ khuyết tật và gia đình trẻ, bao gồm những vấn đề chính và mong đợi của trẻ cũng như những trở ngại
mà trẻ gặp phải trong đời sống hàng ngày. ứ hai là tìm hiểu cảm nhận của cộng đồng trước trẻ khuyết
tật, cách họ nhìn nhận và hiểu vấn đề của trẻ. ứ ba là tìm hiểu vai trò của các ban ngành đoàn thể (khối
chính phủ và phi chính phủ) trong lĩnh vực này; cách họ giúp đỡ trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết

Đầu tư +19%
Cùng với tốc độ phát triển và tiến trình đô thị hóa nhanh chóng là những thay đổi lớn và thách thức mà
Việt Nam đang phải đối mặt ngày nay. Sự tăng trưởng kinh tế và thành thị hóa nhanh chóng tạo sức ép
lớn lên cơ sở hạ tầng, như giao thông, nhằm hỗ trợ cho sự tăng trưởng này. Những nhóm thiệt thòi hơn
ví dụ như như dân cư nghèo thành thị sống trong thành phố và phụ nữ có thể dễ dàng gặp phải khó khăn
hơn nếu như tình hình của họ không được lưu ý và quản lý cẩn thận.
Dân số Đà Nẵng có thể được chia làm 5 nhóm dựa trên thu nhập hộ gia đình như sau:
Hai nhóm đối nghịch nhau: 14% nghèo với thu nhập hộ dưới 140 đô la Mỹ một tháng và 13% khá giả với
trên 370 đô la Mỹ mỗi tháng. 3 nhóm trung bình chiếm phần còn lại với chi tiết trong bảng dưới đây:
1
1 Nguồn: TNS hiện liên tục thực hiện theo dõi mức thu nhập hộ gia đình thông qua dự án nghiên cứu Đời Sống Việt
(VIETCYCLE) từ năm 2001 tới nay vì không có một thống kê chính thức nào về sự phân bổ giàu nghèo / thành phần
kinh tế ở Việt Nam. Phân khúc những hộ gia đình ‘khá giả’ được thiết lập ngay từ đầu qua dạng nghiên cứu khảo sát
thống kê ở 4 thành phố chính của Việt Nam.
11
 th 1: u nhp h gia ình – tính bng ô la M hàng tháng ca tng h
< 140 USD
14%
140-200
25%
200-250
22%
250-370
26%
> 370 USD
13%
eo số liệu của sở Lao Động ương Binh Xã hội Đà Nẵng, hiện cả vùng có 33,000 hộ gia đình thuộc
diện nghèo – chiếm khoảng 19% tổng số hộ gia đình. Cho tới cuối năm 2009, thành phố Đà Nẵng hướng
tới việc giảm tỉ lệ này xuống còn 15%.
Tình hình ngưi khuyt tt và tr khuyt tt

Phương pháp và cách thc ng dng
Cần có cách nghiên cứu với hai giai đoạn nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cần có. Cách tiếp cận dựa trên
quyền con người được ứng dụng trên mọi khía cạnh khi thực hiện dự án này nhằm đảm bảo tính đại diện
cho quan điểm. Cách tiếp cận liên quan tới các yếu tố như:
ánh giá có s tham gia: ▪ tôn trọng những ý kiến/quan điểm khác nhau của các bên hữu quan
và người có quyền khác nhau bao gồm trẻ em, trẻ khuyết tật và cha mẹ của trẻ
Không phân bit i x: ▪ phản ánh sự không kỳ thị về trẻ khuyết tật ở các lứa tuổi, giới tính, và
dạng khuyết tật.
Quan im gii/Tui: ▪ quan điểm của nam và nữ; người lớn và trẻ em.
Trong phần nghiên cứu định tính, người trả lời được tuyển chọn với sự giúp đỡ của Sở Lao Động,
ương Binh, Xã hội và UNICEF.
Giai on nh lưng - Kho sát trong cng ng
Mục tiêu của cuộc khảo sát cộng đồng này là để đo lường Quan niệm và Kiến thức – ái độ - Hành vi
của cộng đồng tại Đà Nẵng về trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật:
Nhận thức về những vấn đề trẻ khuyết tật và gia đình trẻ gặp phải, nhu cầu và mong đợi của họ ▪
Trợ giúp cho trẻ khuyết tật hòa nhập với cộng đồng ▪
Cách họ nhìn nhận về các hoạt động của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ ▪
Việc sử dụng các kênh thông tin và thói quen sử dụng phương tiện truyền thông ▪
Các phỏng vấn trực diện được tiến hành với dân cư trong cộng đồng, ở độ tuổi từ 18-69 tại các quận Hải
Châu, anh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và Hòa Vang.
Tổng số mẫu chọn là n=150, các chỉ tiêu được áp đặt cho giới (50/50 nam và nữ) và theo từng khu vực
(n=20-25 mỗi quận). Cách chọn mẫu và số mẫu chọn được quyết định khi đã tính tới số mẫu vừa đủ
cho thống kê để phục vụ cho việc phân tích khái quát ở mức độ đại diện cho cộng đồng. Mẫu chọn sẽ
phải lớn hơn nếu cần phân tích theo cấp quận. Bản câu hỏi được soạn thảo với sự hợp tác của UNICEF
và mất khoảng 35 phút để hoàn thành phỏng vấn với mỗi người trả lời.
Giai on nh tính
Nghiên cứu với trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật
Phần trọng tâm của toàn bộ nghiên cứu này chính là giai đoạn nghiên cứu định tính với trẻ khuyết tật,
cha mẹ trẻ khuyết tật, trẻ bình thường và những bên hữu quan.
Mục tiêu của nghiên cứu với trẻ khuyết tật, cha mẹ của trẻ và trẻ bình thường là tìm hiểu sâu về:

Bng 3: Nhóm tho lun
Nhóm Dng khuyt tt ca tr Tui ca tr
1 Cha mẹ Khiếm thính 0-18
2 Cha mẹ Khiếm thị 0-18
3 Cha mẹ Khuyết tật vận động 0-18
4 Cha mẹ Chậm phát triển trí tuệ 0-18
5 Trẻ không khuyết tật 6-10
14
Phỏng vấn với các bên hữu quan
Mục tiêu của các phỏng vấn là khai thác quan điểm của các bên hữu quan liên quan tới trẻ khuyết tật và
gia đình trẻ khuyết tật nhằm hiểu rõ quan niệm của họ về tình hình trẻ khuyết tật và gia đình trẻ tại Đà
Nẵng, sự tham gia và hỗ trợ của họ cũng như ý kiến của họ về những hành động cần thiết trong tương
lai.
10 cuộc phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện với các cơ quan đại diện như liệt kê ở bảng bên dưới, mỗi
cuộc phỏng vấn kéo dài từ 45 phút tới 1 tiếng.
Bng 4: Các bên hu quan
Các bên hu quan
Bộ Y Tế Sở Y tế TP. Đà Nẵng
Bộ Giáo dục và Đào tạo Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Đà Nẵng
Bộ Lao động, ương binh và Xã hội Sở Lao động, ương binh và Xã hội TP. Đà Nẵng
Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ
người tàn tật Việt Nam
Sở Xây dựng TP. Đà Nẵng
Hội Nạn nhân Chất độc da cam/ Dioxin Việt
Nam (VAVA)
Unicef
Các phân tích ưc thc hin
Việc phân tích phân khúc với dữ liệu từ phần khảo sát với cộng đồng cũng được tiến hành trong mục
đích:
Tìm hiểu rõ hơn những quan niệm khác nhau từ cộng đồng ▪

i vi nhng trưng hp ny sinh do bin ng trong thi k mang thai, ví dụ thai phụ bị ốm,
dùng kháng sinh liều cao, sinh non, v.v thì cha mẹ trẻ có vẻ được chuẩn bị tinh thần tốt hơn. Đồng thời,
họ cũng nhận được nhiều sự động viên và hỗ trợ hơn.
“Tôi không biết đã xảy ra chuyện gì, nhưng có thể là do vợ tôi đã làm việc rất cực trong lúc
mang thai. Có thể nó đã ảnh hưởng đến sức khỏe của cô âý và khiến con tôi có vấn đề lúc
sinh ra.”
“Con tôi bị sinh sớm 2 tháng, sau đó thì cháu nó chậm phát triển”
- Nhóm cha mẹ trẻ khuyết tật trí não
Nhng trưng hp phát hin mun, xy ra trong quá trình tr ln lên, ví dụ như khi trẻ bị ốm, sốt
cao, viêm não Nhật Bản mà không được điều trị kịp thời thì cha mẹ và gia đình có thể đương đầu với kết
quả khuyết tật tốt hơn, với cảm giác là vẫn còn may mắn khi trẻ sống sót.
Nhng trưng hp không ưc phát hin mãi cho ti khi tr ưc sinh ra, có thể rất rõ ràng ngay
khi trẻ được sinh ra, hay được phát hiện khi đi khám thì cha mẹ và gia đình thường thấy choáng váng,
bất ngờ, bối rối và đau đớn.
16
Đặc biệt với những trường hợp phát hiện khi trẻ được đưa đi khám vào những năm tháng đầu đời thì cha
mẹ trẻ còn cảm thấy nặng nề và mất mát hơn.
“Lúc bé mới đầy tháng, tôi bồng bé xuống bệnh viện mắt lúc đó trời mưa to gió lớn! hai
vợ chồng đi, kêu ‘bác sĩ cứu dùm cháu’, bác sĩ nói ‘cứu sao được’, bẩm sinh rồi không chữa
được! ế là hai vợ chồng khóc miết luôn!”
- Nhóm cha mẹ trẻ khiếm thị
“Đến 3 tuổi rồi mà cháu nó chỉ biết nói ‘à’, ‘ừ’, chúng tôi cứ nghĩ là cháu chậm nói. Chúng
tôi không biết là cháu nó bị làm sao!”
“Tôi không biết gì mãi đến khi tôi mang cháu tới bác sĩ kiểm tra và bác sĩ bảo là cháu bị
‘điếc bẩm sinh’.”
- Nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính
Khi được hỏi về những vấn đề liên quan tới sức khỏe của con thì phần lớn cha mẹ đều tỏ ra thiếu kiến
thức về trẻ và nhu cầu của trẻ. Nhiều gia đình ở Việt Nam vẫn còn thiếu sự chuẩn bị kiến thức và hướng
dẫn về sức khỏe nhằm ngăn ngừa những nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng khuyết tật cho trẻ sơ
sinh. Có rất nhiều trường hợp nảy sinh do những diến biến bất thường hoặc điều kiện dinh dưỡng của

khi mà sự may rủi là điều tối quan trọng thì việc đem trẻ khuyết tật tới chốn đông người là điều cấm kỵ,
vì trẻ khuyết tật bị cho là điểm gở, kém may mắn hay xui xẻo.
“Khi chị đi ra công viên hay đi xem pháo hoa thì chị cho cháu đi cùng nhưng mà ngày Tết
thì không dám đưa cháu đi đâu vì sợ là mọi người kiêng kỵ”
- Nhóm cha mẹ của trẻ khiếm thị
Trong khi những vấn đề như vậy vẫn còn tồn tại, việc chuyển sang thái độ tích cực hiện còn tùy thuộc rất
nhiều vào từng dạng khuyết tật của trẻ. Nếu trẻ bị dạng khuyết tật được cộng đồng chấp nhận (thường
là những gì lộ rõ ra ngoài, hay trong những trường hợp trẻ có thể dễ dàng tuân thủ những hành vi chuẩn
mực) thì việc chuyển thái độ tích cực có vẻ khả thi hơn. Những gia đình này sẽ tạo mọi điều kiện để trẻ
có thể hội nhập với gia đình và cộng đồng. Trong quá trình thảo luận, phụ huynh cũng bộc lộ sự hãnh
diện và tự tin vào tiến bộ và thành quả của con mình, thái độ tích cực này cũng được phản ánh ở trẻ.
Các dạng khuyết tật khác nhau cũng nhận được sự quan tâm và thông cảm khác nhau từ cộng động và
chính gia đình trẻ. Khiếm thính, khiếm thị và khuyết tật vận động là ba dạng khuyết tật dễ được chấp
nhận và hòa nhập với cộng đồng hơn cả: trẻ có khuyết tật dạng này dường như có nhiều bạn bè từ trường
và láng giềng hơn. Nhóm trẻ này cũng có khả năng giao tiếp tốt hơn với bạn bè mà không gặp quá nhiều
trở ngại về ngôn ngữ. Sự cảm thông và sự chia sẻ góp phần rất lớn vào sự phát triển của trẻ khuyết tật.
Cha mẹ trẻ khiếm thính và khiếm thị không muốn nhắc tới con mình với hai từ “khuyết tật” mà với họ
chỉ là “sự suy giảm chức năng nghe hay nhìn”. Họ coi con mình là những đứa trẻ chỉ “bị tật nhẹ” và cảm
thấy rất bức xúc khi trẻ bị gán với thuật ngữ “khuyết tật” hay những cách gọi phổ biến trong đời sống
như là “câm”, “điếc”, hay “mù”. Phụ huynh nhóm trẻ này ít nhất cũng có hiểu biết căn bản về tình trạng
khuyết tật của con và họ tin rằng trẻ có thể được phục hồi chức năng phần nào với những công cụ ví dụ
như máy trợ thính.
“Tôi nghe mọi người nói khiếm thính nó đỡ hơn. Chứ tôi nghe người ta nói “câm” với “điếc”
là tôi bực mình lắm.”
- Nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính
“Có lần tôi đưa cháu ra chợ, cô bán hàng thấy tôi nói chuyện với cháu, hỏi tôi “Cháu nhà
chị bị điếc à?” Sau đó, cháu không bao giờ muốn tiếp xúc cô đó nữa.”
- Nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính
“Cháu nhà tôi rất ghét khi có người gọi nó là “mù”. Nó sẽ phải mất thời gian rất lâu mới
có thể quên được điều đó.”

gia đình và nhà trường dạy rằng “đó là những người đáng thương và cần được giúp đỡ”. Vì thế, các em
thường có cảm giác thương hại và thương cảm cho các bạn thay vì là sự hội nhập cần thiết. Các em tỏ rõ
thái độ và hành vi từ việc nhận thức được việc giúp các bạn khuyết tật, đặc biệt là khi ở trường học, như
viết bài hộ bạn, nói chuyện với bạn, giúp bạn lên xuống cầu thang và đưa bạn về nhà.
“Đối với người khuyết tật, cần phải giúp đỡ họ, nâng niu họ, không nên coi thường họ,
không nên làm phiền họ, không được chọc ghẹo.”
“Trong lớp con có bạn bị khuyết tật chân, giờ ra chơi, bạn phải ngồi một chỗ, đôi khi con
với các bạn phải đưa bạn ra ngoài sân ngồi, nói chuyện với bạn.”
- Bé trai 7 tuổi trong nhóm trẻ không khuyết tật
Trong cộng đồng hoặc khu vực xung quanh, trẻ không bị khuyết tật thường hòa nhập với trẻ khuyết tật.
Đối với những trẻ này, chúng thường bày tỏ suy nghĩ coi trẻ khuyết tật như “tốt bụng, dễ thương và dễ
tha thứ đối với người khác’. Khi nói đến người khuyết tật và những người bị khuyết tật nặng mà chúng
không có cơ hội được gặp trực tiếp, chẳng hạn như người bị chứng bại não, chúng thường tỏ ra tò mò, lo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status