KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
1.1.
Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: Ngân hàng thương mại là loại
hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1.
Chức năng trung gian tín dụng (chức năng trung gian tài
chính)
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM là cầu nối giữa những
người có vốn tạm thời dư thừa và những người co nhu cầu về vốn. Ngân hàng hoạt
động huy động các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thành nên
quỹ cho vay cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng đóng vai trò
hết sức quan trọng, tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia kinh doanh và lợi ích
chung của nền kinh tế.
+ Đối với người gửi tiền: Họ được hưởng lãi suất tiền gửi, các khoản tiền gửi
cho việc thực hiện chức năng trung gian thanh toán. Đồng thời ngân hàng thương
mại thực hiện tốt chức năng thanh toán sẽ làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng
quy mô hoạt động của ngân hàng.
1.1.2.3.
Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với
mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển
của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô
hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác nhau của
NHTM là chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán. Thông
qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để
cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh
toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn
được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa,
thanh toán dịch vụ,... Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương
tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng
trung ương đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỷ
lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
1.1.3. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM
1.1.3.1.
-
Căn cứ vào Bảng cân đối tài sản
Nhóm nghiệp vụ trong bảng:
+ Nghiệp vụ tài sản Nợ (nghiệp vụ tạo lập vốn): bao gồm vốn pháp định –
Nhóm nghiệp vụ đối với khách hàng doanh nghiệp: bao gồm các nghiệp vụ
nhận tiền gửi, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế,
-
mua bán ngoại tệ, cho vay doanh nghiệp, bảo lãnh, tư vấn,...
Nhóm nghiệp vụ đối với các tổ chức tín dụng khác: đi vay, cho vay, thanh
toán,...
1.2. Khái quát về cho vay tiêu dùng
1.2.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: Cho vay là hình thức cấp tín
dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Hiện nay, bên cạnh hình thức tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân ngày
càng phát triển đặc biệt là trong tình hình kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và
hội nhập với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, chất lượng dân trí và cuộc sống
cũng được cải thiện hơn. Do sự canh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng, các sản
phẩm phục vụ cho tiêu dùng cũng ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng được
nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình, đồng thời cũng mang về nguồn lợi nhuận lớn và
thị phần tiềm năng cho các Ngân hàng.
Như vậy, cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho
các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế
hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi,... và các
nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống.
1.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng có thể chia thành cho vay kinh
doanh và cho vay tiêu dùng. Do đó, cho vay tiêu dùng cũng là một trong những loại
hình tín dụng của Ngân hàng và mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động tín
vay của khách hàng.
1.2.2.3. Rủi ro đối với cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất
trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có
thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi
khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khỏe,
công việc,... Việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng cũng rất khó khăn.
Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình
sức khỏe và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi
ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro cao nhất nên các ngân
hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải
mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hóa đã mua.
1.2.2.4. Lãi suất cho vay tiêu dùng
Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua
bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản
lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao.
Do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất của các khoản cho vay
khác của NHTM.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
5
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Từ trước đến nay, CVTD vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại
lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi
với mức rủi ro cao như vậy thì các khoản CVTD có được một mức lợi nhuận rất lớn
trong các nguồn thu của ngân hàng. Bên cạnh đó, số lượng các khoản vay tiêu dùng
khá nhiều khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng rất lớn, và cùng với mức lợi
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
6
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
nhuận trên mỗi khoản vay tiêu dùng sẽ khiến cho lợi nhuận thu về từ hoạt động cho
vay là rất đáng kể trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Chính vì triển vọng về lợi
nhuận cũng như phạm vi về đối tượng khách hàng trong lĩnh vực này mà đối với
hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong
những nguồn thu chủ chốt của các ngân hàng thương mại, đóng vai trò chủ đạo
trong dịch vụ ngân hàng cũng như quản lý ngân hàng và vẫn tiếp tục hứa hẹn nhiều
triển vọng trong việc phát triển loại hình tín dụng này trong tương lai. Tại các nước
đang phát triển, loại hình cho vay này cũng đang dần khẳng định được vai trò của
mình, đem lại những khoản lợi nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân
hàng.
1.2.3. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay của NHTM có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế xã hội. Hoạt động cho vay giúp khai thông dòng tài chính để những luồng
vốn được luân chuyển liên tục. Đối với nền kinh tế, việc NHTM cho KH cá nhân
vay vốn với mục đích tiêu dùng còn có nhiều ý nghĩa hơn thế.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
càng gia tăng. Đặc biệt là trong tình hình công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay
thì vay qua NHTM và thanh toán điện tử càng trở nên thuận tiện và hiện đại hơn.
Việc CVTD của các NH hiện nay đã phần nào đáp ứng được những nhu cầu cấp
thiết ấy của KH.
Hơn thế nữa, ở Việt Nam, phần lớn người dân vẫn không có khả năng để chi
trả hết những nhu cầu mà họ mong muốn trong cuộc sống ở thời điểm hiện tại và
đặc biệt là trong những trường hợp cấp bách thì lãi suất cho vay của NH hợp lí hơn
nhiều so với lãi suất vay nóng bên ngoài thị trường. Thời hạn cho vay và phương
thức trả nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của KH. Điều kiện và thủ tục để có
được khoản vay tiêu dùng cùng không phức tạp. Do đó, chính những hoạt động cho
vay tiêu dùng đã giúp người tiêu dùng được hưởng các tiện ích đó một cách nhanh
nhất, bằng cách là họ chỉ phải trả một khoản tiền nhỏ hơn nhiều so với giá của sản
phẩm và trả dần theo những khoảng thời gian xác định thay vì phải trả một khoản
tiền lớn ngày lúc. Điều này rất hợp lý với những người có mức thu nhập trung bình,
chiếm đa số trong xã hội và đây cũng là một cách hạn chế cho vay nặng lãi trên thị
trường.
c. Đối với nền kinh tế
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
8
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Có thể nói, hoạt động CVTD là đòn bẩy kích thích sản xuất phát triển, tạo
điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực
hiện xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, CVTD làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong dân cư
ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách
-
hàng, chẳng hạn như các giấy tờ có giá, ngoại tệ mạnh, kim loại quý,...
Cho vay thế chấp: là hình thức mà người vay phải chuyển toàn bộ các giấy tờ
chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo khác sang cho ngân
hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Đối với thế chấp bằng tài sản thì
những tài sản mang thế chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
9
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
dụng đất hoặc là những động sản mà người vay vẫn cần sử dụng như ô tô, xe
máy,... Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được
sử dụng tài sản trong thời gian vay. Tuy nhiên, quá trình sử dụng có thể làm
biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát của tài sản đảm bảo của ngân
hàng bị hạn chế. Việc định giá tài sản đảm bảo cũng là một khó khăn lớn đòi
hỏi phải có sự thẩm định kĩ lưỡng, tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho
ngân hàng hoặc định giá quá thấp gây ảnh hưởng đến khả năng vay của
khách hàng.
Loại 2: cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài
sản đó không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu
cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân
1.2.4.3. Căn cứ vào thời hạn khoản vay
Theo tiêu thức này ngân hàng có thể quản lý tốt hơn về mắt thời gian của các
khoản vay như thời hạn giải ngân, thời hạn thu nợ,... Qua đó các ngân hàng có thể
quản lý tốt khả năng thanh khoản của chính mình.
a. Cho vay ngắn hạn
Các khoản vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống,
chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn
hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất, cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng
cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có
hoặc không có đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
b. Cho vay trung và dài hạn
Các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm thì được xếp vào danh mục khoản
vay trung hạn và từ 5 năm trở lên là các khoản vay dài hạn. Các khoản này thường
chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM, chiếm phần
lớn lợi nhuận mà hoạt động cho vay mang lại.
1.2.4.4. Căn cứ vào hình thức cho vay
a. Cho vay theo món
Là khách hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Như vậy,
nếu trong một khách hàng có bao nhiêu món vay thì khách hàng phải làm bấy nhiêu
thủ tục hồ sơ xin vay. Bộ phận tín dụng tiến hành phân tích hồ sơ xin vay và xem
xét cho vay đối với từng hồ sơ cụ thể
b. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận
một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm cơ
bản của loại vay này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món.
c. Cho vay theo dự án đầu tư
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
tô, nhà ở,... Rủi ro các món vay này không lớn lắm.
c. Cho vay trả góp
Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc
nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Khoản cho vay được trả làm nhiều
lần theo thỏa thuận giữa NH và KH, phương thức này được dùng để tài trợ cho việc
mua sắm các vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà,... hoặc để tài trợ cho các phương án
sản xuất kinh doanh, thuê cửa hàng, mua sắm các tài sản lưu động khác,... Nhìn
chung, các khoản cho vay trả góp này mang lãi suất cố định, tuy nhiên loại mang lãi
suất thả nổi cũng đang dần trở nên phổ biến. Thường thì trong tổng khối lượng cho
vay tiêu dùng do các NHTM cung cấp thì hơn 80% được thực hiện trên cơ sở trả
góp. Điều này xuất phát từ việc khả năng tài chính của khách hàng không đủ để chi
trả khoản vay một lần duy nhất thêm vào đó việc định kì trả nợ vào mỗi tháng hay
đến kì lương là thuận lợi hơn. Hình thức cho vay này lại được chia nhỏ thành: cho
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
12
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
vay trả gốc và lãi hàng tháng đều nhau (niên kim cố định), trả gốc hàng tháng bằng
nhau, lãi trả theo số dư gốc (niên kim không cố định), hoặc trả lãi hàng kì còn gốc
trả cuối kì.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng
1.2.5.1. Nhân tố chủ quan
Hoạt động cho vay ngân hàng ngày càng tăng cường phụ thuộc phần lớn vào
các nhân tố tạo nên sức mạnh của ngân hàng.
a. Nguồn vốn của ngân hàng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
13
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một
khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho
vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có
vấn đề,... tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng
cho vay của Ngân hàng. Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng
đúng đắn, hợp lí, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về
vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay,
nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp
lí, cứng nhắc, không theo sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng
cường hoạt động cho vay của mình.
Ngân hàng đa dạng hóa các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng,
từng kì hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được khách
hàng, thực hiện tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất không
phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hưt được
nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng.
c. Thông tin tín dụng
Khó có thể tưởng tượng nổi một doanh nghiệp trong môi trường luôn biến
động và cạnh tranh gay gắt như ngày nay mà không cần đến thông tin. Thông tin trở
thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếu được với mọi doanh nghiệp nói chung, Ngân
hàng thương mại nói riêng. Trong hoạt động cho vay, Ngân hàng cho vay chủ yếu
dựa trên sự tin tưởng đối với khách hàng. Mức độ chính xác của sự tin tưởng này lại
phụ thuộc vào chất lượng thông tin mà Ngân hàng có được.
Để ngày càng tăng cường hoạt động cho vay đạt hiệu quả, chất lượng cao,
thương mại tuy có được những nguồn lực khan hiếm và giá trị mà đối thủ cạnh
tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiều khách hàng, vốn
tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ giỏi. Song do cán bộ điều hành lãnh đạo
không sắc sảo, nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động Ngân hàng theo kịp
các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên đúng sở trường,... dẫn đến lãng phí
nguồn lực Ngân hàng mình có, giảm hiệu quả chi phí, tất nhiên hạ thấp đi hoạt động
cho vay của Ngân hàng.
Năng lực lãnh đạo của những người điều hành ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng. Nó thể hiện ở những mặt sau:
- Khả năng chuyên môn: có được khả năng này, người lãnh đạo sẽ dễ dàng
hơn trong công tác quản lí và điều hành, vì kiến thức và kinh nghiệm của nhà
lãnh đạo luôn tạo được uy tín tuyệt đối không chỉ với cấp dưới mà nhiều khi
-
đối với cả đối thủ cạnh tranh.
Khả năng phân tích và phán đoán: dự đoán chính xác những thay đổi trong
môi trường kinh doanh tương lai từ đó hoạch định chính xác các chiến lược,
xác định các chính sách, kế hoạch kinh doanh phù hợp.
Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: là khả năng giao tiếp cũng như khả
năng tổ chức nhân sự trong mối quan hệ không chỉ đối với nhân viên, đồng nghiệp,
cấp trên, khách hàng. Nó còn gồm những kĩ năng khác về lãnh đạo, tổ chức phỏng
đoán, quyết toán công việc.
e. Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên Ngân hàng
chính là hình ảnh của Ngân hàng. Cho nên những kiến thức, kinh nghiệm, chuyên
môn của mình, nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch vụ. Đa số các
ý tưởng cải tiến hoạt động kinh doanh được đề xuất bởi nhân viên Ngân hàng.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
để ngày càng phát triển thì Ngân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu so
với đối thủ cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt
đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khách hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử
dụng dịch vụ và vay tiền của Ngân hàng nào có lợi cho họ. Nếu như đối thủ cạnh
tranh mà chiếm ưu thế hơn so với Ngân hàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn
Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh
tranh. Do đó để mở rộng hoạt động cho vay thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ
cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùng quan trọng.
Quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh gồm có: xác định các nguồn thông tin
về đối thủ cạnh tranh, phân tích các thông tin đó, dự đoán chiến lược của các đối thủ
cạnh tranh và đánh giá khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong việ mở rộng hoạt
động cho vay.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
16
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
b. Sự phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Nó tạo môi trường rất
thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay.
Bất cứ một Ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của các chu kì kinh tế.
Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh nghiệp làm ăn tốt thì xã hội có
nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vay vốn tăng.
Mặc khác nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ lệ thất nghiệp
thấp sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân và
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
17
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
được đảm bảo, nhờ đó hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu
dùng nói riêng ngày càng phát triển. Ở quốc gia nào có tình hình chính trị không ổn
định, xảy ra tranh chấp liên miên thì ngay cả việc sản xuất kinh doanh trong nước
còn gặp khó khăn, thu hút đầu tư còn gặp khó khăn hơn nữa. Kinh tế kém phát triển,
đời sống của người dân không được quan tâm dẫn đến hoạt động ngân hàng sẽ bị
ngừng trệ.
e. Môi trường văn hóa – xã hội
Môi trường văn hóa – xã hội bao gồm các yếu tố như trình độ nhận thức, lối
sống, thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, tâm lý,... Những yếu tố này tác động
trực tiếp tới hành vi của người tiêu dùng. Ở nơi nào người dân có trình độ dân trí
cao, người dân sẽ dễ dàng nắm bắt được thông tin và công nghệ ngân hàng thì ở đó
hoạt động ngân hàng sẽ phát triển hơn. Hay như ở một số nơi người dân có thói
quen tiết kiệm, đặc biệt là các nước Á Đông như Việt Nam. Thường thì họ sẽ tiết
kiệm dần dần, khi nào có nhu cầu mua sắm sẽ trích ra từ đó. Chỉ khi thật sự cấp
bách họ mới tới ngân hàng để vay. Thậm chí có những người mang tâm lý ngại đến
ngân hàng vì có nhiều thủ tục.
f. Môi trường kỹ thuật – công nghệ
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế và xã hội. Nó
làm thay đổi phương thức sản xuất, cách thức tiêu dùng và cả phương thức trao đổi
của xã hội nói chung cũng như của ngân hàng nói riêng. Ngân hàng là một trong
những ngành rất quan tâm tới ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh
doanh. Có thể nói hoạt động của ngân hàng không thể tách rời khỏi sự phát triển
mạnh mẽ của công nghệ thông tin.
Ngày nay khi đời sống ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày
Đối tượng vay tiêu dùng chủ yếu là cá nhân và hộ gia đình nên việc thu nhập
thông tin đánh giá tư cách đạo đức của khách hàng đối với cán bộ tín dụng là vô
cùng khó khăn. Khả năng xảy ra rủi ro ở đây là rất lớn. Chính vì thế đối với nhứng
khách hàng đến vay lần đầu, số tiền khách hàng được vay rất hạn chế. Nếu khách
hàng chứng minh được phẩm chất đạo đức tốt cũng như độ tin cậy của mình thì
khách hàng sẽ được vay số tiền lớn hơn.
Khả năng tài chính của khách hàng là nguồn trả nợ chủ yếu cho ngân hàng.
Các khoản cho vay tiêu dùng sẽ có độ rủi ro thấp hơn khi mà khách hàng có thu
nhập cao và ổn định. Tuy nhiên đây lại là một yếu tố không ổn định, có tính biến
động. Có thể tại thời điểm vay khách hàng có thu nhập cao và ổn định, nhưng có thể
có các biến cố bất thường như tai nạn, ốm đau, mất việc,... xảy ra. Khi ấy khả năng
thu nợ của ngân hàng sẽ trở nên khó khăn. Nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi
khách hàng không có khả năng trả được nợ đó là tài sản đảm bảo. Giá trị tài sản
đảm bảo quyết định hạn mức cho vay và cả doanh số cho vay của ngân hàng.
Các yếu tố thuộc về khách hàng này ảnh hưởng tới quyết định có cho khách
hàng vay hay không của ngân hàng. Từ đó mà việc phát triển hoạt động cho vay tiêu
dùng cũng bị ảnh hưởng theo.
1.2.6. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng
1.2.6.1. Doanh số cho vay
Là tổng số tiền mà ngân hàng đã giải ngân dưới hình thức tiền mặt hoặc
chuyển khoản trong một thời gian nhất định.
Doanh số cho vay phản ánh kết quả về việc phát triển, mở rộng hoạt động
cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Nếu như các nhân tố khác cố
định thì doanh số cho vay càng cao phản ánh việc mở rộng hoạt động cho vay của
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng, đồng thời phản
ánh khả năng quản lý tín dụng của Ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi
nợ của Ngân hàng đối với các khoản vay. Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá
chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín dụng tại Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng
cao thể hiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng càng kém và ngược lại.
1.2.6.5. Tỷ lệ trích lập dự phòng
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng kiểm soát, phòng chống rủi ro TDTD của
Ngân hàng. Chỉ tiêu này quá cao thì lượng chi phí của đồng vốn cao, Ngân hàng
không đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Ngân hàng cần duy trì ở mức độ
nhỏ, đủ đảm bảo an toàn.
Trên đây là một số chỉ tiêu đơn giản để đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng
của Ngân hàng. Và trong môi trường kinh doanh không ngừng biến động cùng với
sự phát triển vượt bậc của xã hội, Ngân hàng muốn hoàn thiện chất lượng của sản
phẩm mình hơn, thì việc xây dựng hệ thống đo lường chất lượng của sản phẩm
không phải là một vấn đề tương lai nữa mà đối với các Ngân hàng chậm trễ ngày
nào thì rủi ro sẽ theo đó mà tăng thêm.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
21
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
CHƯƠNG 2
Duy xuyên, huyện Núi Thành và huyện Đại Lộc.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2.1.1.2.
22
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Sơ lược về Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
-
Thương Tín
Tên tổ chức: NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
Tên quốc tế: SAI GON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK
-
BANK
Viết tắt: SACOMBANK
E-mail:
Website : www.sacombank.com.vn
-
PHÒN
N
G
Nguồn: Phòng hành chính Sacombank – Chi nhánh Quảng Nam
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
G
PHÒN
G
PHÓ GIÁM ĐỐC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2.1.2.2.
23
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Chức năng các phòng ban
a. Ban Giám đốc
Phân tích, thẩm định, đề xuấ cho vay và gia hạn hồ sơ cho vay bảo lãnh.
-
Hướng dẫn khách hàng bổ túc hồ sơ, tài liệu để hoàn chỉnh hồ sơ.
-
Thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay của Ngân hàng đến
khách hàng.
-
Thực hiện thủ tục công chứng các hợp đồng cầm cố thế chấp và đăng kí giao
dịch đảm bảo.
-
Tham gia tiếp nhận tài sản cầm cố.
-
Lập chứng thư bảo lãnh đối với nghiệp vụ bảo lãnh nội địa.
-
Kiểm tra sử dụng vốn định kì, đột xuất khi cho vay.
-
Kiểm soát các hồ sơ tín dụng đã được phê duyệt trước khi giải ngân.
-
Hoàn chỉnh hồ sơ, lập thủ tục giải ngân, thanh lí và lưu trữ hồ sơ tín dụng.
-
Quản lý danh mục dư nợ và tình hình thu hồi nợ.
-
Hướng dẫn hỗ trợ, kiểm soát về mặt nghiệp vụ đối với các đơn vị trực thuộc.
Bộ phận thanh toán quốc tế
-
Thực hiện công tác tiếp thị, thu thập ý kiến đóng góp của khách hàng, đề
xuất cho Giám đốc chi nhánh các biện pháp cải tiến nhằm tăng cường năng
lực cạnh tranh và phát triển thị phần.
-
Hướng dẫn khách hàng tất cả các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán quốc tế.
-
Kiểm tra về mặt kĩ thuật, thẩm định và đề xuất phát hành, tu chỉnh, thanh
toán, thông báo L/C và trong thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế
Xây dựng kế hoạch tháng năm, theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện và đề
xuất cho Giám đốc chi nhánh các biện pháp khắc phục khó khăn trong công
tác.
SVTH: ĐỖ THỊ TỐ PHƯƠNG – LỚP K15QNH6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
25
GVHD:Th.S NGUYỄN THỊ TUYÊN NGÔN
Bộ phận xử lí giao dịch
-
Thực hiện công tác tiếp thị, thu thập ý kiến đóng góp của khách hàng, đề
xuất cho Giám đốc chi nhánh các biện pháp cải tiến nhằm tăng cường năng
lực cạnh tranh và phát triển thị phần.
-
Thực hiện các nghiệp vụ tiền gửi thanh toán và các dịch vụ khác có liên quan
đến tài khoản tiền gửi thanh toán theo yêu cầu của khách hàng; các nghiệp vụ
tiền gửi tiết kiệm, các nghiệp vụ kế toán tiền vay; chuyển tiền nhanh nội địa,
chi trả kiều hối, chuyển tiền phí mậu dịch; thu đổi ngoại tệ tiền mặt, séc và
các loại thẻ quốc tế; các nghiệp vụ về thẻ Sacombank, các nghiệp vụ liên
quan đến vốn cổ phần, thu chi tiền mặt.
Hướng dẫn và hậu kiểm việc hoạch toán đối với tất cả các đơn vị trực thuộc
chi nhánh.
-
Đảm nhận công tác thanh toán của chi nhánh đối với nội bộ Ngân hàng và
các Ngân hàng khác.
-
Tổng hợp kế hoạch kinh doanh tài chính chi nhánh.
-
Quản lý chi nhánh điều hành.
-
Quản lý thanh khoản.
-
Quản lý kho quỹ.
-
Bảo quản và sử dụng khuôn dấu của chi nhánh theo đúng quy định.
f. Phòng hành chính
-