Báo cáo khoa học: "một vài suy nghĩ về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông" potx - Pdf 20


một vi suy nghĩ về cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông

TS. Nguyễn đăng quang
Bộ môn Kinh tế bu chính viễn thông
Khoa Vận tải Kinh tế - Trờng Đại học GTVT

Tóm tắt: Hiện nay trên thị trờng viễn thông đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa
các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. Trong bi viết ny đề cập đến sự cần thiết phải
có sự nhìn nhận mới về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt
Nam để thị trờng viễn thông Việt Nam có thể phát triển lnh mạnh.
Summary: There is severe competition among telecommunication enterprises in
Vietnamese market. This article implies the importance of competition among Vietnam
telecommunications enterprises for the sound development of Vietnamese telecommunications
market.
i. đặt vấn đề
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền
kinh tế thị trờng. Cạnh tranh là động lực làm
giảm giá thành, cải tiến chất lợng và tạo ra
sản phẩm dịch vụ mới. Cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông là
yếu tố thúc đẩy phát triển thị trờng viễn
thông, tuy nhiên cạnh tranh phải lành mạnh,
bình đẳng thì mới phát huy hiệu quả đối với sự
phát triển thị trờng viễn thông. Trong bài báo
này chúng tôi muốn đề cập tới một số vấn đề
về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ viễn thông tại Việt nam.
KT-ML
ii. tình hình cạnh tranh trên thị

đã làm số thuê bao di động tăng lên mạnh
mẽ( dự kiến năm 2005 sẽ phát triển 4 triệu
thuê bao, tăng 2 lần so với năm 2004), nhng

đã làm xuất hiện một số vấn đề là các doanh
nghiệp có thể đảm bảo chất lợng dịch vụ cho
khách hng hay không? Nếu doanh nghiệp
chiếm giữ thị phần khống chế nh VNPT thực
hiện chính sách giảm giá cớc liên tục thì các
doanh nghiệp mới nh Viettel, SPT, có đủ
sức chạy đua với VNPT hay không khi mà họ
phải đi thuê cơ sở hạ tầng của VNPT?
Thực tế cho thấy để có thể tăng số lợng
thuê bao và giữ vững thị phần các doanh
nghiệp phải đảm bảo chất lợng dịch vụ cho
khách hàng. Đối với các doanh nghiệp ngoài
VNPT, điều này đồng nghĩa với việc kết nối
các mạng viễn thông với nhau phải đợc thực
hiện dễ dàng. Tuy nhiên vấn đề kết nối giữa
các mạng viễn thông với nhau, đặc biệt là
mạng của doanh nghiệp mới với doanh nghiệp
có thị phần khống chế hiện nay là một vấn đề
làm đau đầu các doanh nghiệp, các nhà quản
lý ở nớc ta: Thời gian kết nối quá dài, dung
lợng kết nối thấp, giá cớc kết nối cao, Ví
dụ nh mạng S-Fone, sau hơn 3 năm triển
khai mạng này vẫn cha đạt đợc thoản thuận
về việc kết nối trực tiếp với hai mạng di động
của VNPT. S- Fone luôn gặp khó khăn trong
việc kết nối các cuộc gọi với lý do VNPT đa

dịch vụ. Tuy nhiên việc chạy đua giá c
ớc
dịch vụ với doanh nghiệp chiếm thị phần
khống chế sẽ đẩy các doanh nghiệp mới vào
hai con đờng: mất thị trờng hoặc tiếp tục
chạy đua với VNPT, do đó không còn kinh phí
đầu t đổi mới công nghệ, từ đó chất lợng
dịch vụ giảm l điều tất yếu.
Vấn đề thứ ba là chính sách đầu t nớc
ngoài vào lĩnh vực bu chính viễn thông chỉ
đợc thực hiện dới hình thức Hợp đồng hợp
tác kinh doanh (BCC). Cơ chế BCC đã hạn
chế rất nhiều phạm vi và hiệu quả hoạt động
đầu t vào viễn thông, nhất là quyền tham gia
quản lý điều hành, quyền về tài sản của nhà
đầu t.
III. một vi suy nghĩ về cạnh tranh
trong giai đoạn hiện nay
1. Thay đổi quan điểm cạnh tranh
Bớc sang giai đoạn hiện nay, nhiều lĩnh
vực của đời sống kinh tế đã có những sự thay
đổi to lớn và sâu sắc. Do đó lý luận về kinh tế,
trong đó thơng mại và cạnh tranh cũng có sự
đổi mới.
Trong lý luận kinh tế học cổ điển, cạnh
tranh đợc coi là động lực làm giảm giá thành
sản phẩm, cải tiến chất lợng và tạo ra sản
phẩm mới. Trong nền kinh tế trí thức thì tầm
quan trọng của cạnh tranh không thay đổi.
Nhng so với nền kinh tế công nghiệp thì

rộng thị phần mà là mở rộng không gian sinh
tồn, là t bản hoá giá trị thời gian của cá nhân
ngời tiêu dùng trong không gian thị trờng
mới. Không gian này lấy tăng trởng bền
vững, chuyên môn hoá ở trình độ cao và sáng
tạo ra hệ thống sinh thái làm mục tiêu phát
triển. Doanh nghiệp cạnh tranh không gian,
cạnh tranh thị trờng v cạnh tranh t bản.
Một khi đã chiếm giữ thị trờng, hoặc không
gian trở thành một thứ quyền lợi đợc pháp
luật thừa nhận hay quyền lợi trong thực tế thì
bản thân không gian có giá trị. Từ đó có thể
nói rằng khi doanh nghiệp đã chiếm đợc thị
trờng có tiềm năng phát triển thì thị trờng đó
đẻ ra t bản. Nói theo nghĩa rộng, doanh
nghiệp cạnh tranh quyền tồn tại phát triển
bằng cạnh tranh chiếm vị trí không gian. Mọi
không gian hoạt động kinh tế đều là tài
nguyên và của cải. Kinh tế học giả định rằng
những không gian này khan hiếm, quyền lợi
đối với của cải phải có không gian sản phẩm
cụ thể để tồn tại. Do đó việc khai thác và
chiếm hữu không gian kinh tế tở thành mục
tiêu chiến lợc của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế công nghiệp, quá trình
sản xuất lặp đi lặp lại, cho phép quá trình này
cải tiến không ngừng và thực hiện mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận. Trong nền kinh tế tri thức,
quan điểm cạnh tranh là định hớng kinh tế
không phải là sản xuất ra một sản phẩm cụ

KT-ML
2. Chuyển từ cạnh tranh đối kháng
bằng cạnh tranh hợp tác
Nền kinh tế - xã hội là sự phân công hợp
tác giữa các thành viên trong xã hội, đó là
quan điểm cơ bản của kinh tế học. Sự phân
công và hợp tác hình thành các tổ chức kinh
tế với nhiều hình thức: công ty xuyên quốc gia,
doanh nghiệp, ngân hàng, trung tâm tài chính,
trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ, Những hình thức tổ chức này đợc
xem là biêu hiện của nền kinh tế thị trờng
phát triển ở mức độ cao.
Một trong những đặc điểm cơ bản của
nền kinh tế thị trờng là thực hiện quyết sách

phân tán. Phân tán để thích nghi với trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất, tiết kiệm tài
nguyên kinh tế, nhng trong cùng một mạng
lới thì có sự hợp tác chặt chẽ. Khi lực lợng
sản xuất xã hội đã phát triển đến trình độ nhất
định thì cần có sự hợp tác rộng rãi hơn, công
ty lớn có thể hỗ trợ cho công ty nhỏ cùng lớn
mạnh. ở đây, hợp tác mang ý nghĩa là tổ chức
kinh tế liên minh các thành viên, nhằm tạo ra
thực lực để phân phối lợi ích, giành quyền
phân phối lợi ích cho mỗi thành viên. Quan
điểm hợp tác về đối sách phản ánh một đặc
điểm hết sức quan trọng của tổ chức kinh tế,
thí dụ công ty đợc hình thành trên cơ sở vì lợi

đầu t nớc ngoài chỉ đợc hạn chế trong hình
thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh( BCC). Cơ
chế BCC đã hạn chế rấ nhiều phạm vi và hiệu
quả hoạt động đầu t vào viễn thông, nhất là
quyền tham gia quản lý điều hành, quyền về
tài sản của nhà đầu t.
- Đối với các doanh nghiệp nh VNPT,
Viettel, SPT, cần phải thấm nhuần quan
điểm mới về cạnh tranh là chuyển từ cạnh
tranh đối kháng sang hình thức cạnh tranh
hợp tác để cùng nhau phát triển, cùng có lợi,
để sử dụng có hiệu quả tài nguyên và hạ tầng
mạng viễn thông hiện có. Tổng công ty BCVT
Việt nam tạo mọi điều kiện cho các doanh
nghiệp mới cùng phát triển và các doanh
nghiệp khác cũng phải cạnh tranh lành mạnh
trong khuôn khổ phát luật, bảo vệ quyền lợi
của khách hàng, tránh tình trạng đổ lỗi cho
nhau nh trong thời gian vừa qua làm xấu
hình ảnh của nhau. Một thí dụ điển hình của
sự hợp tác giữa các doanh nghiệp viễn thông
là sự hợp tác giữa VP Telecom và Viettel về
việc sử dụng chung cơ sở hạ tầng, VP
Telecom đổi lại những sợi cáp quang có sẵn
cho Viettel để nhận lại số cáp quang tơng
ứng tại những khu vực mà VP Telecom cha
đầu t cáp quang đã mang lại những lợi ích
thiết thực cho cả Viettel và VP Telecom.
iv. Kết luận
Để cho thị trờng viễn thông Việt nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status