phân hóa giu nghèo trong nền kinh tế
thị trờng ở Việt Nam
TS. Tô thị tâm
Bộ môn Kinh tế chính trị
Khoa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Trờng Đại học GTVT
Tóm tắt: ở nớc ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì phân hóa giu nghèo ngy
cng trở nên rõ nét, sâu sắc v phổ biến. Khoảng cách chênh lệch giữa nhóm giu với nhóm
nghèo nh l yếu tố phản ánh sự phân phối công bằng hay không công bằng, thúc đẩy hay cản
trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở nớc ta. Do vậy, đại hội đại biểu ton quốc lần thứ IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định cần phải có những giải pháp vĩ mô v nguyên tắc định
hớng l tập trung thực hiện xóa đói giảm nghèo, điều tiết , kiểm soát khoảng cách giu nghèo
không đẩy phân hóa giu nghèo vợt quá ngỡng giới hạn dẫn tới phân hóa giai cấp, phân cực
v xung đột xã hội lm ảnh hởng tới định hớng XHCN v sự ổn định của xã hội.
Summary: The transfer to the market economy of Vietnam leads to the popular and deep
gap between the rich and the poor. The disparity in economy is considered as the factor which
reflects fair or unfair distribution - a factor promotes or blocks progress of our country's socio -
economy. Therefore the 9
th
Vietnam Communist Party Congress affirms that it is essential to
have macro scope solutions and principles in eliminating hunger and reducing poverty,
regulating and controlling the gap to prevent the gap from being pushed up over restriction. If
not, it would lead to the class division, social polarization and conflict which affect the socialist
orientation and social stability.
KT-ML
i. đặt vấn đề
Loài ngời phát triển theo nhiều nấc
thang lịch sử do trình độ của lực lợng sản
Việc phân tích sự phân hóa giàu nghèo ở
nớc ta đòi hỏi một cách nhìn chỉnh thể cơ
cấu xã hội, trong tính thống nhất cái kinh tế
với cái xã hội. Xem xét và đánh giá dựa trên
quan điểm thực tiễn, quan điểm phát triển và
quan điểm hệ thống. Giải quyết vấn đề phân
hóa giàu nghèo không có nghĩa là ngăn cản
sự vơn lên làm giàu, mà phải là sự làm giàu
chính đáng, thực hiện tăng trởng kinh tế gắn
liền với công bằng xã hội.
1. Khái niệm và những tiêu chí xác
định giàu nghèo ở nớc ta hiện nay
a. Các khái niệm
Có nhiều quan niệm, định nghĩa về phân
hóa giàu nghèo dới nhiều khía cạnh, góc độ
khác nhau nh: phân hóa giàu nghèo là sự
phân cực về kinh tế, là trung tâm của sự phân
tầng xã hội, nó gắn liền với sự bất bình đẳng
xã hội và phân công lao động xã hội, là kết
quả tất yếu của quá trình tăng trởng và phát
triển kinh tế.
KT-ML
Cũng có quan niệm cho rằng: phân hóa
giàu nghèo là một hiện tợng xã hội phản ánh
quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã
hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau, thể
hiện trong xã hội nhóm giàu, nhóm nghèo.
Giữa nhóm giàu nhóm nghèo là khoảng cách
về thu nhập, mức sống.
Tất cả các quan niệm trên đều có một
thể hiểu phân tầng xã hội theo 3 đặc trng:
Một l, phân tầng xã hội là sự phân hóa
các cá nhân thành những tầng lớp, thứ bậc
khác nhau trong cơ cấu xã hội.
Hai l, phân tầng xã hội luôn luôn gắn với
bất bình đẳng xã hội và phân công lao động.
Ba l, phân tầng xã hội thờng đợc lu
truyền qua các thế hệ và có sự thay đổi nhất
định (do cơ động, chuyển dịch xã hội).
Khái niệm phân hóa giàu nghèo khác với
"phân cực giàu nghèo" sự phân cực giàu
nghèo cũng là sự phân hóa xã hội chủ yếu
theo tiêu chí giàu nghèo. Phân cực giàu
nghèo là khái niệm dùng để chỉ quá trình xã
hội dẫn tới chỗ các cá nhân và các nhóm xã
hội hội tụ ở cực này hay cực kia của sự giàu
hoặc nghèo. Nó là nguyên nhân dẫn đến sự
phân cực xã hội, và là hậu quả của sự xung
đột xã hội (sự phân cực xã hội là sự phân hóa
xã hội không những dựa trên tiêu chí kinh tế
mà cả những tiêu chí ngoài kinh tế) gây mất
ổn định xã hội.
Còn phân hóa giàu nghèo không đẩy tới
sự phân cực giàu nghèo, nó còn là động lực
cho sự phát triển, để ngời nghèo không thấy
bị bóc lột quá đáng, để ngời nghèo thấy mâu
thuẫn xã hội không phải do ngời giàu gây ra,
kích thích mọi đối tợng vơn lên để làm giàu
chính đáng.
trung lu, khá giả, tuy vẫn còn có sự khác biệt
về mức sống, song khoảng cách khác biệt rất
nhỏ.
b. Những tiêu chí xác định giu
nghèo ở nớc ta
Để đánh giá tơng đối đúng đắn sự phát
triển của mỗi quốc gia, Liên hợp quốc đã đa
ra nhiều chỉ tiêu, trong những chỉ số chung đó,
chỉ số phát triển con ngời (Human
Development Index - HID) đợc đặt vào vị trí
trung tâm, quan trọng nhất, thông qua đó biết
đợc mức độ phát triển cao hay thấp của một
quốc gia. Theo xếp hạng của 174 nớc về chỉ
số này trong thời gian từ 1995 - 2000 cho thấy
Việt Nam tăng từ vị trí 122 lên 109; Trung
quốc từ 106 lên 96. Nớc có vị trí cao nhất là
Nauy, sau đến Thụy Điển, Canađa.
Chỉ số tỷ trọng thu nhập của các nhóm
dân c và hệ số bất bình đẳng trong thu nhập
thờng đợc đánh giá so sánh giữa tổng thu
nhập của 10% (hay 20%) dân số có thu nhập
thấp nhất và 10% (hay 20%) dân số có thu
nhập cao nhất. Mức khác biệt này càng cao
cho thấy sự bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập quốc dân. Tại Châu Phi, sự chênh lệch
này khoảng 20 lần, có nớc 50 lần (trung phi);
Mỹ: 17 lần, Trung Quốc: 14 lần, Thái Lan: 13
lần, Canađa: 8 lần, Hàn Quốc : 8 lần.
Bên cạnh đó, Liên hợp quốc còn đa ra
các chỉ số khác để đánh giá đầy đủ hơn trình
đợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát
triển kinh tế và phong tục tập quán của địa
phơng". Đây là định nghĩa chung nhất, có
tính chất hớng dẫn về phơng pháp đánh
giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về
nghèo.
KT-ML
ở nớc ta xác định giàu nghèo không chỉ
đơn thuần là vấn đề thu nhập vật chất, mà nó
còn liên quan tới khía cạnh đạo đức, nhân
văn. Hiện nay, ở nớc ta đang trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, đã có rất
nhiều những định nghĩa khác nhau về cái
giàu, cái nghèo, bao quát một loạt các tiêu chí
về chất và về lợng, nh các tiêu chí dựa trên
cơ sở : lấy lơng thực, tài sản, thu nhập để
đánh giá.
Trong hàng loạt các tiêu chí nh: thu
nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia
đình, hởng thụ văn hóa thì tiêu chí thu
nhập về kinh tế là đáng chú ý hơn cả.
ở nớc ta, chỉ tiêu đánh giá giàu nghèo
dựa trên chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân
nhân khẩu một tháng (hoặc 1 năm) đợc đo
lờng bằng chỉ tiêu giá trị hoặc hiện vật quy
đổi.
2. Thực trạng của phân hóa giàu
nghèo ở nớc ta hiện nay
a. ảnh hởng của việc chuyển
sang nền kinh tế thị trờng đối với quá
xuất kinh doanh trở thành những ngời giàu
có. Trong lĩnh vực nông nghiệp xuất hiện
những hộ gia đình mạnh dạn đầu t trở thành
những hộ kinh doanh giỏi, làm giàu chính
đáng.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trờng, thì những yếu tố
tàn d của kinh tế thị trờng sơ khai cha
đợc khắc phục. Mặt khác, trong xã hội đã
xuất hiện một số yếu tố vợt khỏi giới hạn
khuôn khổ của nền kinh tế thị trờng định
hớng XHCN, sự can thiệp của Nhà nớc vào
thị trờng cha đủ mạnh, thậm chí trái với yêu
cầu của thị trờng. Ngoài ra, còn tồn tại một
bộ phận thoái hóa trong bộ máy Nhà nớc với
những yếu tố tiêu cực của thị trờng gây ra
nạn tham nhũng, cửa quyền, chiếm dụng vốn
và tài sản của Nhà nớc.
Cũng trong quá trình chuyển đổi, do
nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn còn tồn tại
một bộ phận dân c không có khả năng thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản, nhu cầu tối thiểu
của con ngời, cụ thể ở các xã nghèo vùng
núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, họ không
chỉ thiếu thốn về lơng thực, thực phẩm mà
còn thiếu thốn về các dịch vụ y tế, văn hóa,
giáo dục
Nh vậy, kinh tế thị trờng tồn tại khách
quan, là hiện tợng mang tính quy luật. Phân
mối kinh tế, hoặc hớng ngoại nhanh chóng
tận dụng cơ hội, có mức thu nhập cao.
- Nhóm công nhân trong các doanh
nghiệp làm ăn khó khăn, những hộ nông dân
vùng sâu, vùng xa đời sống khó khăn.
Xét trên góc độ kinh tế hay thu nhập thì
công nhân làm việc trong các xí nghiệp t
nhân hoặc liên doanh với nớc ngoài thì giàu
hơn trong các doanh nghiệp Nhà nớc. Trí
thức tham gia vào các dự án có chơng trình
hợp tác quốc tế thì thu nhập cao hơn các trí
thức khác. Nông dân có ngành nghề phụ thì
giàu hơn là nông dân thuần nông. Xét trên
góc độ vùng địa lý thì dân tộc ít ngời có thu
nhập thấp hơn các dân tộc khác.
Sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị
và nông thôn chênh lệch thu nhập có xu
hớng gia tăng. GDP (1990 - 1996) nông thôn
tăng trung bình là 2,7%/năm, khu vực thành
thị là 8,8%. Thu nhập bình quân nông thôn
bằng 54,8% so với thành thị. Khoảng cách
giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị có xu
hớng doãng cách xa hơn (chính vì vậy tỷ lệ
nghèo đói ở nông thôn rất cao chiếm 90%, ở
thành thị tỷ lệ này là 10%). Khi kinh tế thị
trờng ngày càng phát triển thì tỷ lệ nghèo đói
có xu hớng giảm, tỷ lệ số hộ có thu nhập cao
ngày càng nhiều lên, nhng sự chênh lệch
giữa số hộ có thu nhập cao với số hộ có thu
nhập thấp ngày càng gia tăng. Nh vậy một
là nguyên nhân khiến không ít hộ giàu lên
nh: ở nông thôn, số hộ giàu hiện nay chủ yếu
do khả năng thích ứng nhanh với kinh tế thị
trờng, họ không chỉ làm thuần nông mà còn
làm thêm các nghề khác nh dịch vụ, chế
biến, công nghiệp nhỏ ). ở thành phố, số
ngời giàu lên chủ yếu là lĩnh vực buôn bán và
dịch vụ. Cũng có không ít ngời lợi dụng kẽ hở
của pháp luật để trốn thuế hoặc lẩn tránh các
khoản nộp khác, ngoài ra còn có các hành vi
nh buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, tham
nhũng tạo nên một bộ phận cán bộ, viên
chức, dân giàu khá nhanh.
Môi trờng pháp lý ở nớc ta còn nhiều
khiếm khuyết, nhiều đạo luật còn thiếu và
thờng xuyên sửa đổi, điều này dẫn đến tạo
nhiều khe hở đó chính là cơ hội, mảnh đất cho
các hành động thao túng pháp luật, làm giàu
bất chính. Ngoài ra còn có những nguyên
nhân của sự đói nghèo nói riêng nh: bản
thân những ngời nghèo thì thiếu vốn, thiếu
kiến thức, trình độ dân trí thấp, gặp rủi ro, mắc
các tệ nạn xã hội
3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải
quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo ở nớc
ta hiên nay
a. Nh nớc cần tạo ra môi trờng
chính trị ổn định để tăng trởng v phát
triển kinh tế, đồng thời thực hiện công
bằng xã hội. Tức là tạo ra môi trờng dân
hóa nhằm đảm bảo sự tăng trởng ổn định
của nền kinh tế quốc dân.
Nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số,
72% ngời lao động xã hội, tỷ lệ đói nghèo ở
nông thôn rất cao chiếm 90%. Do vậy, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn là một giải pháp thiết thực để giải quyết
phân hóa giàu nghèo.
ở nớc ta giải pháp cấp bách để giải
quyết phân hóa giàu nghèo là phải giải quyết
thực trạng nghèo tuyệt đối, vì nghèo tuyệt đối
còn rất phổ biến, họ là những ngời bị thiếu
thốn và ít có sự lựa chọn nhất. Thực hiện việc
xóa đói giảm nghèo là hạn chế sự chênh lệch
giữa các vùng, hạn chế phân hóa giàu nghèo.
c. Xây dựng môi trờng văn hóa -
xã hội lnh mạnh ở nông thôn nớc ta góp
phần giải quyết sự phân hóa giu nghèo.
Xây dựng đời sống văn hóa từ các gia
đình, các đơn vị cơ sở, gắn liền với việc bảo vệ
sức khỏe cho nông dân, tích cực vận động kế
hoạch hóa dân số, mở rộng giao lu văn hóa.
KT-ML
Tuy nhiên giải pháp này cần phải kết hợp
đồng bộ với các giải pháp khác, đặc biệt cần
có sự quan tâm đúng mức của Nhà nớc.
d. Tăng cờng giáo dục văn hóa
pháp luật, văn hóa dân chủ.
Trong nền kinh tế thị trờng lối kinh
doanh làm giàu chính đáng và kiểu làm giàu
khăn không thể tự mình hòa nhập vào cộng
đồng, vào xã hội. Do vậy, cần có sự giúp đỡ
của Nhà nớc, của cộng đồng để giảm thiểu
sự chênh lệch giàu nghèo.
Tài liệu tham khảo
[1]. Từ điển XH học. NXB Khoa học xã hội.
[2]. Từ điển tiếng Việt thông dụng. NXB Giáo dục 1996.
[3]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
[4]. Đỗ Nguyên Phơng. Về hiện tợng phân tầng xã
hội ở nớc ta hiện nay, tạp chí Cộng sản số 5, 1995.
[5]. Nguyễn Văn Tiền. Giàu nghèo ở nông thôn
hiện nay. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1993.
[7]. Tơng lai, khảo sát xã hội học về phân tầng xã
hội - cơ sở lý luận và phơng pháp luận. Tạp chí xã
hội học số 3, 1995.
[8]. Bùi Thanh Long. Cơ cấu xã hội và phân tầng xã
hội, NXB Khoa học và xã hội, Hà Nội 2000