phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ tầng trong 3 năm 2009 – 2011 - Pdf 20


Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài:
Trong giai đoạn trước năm 1986, khi hoạt động trong nền kinh tế vận hành
theo cơ chế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế hoạt động
theo chỉ đạo của nhà nước. Do vậy, các doanh nghiệp đã hoạt động rất thụ động,
thiếu tính năng động, sáng tạo, không quan tâm nhiều đến lãi lỗ.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, mọi doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh đều vì lợi nhuận. Do tính chất cạnh tranh
gay gắt trên thị trường, mọi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tốt đòi hỏi phải
luôn nắm chắc và hiểu rõ nội lực của mình về mọi mặt, đặc biệt là tình hình tài
chính. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp trở thành công cụ
quan trọng để doanh nghiệp hiểu rõ được năng lực thật sự của doanh nghiệp. Qua
việc phân tích và đánh giá tình hình tài chính sẽ cho phép doanh nghiệp thấy rõ thực
trạng tài chính, đánh giá khả năng sử dụng, quản lý và phân phối các loại vốn,
nguồn vốn; thấy được điểm mạnh, điểm yếu; tìm ra được nguyên nhân ảnh hưởng
đến nền tài chính doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra biện pháp giải quyết phù hợp
nhằm tận dụng các cơ hội và giảm bớt tác hại của các đe dọa từ môi trường sản xuất
kinh doanh. Cũng qua việc phân tích đánh giá thực trạng tài chính, còn cho phép
doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính và các kế hoạch khác trong tương lai,
giúp nhà quản trị đưa ra các chính sách phát triển của doanh nghiệp như chính sách
huy động vốn, chính sách phân phối thu nhập, chính sách tuyển dụng lao động
Như vây, phân tích tình hình tài chính là công tác quan trọng không thể thiếu trong
công tác quản trị doanh nghiệp.
Thấy được tầm quan trọng và lợi ích của việc phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp, với kiến thức đã được học ở nhà trường và sự đồng ý của Nhà
trường, Ban chủ nhiệm khoa, Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Xây dựng thủy lợi và
cơ sở hạ tầng em đã chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ



Trang 3

Đề tài cũng giúp chúng ta thấy được những nguyên nhân dẫn đến kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm qua. làm cơ sở để công ty
đưa ra những quyết định kịp thời và đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của công ty.
Thấy được những tồn tại và nguyên nhân của nó, đề tài cũng đã nêu lên một
số biện pháp giải quyết những vấn đề còn tồn đọng góp phần giúp công ty đưa ra
những quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả
tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ tầng.

Trang 5

1.1.1.3.Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp:
Biểu hiện của chúng là sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp. Đó là quan
hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và nhà quản lý,
giữa quyền sử dụng và sở hữu vốn, khoản lương, thưởng cho người lao động, cấp
phát điều hòa vốn, phân phối thu nhập giữa các bộ phận doanh nghiệp…
Các quan hệ kinh tế nêu trên phản ánh sự vận động của vốn tiền tệ phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối các nguồn tài chính trong và ngoài
doanh nghiệp, và luôn gắn liền với việc tạo lập cũng như việc sử dụng quỹ tiền tệ
nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ những phân tích nêu trên, ta đi đến bản chất về tài chính doanh nghiệp
như sau: tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân
phối tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh
nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.Chức năng tài chính của doanh nghiệp:
1.1.2.1.Chức năng xác định và tổ chức nguồn vốn nhằm bảo đảm nhu cầu vốn
cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Để thực hiện được mục tiêu và phương án sản xuất kinh doanh trong điều
kiện của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và phương án tạo
lập, huy động vốn cụ thể. Vì vậy nhiệm vụ vủa chức năng này là:
− Xác định nhu cầu vốn cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
− Tìm nguồn trang trải nhu cầu.
− Cân đối giữa nhu cầu và nguồn trang trải. Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì
doanh nghiệp phải huy động thêm vốn tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử
dụng vốn thấp nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả. Ngược lại nếu nhu cầu nhỏ hơn khả
năng thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể

cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả nhất:
Trong nền kinh tế thị trường, Tài chính nhà nước không còn là kênh cấp phát
và bao cấp toàn bộ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp

Trang 7

nói riêng. Do đó vai trò đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
tài chính doanh nghiệp càng trở nên quan trọng và có tính cấp bách. Trong nền kinh
tế thị trường, trên cơ sở đã hình thành thị trường vốn, các doanh nghiệp phải biết
chủ động khai thác, thu hút có hiệu quả các nguồn tài chính để phục vụ kịp thời và
đầy đủ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tính hiệu quả
của hoạt động vốn còn phụ thuộc vào trình độ của nhà quản trị trong việc xác định
đúng đắn nhu cầu cần vốn huy động, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn các phương
thức và đòn bẩy kinh tế để phát huy vốn có hiệu quả.
Song song với quá trình huy động vốn và đảm bảo vốn, tài chính doanh
nghiệp còn có vai trò tổ chức sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Đây là vấn
đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong sự cạnh tranh khắc
nghiệt của cơ chế thị trường.
1.1.3.2.Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh:
Tài chính doanh nghiệp có vai trò kích thích và điều tiết hoạt động sản xuất
kinh doanh, đó là kết quả tổng hợp của việc vận dụng chức năng phân phối của tài
chính trong việc giải quyết lợi ích kinh tế đối với nhiều chủ thể kinh tế khác nhau
trong đó có doanh nghiệp. Chức năng phân phối của một doanh nghiệp là bản chất
vốn có của phạm trù kinh tế khách quan, chức năng này có phát huy tác dụng hay
không đối với hoạt động sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào khả năng vận dụng
của nhà quản trị. Nếu nhà quản trị biết vận dụng sáng tạo chức năng phân phối tài
chính của doanh nghiệp qua việc tạo lập cơ chế phân phối thu nhập, phân phối các
quỹ chuyên dùng, cơ chế xây dựng giá, cơ chế huy động vốn…phù hợp với quy luật
sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng to lớn trong
việc tạo ra các động lực kinh tế tác động tới năng suất, kích thích tăng cường tích tụ

doanh của doanh nghiệp. Do đó các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính cũng có
những tác động thúc đẩy hoặc kiềm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.

Trang 9

Hoạt động tài chính là mục tiêu chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách kịp thời và tốt nhất.
Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình các mặt của doanh nghiệp bằng
các chỉ tiêu giá trị.
Tất cả các báo cáo tài chính đều là những tài liệu lịch sử vì chúng đã nói lên
những gì đã xảy ra trong một thời kỳ nào đó. Mục đích của việc phân tích tài chính
là giúp cho các đối tượng sử dụng chúng dự đoán tương lai bằng cách so sánh, đánh
giá và nhận xét xu hướng dựa trên các thông tin mà chúng mang lại.
1.2.3.Mục tiêu của phân tích tài chính:
Quá trình phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp phải hướng đến
các mục tiêu:
− Giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, thể hiện qua việc thanh toán với các
đơn vị liên quan. Mối quan hệ này sẽ được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu để đánh giá
về mặt lượng, chất và thời gian.
− Đảm bảo nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc này đòi hỏi tối thiểu hóa việc sử
dụng các nguồn sản xuất nhưng vẫn đảm bảo quá trình kinh doanh bình thường và
mang lại hiệu quả cao.
− Hoạt động tài chính phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật,
chấp hành và tuân thủ các chế độ tài chính tín dụng, nghĩa vụ đóng góp, kỷ luật
thanh toán với các đơn vị và cá nhân có liên quan.
1.2.4.Vai trò của phân tích tài chính:
Mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp là giúp những người sử dụng thông tin đánh giá được chính xác thực trạng

để biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó các chủ ngân hàng
và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến lượng vốn chủ sở hữu.
1.2.4.4.Đối với cơ quan chủ quản cấp trên:
Việc phân tích tài chính sẽ giúp cho cơ quan này đánh giá và kiểm soát tình
hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề ra các chính sách, cơ chế, giải pháp phù
hợp với thực tế doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản kinh doanh.

Trang 11

1.2.4.5.Đối với người lao động:
Tiền lương là nguồn thu nhập duy nhất của họ, đối với doanh nghiệp cổ phần
ngoài tiền lương người lao động có thể nhận thêm một khoản tiền lãi do góp vốn
vào doanh nghiệp. Hai hình thức thu nhập này đều phụ thuộc vào kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy phân tích tài chính doanh nghiệp
giúp cho người lao động định hướng được việc làm của mình.
Bên cạnh đó cơ quan thuế, tài chính, thống kê, nhà phân tích…cũng rất cần
có những thông tin cơ bản về tình hình tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho
công tác quản lý, phân tích, dự đoán.
1.3.Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp:
1.3.1.Các tài liệu cần thiết trong phân tích tài chính doanh nghiệp:
1.3.1.1.Hệ thống báo cáo tài chính:
− Bảng cân đối kế toán: là một báo cáo tài chính tổng hợp dùng phản ánh tổng
quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại
thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
− Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là một báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ kế toán nhất
định của doanh nghiệp. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp
nhất về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm tàng về vốn, lao động, kỹ
thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
− Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh quá

Đây là những chỉ tiêu mang tính chất cân bằng trong mối liên hệ của chúng,
sử dụng mối liên hệ này để phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố. Chẳng hạn,
luôn có sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn. Vì vậy, sự biến động của 2 chỉ tiêu
này cũng luôn cân bằng, chúng dựa vào đó để phân tích, làm rõ sự biến động của
nhân tố lên chỉ tiêu phân tích.

Trang 13

Để đạt được hiệu quả trong quá trình phân tích, chúng ta cần áp dụng kết hợp
các phương pháp trên. Ngoài ra, chúng ta còn có thể áp dụng các phương pháp khác
như phương pháp hồi quy tương quan, phương pháp đồ thị, phương pháp tỉ lệ.
1.3.2.3.Phương pháp thay thế liên hoàn:
Mục đích của phương pháp này là xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến các chỉ tiêu phân tích, phát hiện sự mất cân đối cần giải quyết, những vi
phạm về chính sách, chế độ, những khả năng tiềm tàng còn có thể khai thác.
Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
đến các chỉ tiêu phân tích thì phải giả định các nhân tố khác không đổi. Nhân tố nào
đã xác định ảnh hưởng rồi thì ta cố định nhân tố đó ở kỳ báo cáo, nhân tố chưa xác
định mức độ ảnh hưởng thì cố định ở kỳ gốc.
1.3.1.2.4.Phương pháp phân tích định tính:
Phân tích tình hình tài chính theo phương pháp trên bị giới hạn bởi nó chỉ
cho phép đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu cụ thể
đã được tính toán. Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp còn chịu ảnh hưởng của ngành nghề, đặc điểm kinh doanh, sự biến động của
tỉ giá, sự ảnh hưởng của mức cung cầu…Những nhân tố này khó có thể đo lường,
tính toán và càng không thể hiện trên báo cáo tài chính nhưng nó có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó cần sử dụng
phương pháp định tính để đánh giá tình hình tài chính. doanh nghiệp toàn diện hơn.
1.3.3.Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
1.3.3.1.Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua bảng cân đối kế toán:

nhiều hay quá ít sẽ không đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, thể hiện năng lực
quản trị tài sản lưu kho của nhà quản trị không tốt.
 Tài sản dài hạn:
− Các khoản phải thu dài hạn: phản ánh toàn bộ các khoản phải thu dài hạn
của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, và các khoản phải thu dài hạn khác tại thời
điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm.
− Tài sản cố định: phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của tài sản cố định và bất
động sản đầu tư tại thời điểm báo cáo. Theo xu hướng chung, tài sản cố định phải

Trang 15

tăng về số tương đối lẫn tuyệt đối vì nó thể hiện tăng quy mô sản xuất, đầu tư cho
cơ sở vật chất kỹ thuật.
− Bất động sản đầu tư: phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của bất động sản đầu
tư tại thời điểm báo cáo.
− Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư
tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo như: đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công
ty liên kết, liên doanh, đầu tư vào tài sản dài hạn khác…
− Tài sản dài hạn khác: phản ánh tổng chi phí trả trước dài hạn nhưng chưa
phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh đến cuối kỳ báo cáo, tài sản thuế thu nhập
hoãn lại, và tài sản dài hạn khác tại thời điểm báo cáo.
1.3.3.1.2.Phân tích sự biến động và kết cấu nguồn vốn:
Phân tích sự biến động và kết cấu nguồn vốn nhằm xem xét tỷ trọng từng bộ
phận chiếm trong tổng nguồn vốn cũng như sự biểu hiện của chúng, từ đó thấy được
tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Kết cấu nguồn
vốn bao gồm:
 Nợ phải trả:
− Nguồn vốn tín dụng: là giá trị các khoản vay nợ ngắn hạn và dài hạn. Nếu
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì nguồn vốn tín dụng tăng lên được xem là tốt.
ngược lại, doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả thì việc tăng nguồn vốn tín dụng

Nợ phải trả
Chỉ tiêu này đánh giá thực trạng tổng quát tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động bình thường thì hệ số này luôn lớn hơn 1. Tỉ số
này thường bằng 2 thì được xem là tốt. Nếu hệ số này bằng hoặc nhỏ hơn 1 nghĩa là
doanh nghiệp đã mất hết vốn chủ sở hữu, và doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản.
 Hệ số thanh toán ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Tỷ số thanh
toán ngắn hạn
=

Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh
nghiệp là cao hay thấp. Hệ số này càng cao khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng
tốt. Tuy nhiên nếu cao quá sẽ không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá
mức vào tài sản ngắn hạn so với nhu cầu vốn của doanh nghiệp làm ứ đọng vốn quá
lớn…tài sản ngắn hạn không tạo nên doanh thu do đó vốn sử dụng không hiêu quả.

Trang 17

Thông thường hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh, dự trữ theo mùa vụ… Nếu tỉ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp có đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và tình hình tài chính có dấu hiệu khả quan,
ngược lại doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán.
 Hệ số thanh toán nhanh:
Tài sản lưu động – hành tồn kho Tỷ số thanh
toán nhanh
=

Nợ ngắn hạn

Tổng doanh thu và thu nhập
Số vòng quay các
khoản phải thu
=

Các khoản phải thu bình quân
Trong đó:
phải thu đầu kỳ + phải thu cuối kỳ
Các khoản phải thu bình quân =

2
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu
quả của việc thu hồi nợ. Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu càng cao thì
doanh nghiệp càng ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên số vòng quay quá cao sẽ không
tốt vì ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt
chẽ, khó tìm kiếm các đối tác làm ăn mới, gặp khó khăn trong việc mở rộng qui mô
thị trường.
 Kỳ thu tiền bình quân:
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Kỳ thu tiền bình quân =

Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày cần thiết bình quân để thu hồi các khoản
phải thu trong kỳ.
Nếu số ngày càng lớn thì việc thu hồi các khoản phải thu chậm và ngược lại.
Tuy nhiên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thể
kết luận chắc chắn mà phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh
nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp…
 Số vòng luân chuyển hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán

Tổng doanh thu và thu nhập
Số vòng quay tổng tài sản =

Tổng tài sản bình quân
Trong đó:
Tổng tài sản đầu kỳ + tổng tài sản trong kỳ
Tổng tài sản bình quân =

2
Hệ số này cho biết cứ bình quân một đồng tổng tài sản mà doanh nghiệp sử
dụng trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
 Kỳ luân chuyển tổng tài sản:
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Kỳ luân chuyển tổng tài sản =

Số vòng quay tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để tổng tài sản quay được một vòng.
Nếu số ngày của một vòng quay vốn ngắn hạn càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển tổng
tài sản càng nhanh và ngược lại.
 Số vòng quay vốn ngắn hạn:
Tổng doanh thu và thu nhập
Số vòng quay vốn ngắn hạn =

Vốn ngắn hạn bình quân
Trong đó:

Trang 20

Vốn ngắn hạn đầu kỳ + vốn ngắn hạn trong kỳ


2
Hệ số này cho biết cứ bình quân một đồng vốn dài hạn mà doanh nghiệp sử
dụng trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Nếu giá trị của hệ số này cao phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp
tốt, việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả. Ngược lại, chứng tỏ tình hình sử dụng
tài sản cố định của doanh nghiệp kém hiệu quả nhưng cũng có thể là do doanh
nghiệp đang gia tăng đầu tư vào tài sản cố định nên chưa phát huy tác dụng.
1.3.3.4.3.Phân tích các tỉ số tài chính phản ánh khả năng sinh lời:
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác
quản lý vốn, quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu:
 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Lợi nhuận trước (sau) thuế
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
=

Tổng doanh thu và thu nhập

x 100%

Trang 21

Hệ số này cho biết trong một kỳ kinh doanh, cứ 100 đồng doanh thu nhập
khác thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thì có bao nhiêu đồng là
lợi nhuận trước thuế và sau thuế. Thông qua chỉ tiêu này, những người quan tâm
đến doanh nghiệp nhận biết được hiệu quả kinh doanh của một đồng doanh thu thu
được trong kỳ cao hay thấp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp càng tốt.
 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản:
Lợi nhuận trước (sau) thuế


Vốn củ sở hữu
bình quân
=

2
Hệ số này cho biết trong kỳ kinh doanh, bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở
hữu đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
trước thuế và sau thuế. Nếu chỉ số này có xu hướng tăng là dấu hiệu cho thấy việc
sử dụng đồng vốn của doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại.
 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn:
Lợi nhuận trước (sau) thuế
Tỉ suất lợi nhuận
trên tài sản ngắn hạn
=

Tài sản ngắn hạn bình quân
x 100%

Trang 22

Hệ số này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn đưa vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỉ số này lớn hơn 0 và có xu
hướng tăng chứng tỏ việc sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp có hiệu quả.
 Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản dài hạn:
Lợi nhuận trước (sau) thuế
Tỉ suất lợi nhuận
trên tài sản dài hạn
=


Tỉ suất đầu tư tài sản
ngắn hạn
=

Tổng tài sản
x 100%

Tài sản dài hạn
Tỉ suất đầu tư tài sản
dài hạn
=

Tổng tổng tài sản
x 100%
Chỉ tiêu này cho biết trong kết cấu tài sản doanh nghiệp, tài sản dài hạn
chiếm bao nhiêu % và bao nhiêu % là tài sản ngắn hạn. Các chỉ số này được đánh
giá là hợp lý hay không còn phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể.

Trang 23

1.3.3.4.5.Các tỉ số tài chính dành riêng cho công ty cổ phần:
Thu nhập trên cổ phần (EPS):
Thu nhập ròng của cổ đông thường
Thu nhập trên
mỗi cổ phần
=

Số lượng cổ phiếu thường
Trong đó:
Thu nhập ròng của cổ đông thường = Lợi nhuận sau thuế - cổ tức cổ phiếu ưu đãi

tố: Doanh lợi doanh thu và vòng quay tổng vốn. Do vậy khi chỉ tiêu doanh lợi tổng
vốn thấp cần đưa ra giải pháp tăng doanh lợi doanh thu hoặc tăng vòng quay tổng
vốn bằng cách điều chỉnh các yếu tố cấu thành nên các chỉ tiêu đó.
Ta có sơ đồ phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản theo phương pháp
Dupont như sau: Trang 24

Nhân

Chia Chia
Trừ Cộng

Tổng tài sản
x

Vốn chủ sở hữu1
=

Doanh lợi
doanh thu
x

Vòng quay
tổng tài sản
x

1 - tỉ số nợ

Từ phương trình trên ta thấy doanh lợi vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào 3 nhân
tố là: Doanh lợi doanh thu, Số vòng quay tổng vốn, tỉ số nợ. Do vậy nếu tỉ số Doanh
lợi vốn chủ sở hữu thấp cần đưa ra những giải pháp nhằm tăng doanh lợi doanh thu,
hoặc tăng vòng quay tổng tài sản. Bên cạnh đó cũng có thể tăng tỷ số nợ vì khi tỉ số
Tài sản
dài h
ạn

Chi phí bán hàng
Chi phí QLDN Tiền mặt

tài s
ản

Tổng chi phí
Doanh thu và
thu nh
ập khácTrang 25

nợ càng cao thì tỉ số 1/(1-tỉ số nợ) càng lớn. Tuy nhiên khi tỷ số nợ càng cao thì tỉ
số thanh toán trong doanh nghiệp sẽ càng thấp, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều rủi ro.
1.3.3.6.Phân tích nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn:
 Biểu kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn:
Đây là một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản trị tài chính, mục đích
là chỉ rõ vốn xuất phát từ đâu và được sử dụng như thế nào đồng thời cho biết
doanh nghiệp có vi phạm nguyên tắc sử dụng vốn hay không.
Để lập được biểu kê này trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên
bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ này sang đầu kỳ tiếp theo. Mỗi sự thay đổi này được
xếp vào các cột theo nguyên tắc:
− Nếu tài sản tăng hoặc nguồn vốn giảm thì đó chính là việc sử dụng vốn
trong kỳ nên ghi vào cột “sử dụng nguồn vốn”
− Nếu tài sản giảm hoặc nguồn vốn tăng thì đó chính là nguồn vốn phát sinh
trong kỳ nên ghi vào cột “nguồn vốn”.
 Bảng phân tích nguồn và sử dụng nguồn vốn:
Sau khi lập “Biểu kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn” ta xây dựng “Bảng
phân tích nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn”. Bảng này cho thấy những trọng điểm
của việc sử dụng vốn cũng như nguồn vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng trong kỳ.
1.3.3.7.Phân tích chỉ số tài chính Z score:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status