BàI 3
CƠ Sở SINH THáI HọC CủA SứC KHOẻ Và BệNH TậT
MụC TIÊU
1.
Mô tả đợc mối quan hệ giữa các hoạt động của con ngời với mất cân bằng
sinh thái.
2. Trình bày đợc những tác động của thay đổi hệ sinh thái lên sức khoẻ con ngời.
3. Giải thích đợc mối quan hệ giữa sức khoẻ con ngời với môi trờng xung quanh.
4. Trình bày đợc một số bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm liên quan đến
môi trờng.
1. CON NGƯờI Và Hệ SINH THáI
1.1. Thế nào là một hệ sinh thái?
Hệ sinh thái là một quần xã động vật, thực vật và vi sinh vật sống, tác động qua
lại với nhau và với môi trờng xung quanh. Hệ sinh thái bao gồm cả thành phần lý học
và hoá học nh đất, nớc và các chất dinh dỡng cung cấp cho các sinh vật sống trong
nó. Những sinh vật này có thể là những động vật, thực vật bậc cao, với cấu trúc cơ thể
phức tạp nhng cũng có thể là các vi sinh vật nhỏ bé. Hệ sinh thái bao gồm những mối
tác động qua lại giữa các sinh vật sống trong một sinh cảnh nhất định và con ngời là
một phần của hệ sinh thái. Sức khoẻ và sự phồn thịnh của xã hội loài ngời phụ thuộc
vào những lợi ích mà hệ sinh thái mang lại.
Con ngời đã đợc hởng rất nhiều sản phẩm của các hệ sinh thái tự nhiên nh
thức ăn, động - thực vật làm cảnh, gỗ để xây dựng và làm nhiên liệu, cùng vô vàn các
loài động vật, thực vật rất có giá trị trong công tác phòng và chữa bệnh. Những sản
phẩm này chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên,
gần đây ngời ta mới nhận thấy rằng các hệ sinh thái tự nhiên còn đóng nhiều vai trò
hết sức quan trọng khác cho sự tồn tại và phát triển của con ngời. Một số vai trò quan
đất. Các hoạt động đốt cháy nhiên liệu hoá thạch sẽ
phát thải ra các khí nhà kính và có thể dần dần làm
tăng nhiệt độ trái đất (hiệu ứng nhà kính)
Chu trình tự nhiên của các chất
dinh dỡng
Việc sử dụng các nguyên liệu không phân huỷ đợc
và các hoạt động chôn lấp rác đã ngăn cản quá trình
hoàn trả lại môi trờng nhiều nguyên liệu hữu ích
Con ngời là một phần của hệ sinh thái trên trái đất. Những hoạt động của con
ngời có thể có lợi hay có hại đối với sự cân bằng của hệ sinh thái. Việc phá hoại nơi
59
sinh sống của các loài động - thực vật do các hoạt động vô tình hay cố ý của con
ngời, đều đe dọa đến sự cân bằng của các hệ sinh thái trên trái đất. Nếu những tác
động này không đợc giải quyết thì sự ổn định của nhiều hệ sinh thái sẽ bị phá vỡ mà
không có khả năng phục hồi. Con ngời có thể ảnh hởng lên hệ sinh thái theo nhiều
khía cạnh khác nhau (bảng 3.2).
Bảng 3.2. Những tác động tiêu cực mà con ngời gây ra cho các hệ sinh thái
Hoạt động của con ngời
ảnh hởng lên hệ sinh thái
Gia tăng dân số Gia tăng dân số dẫn đến gia tăng tốc độ tiêu thụ nguồn tài
nguyên thiên nhiên tái tạo và không tái tạo trên trái đất
Tiêu thụ ồ ạt Nền công nghiệp những nớc phát triển tiêu thụ nhiều tài
nguyên trên đầu ngời hơn những nớc nghèo và chậm
phát triển
Các kỹ thuật tiên tiến Sản xuất ra và ứng dụng vô vàn các kỹ thuật hiện đại mà
không hiểu rõ những tác động tiềm tàng mà nó sẽ gây ra
cho môi trờng sinh thái
Chặt phá rừng Làm mất đi một diện tích rất lớn rừng nhiệt đới và các sản
60%. Vào năm 2000, trên thế giới có khoảng 20 thành phố với số dân vợt quá 10
triệu ngời (McCartney, 2002). Điều kiện sống đông đúc chật hẹp, vệ sinh môi trờng
kém do quá trình đô thị hoá xảy ra mạnh mẽ ở nhiều nơi tạo điều kiện cho các bệnh
truyền nhiễm phát triển và lây lan. Một số bệnh dịch phổ biến trên thế giới, đặc biệt là
ở các nớc đang phát triển làm nhiều ngời mắc và chết là các bệnh tiêu chảy, lao
phổi, sốt rét và tả. Ngoài ra còn có nhiều bệnh mới nảy sinh hay các bệnh cũ quay trở
lại do sự thay đổi các hệ sinh thái. Điều này chứng tỏ mối tơng quan chặt chẽ giữa
gia tăng dân số, thay đổi môi trờng sinh thái và sức khoẻ con ngời.
Các hoạt động của con ngời trong thời gian qua đã có những ảnh hởng tiêu
cực tới trạng thái cân bằng của nhiều hệ sinh thái. Mối đe dọa trớc mắt là sự phá hoại
những nơi sinh sống tự nhiên của sinh vật cũng nh sự xâm nhập của các loài lạ xảy ra
sau khi sinh cảnh bị tàn phá. Đối với hệ sinh thái biển thì việc đánh bắt cá và các loài
hải sản tràn lan là một mối đe dọa lớn tới sự cân bằng và phồn thịnh của các hệ sinh
thái ở đây. Một trong những tác động lớn nhất mà con ngời gây ra cho hệ sinh thái
đó là làm mất đa dạng sinh học tự nhiên. Theo ớc tính của Lawton và May (1995), cứ
mỗi giờ qua đi trên thế giới sẽ có một loài bị tuyệt chủng nhng đáng tiếc là trong quá
trình tiến hoá phải mất tới 10.000 năm hoặc thậm chí lâu hơn mới sinh ra đợc một
loài mới. Các mối đe dọa khác tới hệ sinh thái bao gồm sự thay đổi chu trình carbon,
nitơ và các chất hoá học khác trên trái đất do tác động của quá trình đốt cháy các
nhiên liệu hoá thạch, sử dụng phân bón chứa nitơ trong sản xuất nông nghiệp với một
lợng lớn v.v. Tuy nhiên, một trong những ảnh hởng lớn nhất do các hoạt động của
con ngời gây ra và thờng đợc bàn tới trong những năm gần đây, đó là sự thay đổi
khí hậu trên toàn cầu. Tác động này sẽ ảnh hởng trực tiếp tới các hệ sinh thái cũng
nh tới sức khoẻ của con ngời.
1.3. Hậu quả của thay đổi khí hậu và biến đổi hệ sinh thái
Theo nhiều nhà khoa học, sự thay đổi khí hậu mà nguyên nhân là do chính các
hoạt động của con ngời gây ra - đặc biệt là sự ấm lên trên toàn cầu (global warming)
do sự gia tăng nồng độ khí carbon dioxyd và các khí nhà kính khác trong khí quyển đã
gây ra những tác động tiêu cực lên sức khoẻ của cộng đồng. Các nhà khí tợng học dự
đoán rằng, do sự tích tụ của các khí nhà kính mà khí hậu toàn cầu sẽ thay đổi với một
ở nhiều vùng trên thế giới, trong thời gian xẩy ra En Ni-nô thì các bệnh truyền qua véc-tơ
và các bệnh truyền qua nớc tăng lên rõ rệt. Lũ lụt sinh ra những vũng chứa nớc ngọt tạo
điều kiện cho muỗi sinh sôi nảy nở. Đợt En Ni-nô xảy ra vào năm 1997-1998 đợc xem là
mạnh nhất trong thế kỷ 20 đã gây hậu quả ở nhiều nơi trên thế giới. Hạn hán nặng và
cháy rừng xảy ra ở nhiều nớc thuộc châu á, các nớc vùng Địa Trung Hải, vùng Amazon,
các khu rừng nhiệt đới ở Mexico, Trung Mỹ và các bang California, Florida ở Mỹ; ngứa mắt
dị ứng, các bệnh đờng hô hấp và tim mạch tăng vọt ở những vùng này. Hạn hán và lũ lụt
xảy ra ở nhiều vùng nhiệt đới làm dịch tả lan tràn.
Sóng nhiệt làm hàng ngàn ngời ở ấn Độ và hàng trăm ngời ở châu Âu và Mỹ bị tử vong.
ở Trung Quốc và Băngladesh thì lũ lụt xảy ra với sức tàn phá ghê gớm. ở vùng mỏm của
châu Phi, trận đại hồng thuỷ xảy ra gây lụt lội vào cuối năm 1997 làm gia tăng bệnh dịch
tả, sốt rét và sốt Thung lũng Rift (Rift Valley fever) làm nhiều ngời và gia súc bị chết. ở
châu Mỹ La Tinh, lụt lội xảy ra dọc theo biển Đại Tây Dơng và vùng phía nam Brazin đã
liên quan với sự bùng nổ bệnh tả và các bệnh truyền qua véc-tơ, còn ở nhiều vùng ở phía
Nam nớc Mỹ thì đã xảy ra các vụ dịch hantavirus do chuột truyền. Đây là bệnh mới nảy
sinh và xuất hiện lần đầu tiên ở nớc Mỹ, là một quốc gia có nền y tế công cộng phát triển
vào bậc nhất trên thế giới.
En Ni-nô hay còn gọi là giao động nam là một chu trình khí hậu tự nhiên. Tuy nhiên, sự
hấp thụ nhiệt của đại dơng do nhiệt độ trái đất tăng lên có thể làm đảo lộn chu kỳ tự
nhiên của En Ni-nô và làm cho chúng xảy ra thờng xuyên hơn và dữ dội hơn.
Trong thời gian xảy ra En Ni-nô, những thay đổi của thuỷ triều và gió ở vùng đông Thái
Bình Dơng sẽ làm thay đổi gió xoáy và các mô hình khí hậu trên toàn cầu.
62
Hạn hán bất thờng xảy ra ở nhiều nơi, còn nhiều vùng khác thì lại phải đối mặt với các
trận hồng thuỷ và bão lụt dữ dội. Cuối mỗi đợt En Ni-nô thờng xảy ra một giai đoạn khác
của chu trình, gọi là La Ni-na - sự kiện trái ngợc với En Ni-nô.
ở ấn Độ, Mexico, và Đông Nam nớc Mỹ đã phải chịu cảnh hạn hán khốc liệt trong giai
đoạn 1997-1998 do tác động của En Ni-nô, sau đó lại xảy ra các trận lụt lớn vào tháng 8,
tháng 9 năm 1998 do ảnh hởng của La Ni-na.
em và đối tợng có thu nhập thấp. Sự nhạy cảm của các nhóm đối tợng này có thể do
63
nhiều yếu tố vật lý và xã hội khác nhau quyết định, bao gồm: việc họ phải sống trong
điều kiện môi trờng không thoáng mát, không có hệ thống thông gió hay điều hoà
nhiệt độ. Những bệnh nhân bị các bệnh tim mạch và hô hấp mạn tính là những ngời
có nguy cơ rất cao. Chúng ta đã chứng kiến hậu quả của thời tiết quá nóng bức xảy ra
ở Chicago năm 1995 làm 500 ngời chết chỉ trong một thời gian ngắn. Những mô hình
dự báo gần đây cho rằng đến năm 2050 ở nhiều thành phố trên thế giới sẽ có thêm
hàng ngàn ngời bị chết mỗi năm do nóng bức.
1.3.3. Gia tăng ô nhiễm không khí và hậu quả của nó tới sức khoẻ
Nhiệt độ tăng lên làm giảm chất lợng không khí, chủ yếu là do vấn đề tăng ô
nhiễm khí carbon dioxyd, nitơ oxyd, ozon v.v. ở những khu vực đô thị nơi môi trờng
bị ô nhiễm nặng. Nhiệt độ và tia tử ngoại ở tầng thấp của khí quyển tăng lên tạo điều
kiện cho các phản ứng hoá học xảy ra mạnh mẽ và sản xuất ra khí ozon. Ozon là một
khí phản ứng rất mạnh và có thể trực tiếp làm oxy hoá các phân tử, tạo ra các gốc tự
do chứa nhiều năng lợng và có thể làm tổn thơng đến tế bào. Nồng độ ozon cao
trong không khí có thể làm gia tăng các trờng hợp bị bệnh hô hấp và bệnh tim mạch.
Ngời ta thấy rằng, những tác động hô hấp cấp tính do ozon gây ra có liên quan tới
bệnh hen suyễn ở trẻ em. Khí hậu ấm hơn và ẩm ớt hơn ở nhiều vùng có thể làm tăng
nồng độ các loại phấn hoa trong không khí và rất có khả năng sẽ có tác động tiêu cực
lên những ngời bị rối loạn dị ứng, ví dụ những bệnh nhân bị hen suyễn hay bị sốt
mùa cỏ khô (sốt mùa hè).
1.3.4. Những thay đổi trong hệ sinh thái và các bệnh truyền nhiễm
Sự kết hợp của thay đổi khí hậu, suy thoái môi trờng và mất cân bằng các hệ
sinh thái đã tạo điều kiện lý tởng cho sự quay trở lại cũng nh sự xuất hiện và lây lan
của nhiều căn bệnh truyền nhiễm - những bệnh đã làm hơn 17 triệu ngời bị tử vong
hàng năm trên thế giới. Hình 3.1 mô tả một số ví dụ về các bệnh mới nảy sinh và các
bệnh có nguy cơ xuất hiện trở lại ở các nớc trên thế giới.
con mồi bị mất cân bằng dẫn tới các phơng thức kiểm soát sinh học tự nhiên cũng bị
phá vỡ. Các loài cá nớc ngọt, chim, lỡng c và dơi là những loài giới hạn sự phát
triển của muỗi (là véc-tơ truyền các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, sốt vàng và viêm
não). Quạ, chó sói đồng cỏ và rắn giúp kiểm soát các quần thể gặm nhấm. Một số loài
gặm nhấm làm lây truyền các bệnh Lyme, hantavirus, arenavirus (sốt xuất huyết),
Leptospiroses và dịch hạch. Khi kẻ thù của các véc-tơ truyền bệnh bị giảm về số lợng
do tác động của thay đổi khí hậu trong lúc các quần thể vector truyền bệnh lại phát
triển mạnh mẽ thì các bệnh truyền qua véc-tơ sẽ có điều kiện lan tràn và chúng ta khó
có thể kiểm soát đợc. Các nhà khoa học cho rằng khí hậu ấm và ẩm hơn đã tạo điều
kiện mở rộng phạm vi hoạt động của nhiều loại bệnh truyền nhiễm. Tiến sỹ Epstein
trong một nghiên cứu gần đây về " Sức khoẻ con ngời và sự thay đổi khí hậu" đã
cảnh báo rằng " Thay đổi khí hậu sẽ có nhiều tác động lên sức khoẻ con ngời và hầu
hết là các tác động có hại" (Epstein, 1998).
1.3.5. Thay đổi mô hình bệnh tật
Trong quá khứ đã có nhiều giai đoạn bệnh tật tàn phá xã hội loài ngời, ví dụ
nh bệnh dịch hạch thời trung cổ xảy ra ở châu Âu. Vấn đề này đã xảy ra đồng thời
65
với sự gia tăng dân số, sự đô thị hoá và môi trờng sống bị ô nhiễm trầm trọng. Với sự
ấm lên của toàn cầu nh hiện nay cùng với sự thay đổi mạnh mẽ các hệ sinh thái đã
tạo điều kiện cho các mô hình bệnh tật thay đổi trên một diện rộng. Trong nghiên cứu
của Tiến sĩ Epstein, ông đã đa ra 3 tác động chính mà sự thay đổi khí hậu có thể gây
ra cho sức khoẻ cộng đồng, đó là:
Tạo điều kiện thuận lợi cho sự bùng nổ các vụ dịch bệnh truyền nhiễm.
Tăng khả năng lây truyền các bệnh truyền qua véc-tơ và làm hàng triệu ngời bị
phơi nhiễm với các bệnh mới nảy sinh cũng nh phơi nhiễm với nhiều nguy cơ
sức khoẻ khác nhau.
Cản trở sự kiểm soát bệnh dịch trong tơng lai.
Ngoài ra, một trong những nhân tố không kém phần quan trọng trong việc làm
lây lan các bệnh mới nảy sinh, góp phần thay đổi mô hình bệnh tật trên thế giới đó là
Giang, Bắc Ninh và Quảng Ninh.
2.1.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội
Là nơi tiếp giáp với các nớc Lào và Trung Quốc, liền kề với đồng bằng Sông
Hồng, nên có điều kiện để giao lu.
Địa hình núi non hiểm trở, giàu tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng và các
khoáng sản, nhiều sông, suối, biển
Khí hậu vẫn là khí hậu nhiệt đới, có 4 mùa.
Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít ngời nh: Tày, Nùng, Thái, Mờng, Dao,
Mông v.v.
Là vùng còn nghèo và khó khăn, mặc dù có nhiều tiến bộ về đời sống văn hoá xã
hội, nhng vẫn còn có những phong tục tập quán lạc hậu, ảnh hởng đến công việc
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
2.1.2. Đặc điểm bệnh tật
Từ những đặc điểm về địa lý, kinh tế nh vậy nên kéo theo những vấn đề về sức
khoẻ, bệnh tật cũng có những điểm khác so với các vùng khác nh đây là nơi tập trung
khá nhiều những bệnh liên quan đến côn trùng, đói nghèo, phong tục biểu hiện qua
10 bệnh mắc cao nhất nh đợc trình bày trong bảng 4.
Bảng 3.4. Mời bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất
ở vùng miền núi Trung du Bắc bộ, năm 1999 và 2001
STT Miền núi Trung du
Bắc Bộ (năm 1999)
Vùng Đông Bắc
(năm 2001)
Vùng Tây Bắc
(năm 2001)
1 Các bệnh viêm phổi Viêm họng và viêm amiđan
cấp
Các bệnh viêm phổi
2 Viêm họng và viêm
Cúm Các tổn thơng khác xác
định, không xác định và
ở nhiều nơi
9 Các tổn thơng do chấn
thơng
Gãy các phần khác của chi Các biến chứng khác
của chửa đẻ
10 Loét dạ dày-hành tá tràng Tăng huyết áp nguyên phát Thơng hàn, phó thơng
hàn
2.2. Đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng Sông Hồng gồm 9 tỉnh thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải
Dơng, Hng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình.
2.2.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội
Đồng bằng Sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc
với một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông-Nam.
Là nơi dân c tập trung đông đúc nhất trong cả nớc, mật độ dân số trung bình
1180 ngời/km
2
(1999).
Địa hình bằng phẳng có thế mạnh về phát triển lơng thực, thực phẩm, khoa học
kỹ thuật, công nghệ. Do thế mạnh về phát triển lơng thực thực phẩm, chăn nuôi, canh
tác nông nghiệp nên gây ra mô hình bệnh tật có khác với các vùng khác.
Là vùng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của
đất nớc.
2.2.2. Đặc điểm bệnh tật
Bảng 3.5. Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
vùng Đồng bằng Sông Hồng năm 1999 và 2001
STT 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
năm 1999
10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
Khí hậu ảnh hởng của gió lào về mùa hè nên nóng, ẩm, ma lũ theo mùa. Là
vùng chịu ảnh hởng khá nhiều thiên tai và bị tàn phá nhiều trong thời gian
chiến tranh.
Là vùng phát triển cả kinh tế rừng, biển và nông nghiệp.
Là nơi c trú của nhiều dân tộc khác nhau, còn nhiều dân tộc ít ngời sống rất
sâu - xa có nhiều phong tục tập quán lạc hậu.
2.3.2. Đặc điểm về bệnh tật
Bảng 3.6. Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất vùng Bắc Trung bộ năm 1999 và 2001
STT Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
69
năm 1999 năm 2001
1 Các bệnh viêm phổi Các bệnh viêm phổi
2 Viêm họng và amiđan cấp Tai nạn giao thông
3 Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản
cấp
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản
cấp
4 Cúm Các biến chứng của chửa đẻ
5 Sẩy thai do can thiệp y tế
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
6 Sốt rét Các tổn thơng khác xác định, không
xác định và ở nhiều nơi
7
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
Viêm họng và viêm amiđan cấp
8 Chấn thơng dập nát và cắt cụt đã xác
định và nhiều vùng trong cơ thể
STT Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
năm 1999
10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
năm 2001
1 Các bệnh viêm phổi Các tổn thơng khác do chấn thơng xác
định và ở nhiều nơi
2 Viêm họng và amiđan cấp Các bệnh viêm phổi
3 Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản
cấp
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
4 Các tổn thơng khác do chấn thơng
xác định và ở nhiều nơi
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
5
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non
có nguồn gốc nhiễm khuẩn
Các biến chứng khác của chửa đẻ
6 Chấn thơng dập nát và cắt cụt đã
xác định và nhiều vùng trong cơ thể
Viêm họng và amiđan cấp
7 Sâu răng Bệnh viêm ruột thừa
8 Các biến chứng khác do chửa đẻ Viêm khớp dạng thấp và viêm khớp khác
9 Sốt rét Sốt rét
10 Bệnh viêm ruột thừa Tăng huyết áp nguyên phát
2.5. Tây Nguyên
Tây Nguyên có 4 tỉnh là: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk và Lâm Đồng.
2.5.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội
Đây là vùng duy nhất ở nớc ta không giáp với biển.
Các tỉnh này tiếp giáp với Lào và Cămpuchia, có vị trí quan trọng về quốc phòng
Cúm
8
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non
có nguồn gốc nhiễm khuẩn
Gãy các phần khác của chi: do lao động
và giao thông
9 Bệnh viêm ruột thừa
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
10 Các bệnh nhiễm khuẩn khác Viêm nhiễm cổ tử cung
2.6. Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dơng,
Bình Phớc, Tây Ninh và Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu.
2.6.1. Đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội
Là khu vực có diện tích nhỏ, mật độ dân số trung bình nhng phát triển nhất
trong cả nớc về sản lợng công nghiệp, hàng xuất khẩu.
Đất đai màu mỡ, có điều kiện để phát triển cây công nghiệp lâu năm và ngắn
ngày trên quy mô lớn.
Là khu vực thu hút mạnh lực lợng lao động có chuyên môn cao, thợ lành nghề,
các nhà khoa học và là vùng có tài nguyên chất xám lớn.
Có điều kiện và khả năng phát triển công nghiệp, các hoạt động du lịch, dịch vụ,
chế biến, xuất - nhập khẩu,
Khai thác kinh tế biển, bờ biển, phát triển nông nghiệp và ng nghiệp.
Khí hậu ôn hoà, chỉ có 2 mùa ma và khô, thời kỳ mùa khô kéo dài (4 tháng)
dẫn đến thiếu nớc sinh hoạt, nớc tới cho cây trồng và nớc cho công nghiệp.
2.6.2. Đặc điểm về bệnh tật
Bảng 3.9. Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất vùng Đông Nam bộ năm 1999 và 2001
72
STT Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cắt xẻ châu thổ thành những ô nên
việc giao thông bằng đờng thuỷ dễ dàng.
Khí hậu cận xích đạo, nhiệt đới ẩm, mùa khô kéo dài làm cho đất nớc bị nhiễm
mặn vào sâu đất liền.
Thảm thực vật, động vật phong phú chủ yếu là rừng ngập mặn và rừng tràm, tài
nguyên biển vô cùng phông phú
Thiếu nớc ngọt đang là một vấn đề vô cùng quan trọng của đồng bằng Sông
Cửu Long
2.7.2. Đặc điểm về bệnh tật
Bảng 3.10. Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
vùng đồng bằng Sông Mê Kông năm 1999 và 2001
73
STT Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
năm 1999
Mời bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
năm 2001
1 Các bệnh viêm phổi Các bệnh viêm phổi
2
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
ỉa chảy, viêm dạ dày, viêm ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
3 Viêm họng và amiđan cấp Viêm họng và viêm amiđan cấp
4 Mắt hột Tăng huyết áp nguyên phát
5 Sốt rét Tai nạn giao thông
6 Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản
cấp
Các tổn thơng, xác định và không xác
phát huy hiệu quả và sự gia tăng của việc đi lại thông thơng giữa các nớc trên thế
giới cũng nh sự di c của ngời dân từ nớc này sang nớc khác là những yếu tố
chính dẫn tới sự tái xuất hiện trở lại các bệnh truyền qua véc-tơ. Sự mở rộng của các
vùng không có sơng tuyết có thể dẫn tới sự di c của các loài côn trùng và gặm nhấm
làm lây lan các bệnh ở vùng có khí hậu nóng ấm tới các vùng cao nguyên, đồi núi.
Những gì có lợi cho vi sinh vật có hại thì hiếm khi có lợi cho con ngời. Nhiệt độ ấm
lên trong một thời gian dài do khí hậu thay đổi sẽ tạo điều kiện lý tởng cho các loài
muỗi và nhiều loài véc-tơ truyền bệnh khác sinh sôi nảy nở, làm lây lan các bệnh
truyền nhiễm.
a. Bệnh sốt rét
Vấn đề đang thu hút đợc sự quan tâm rất lớn là bệnh sốt rét. Sốt rét hiện là một
trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất trên thế giới và ớc tính có khoảng 300
đến 500 triệu ngời bị mắc và có thêm khoảng 1, 5 đến 2, 7 triệu ngời bị chết hàng
năm vì căn bệnh này. Hơn một nửa trong số các trờng hợp bị tử vong là trẻ em, đặc
biệt là trẻ em sống ở những vùng nông thôn nghèo nàn ở châu Phi - châu lục có nhiều
ngời mắc bệnh sốt rét nhất (Watson và cộng sự 1995), 60 trong số 380 loài muỗi
đợc biết đến trên thế giới có khả năng truyền bệnh sốt rét. ở Việt Nam có khoảng 20
loài muỗi truyền bệnh sốt rét, trong đó một số loài chính là Anophel minimus,
Anophel dirus và Anophel balabasensis Ngời ta cho rằng bệnh sốt rét là căn bệnh
truyền qua véc-tơ chịu ảnh hởng lớn nhất của sự thay đổi khí hậu, vì muỗi rất nhạy
cảm với những thay đổi thời tiết. Những thay đổi khí hậu kéo theo thay đổi về nhiệt
độ, lợng ma, độ ẩm và gió sẽ ảnh hởng tới vòng đời và sự phát triển của muỗi, gián
tiếp ảnh hởng tới sự lan tràn của bệnh sốt rét.
Sốt rét do muỗi truyền th
ờng đợc tìm thấy ở những vùng có nhiệt độ thấp nhất
vào mùa đông không dới 16
0
C. Sự mở rộng của các vùng có nhiệt độ trên 16
0
C vào
xuất huyết. Ngày nay, sốt xuất huyết xuất hiện khá phổ biến ở các nớc châu á và
châu Mỹ La Tinh. Bằng chứng là ngời ta đã ghi nhận các trờng hợp bị sốt xuất
huyết ở những vùng có độ cao cao hơn trớc, ví dụ 1.240 mét ở Trung Mỹ, 1.000 mét
ở Mexico và 2.200 mét ở Côlômbia. Vì hiện nay, sốt xuất huyết cha có thuốc điều trị
đặc hiệu cũng nh cha có vắc-xin phòng bệnh, do đó biện pháp phòng chống tích
cực chủ yếu dựa vào sự tham gia của cộng đồng để diệt muỗi truyền bệnh.
c. Viêm não truyền qua côn trùng
Đây là một vấn đề cần đợc đặc biệt quan tâm ở các nớc ôn đới. Muỗi có thể
truyền một số loài virus gây các bệnh viêm não ở ngời. Một trong số các bệnh này là
viêm não Nhật Bản, Eastern Equine (Mỹ), Venezuelan Equine và nhiều bệnh khác.
Phổ biến nhất ở Mỹ là viêm não St. Louis. Các vụ dịch viêm não St. Louis xảy ra ở
Trung Đông có tơng quan với các thời kỳ có nhiệt độ cao (trên 30
0
C), đặc biệt là vào
những tháng cuối mùa đông nóng, ẩm ớt và theo sau là mùa hè hạn hán. Căn bệnh
này đã gây ra cho cộng đồng nhiều vụ dịch, ví dụ nh vụ dịch xảy ra ở Mỹ vào năm
1975 làm 1.815 ngời bị mắc (WHO, 1996). Hiện tại, bệnh này chỉ mới xảy ra chủ
yếu ở các vùng phía Nam nớc Mỹ, tuy nhiên với tác động của sự ấm lên toàn cầu, sự
biến đổi các hệ sinh thái thì bệnh có xu hớng lan tràn lên một số vùng phía Bắc và có
thể lên tận Canada.
d. Hantavirus
Cùng với sự gia tăng của các bệnh phổ biến đã xuất hiện từ lâu thì gần đây có sự
xuất hiện của một số bệnh truyền nhiễm mới ở một số nớc trên thế giới. Nhiều loài
động vật nh gặm nhấm, dơi và động vật gây hại tham gia vào sự lây truyền các bệnh
truyền nhiễm. Ví dụ, sự xuất hiện của hội chứng viêm phổi do Hantavirus gây ra ở
76
phía trên và xung quanh vùng Navajo Indian ở Tây Nam nớc Mỹ năm 1993 là có liên
quan với những biến đổi xảy ra trong các quần thể gặm nhấm trong vùng. Hantavirus
là một ví dụ điển hình về vai trò của những thay đổi trong hệ sinh thái trong việc xảy
Các bệnh truyền qua nớc có thể do nhiều loại vi sinh vật gây ra, bao gồm virus,
vi khuẩn và động vật nguyên sinh. Một số bệnh truyền qua nớc do virus gây ra bao
gồm viêm gan A, Rotavirus và bệnh do virus Norwalk. Một số vi khuẩn gây bệnh
truyền trong nớc bao gồm phẩy khuẩn Cholerae, Legionella, Salmonella typhi và
Shigella. Hai loài động vật nguyên sinh phổ biến gây bệnh truyền qua nớc là Giardia
và Cryptosporidum. Sự thay đổi của khí hậu, mất cân bằng các hệ sinh thái và mối
77
liên quan tới một số bệnh truyền qua nớc do virus, vi khuẩn và động vật nguyên sinh
sẽ đợc bàn tới sau đây.
a. Rotavirus
Rotavirus thuộc họ Reoviridae gây viêm dạ dày ruột cấp tính. Có tất cả 6 nhóm
khác nhau và 3 trong số này (còn gọi là nhóm A, B và C) lây nhiễm và gây bệnh cho
ngời. Rotavirus nhóm A là một bệnh dịch phổ biến trên toàn thế giới. Đây là nguyên
nhân hàng đầu gây ỉa chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chiếm khoảng một nửa các ca bị
bệnh đờng ruột phải đến bệnh viện. Chỉ riêng ở nớc Mỹ thì hàng năm cũng có hơn 3
triệu ca viêm dạ dày ruột do Rotavirus nhóm A gây ra. ở những vùng ôn đới, bệnh chủ
yếu xảy ra vào mùa đông, nhng ở các nớc nhiệt đới thì Rotavirus gây bệnh quanh
năm. Rotavirus nhóm B (hay còn gọi là Rotavirus gây tiêu chảy ở ngời lớn (ADRV))
gây ra nhiều vụ dịch tiêu chảy nguy hiểm. Rotavirus nhóm C lác đác gây ra một vài vụ
dịch tiêu chảy ở trẻ em trên nhiều nớc. Tuy nhiên, những vụ dịch đầu tiên đã xảy ra ở
Nhật và Anh (Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm ở Mỹ, 2002).
Căn bệnh này có thể tự khỏi, mức độ có thể từ nhẹ đến nguy hiểm và thờng
gồm các triệu chứng nh nôn mửa, ỉa chảy và sốt nhẹ. Rotavirus đợc lây truyền qua
đờng phân - miệng. Sự lây lan từ ngời này sang ngời khác thông qua tay bị nhiễm
bẩn là con đờng lây truyền quan trọng nhất của Rotavirus trong các cộng đồng sống
đông đúc, chật hẹp. Liều lây nhiễm ớc tính khoảng từ 10 đến 100 virus. Vì ngời
bệnh thờng thải ra virus với số lợng lớn (khoảng 108-1010 virus/100ml phân), do đó
chúng ta rất dễ mắc bệnh khi tiếp xúc với tay, bát đũa hay các vật dụng khác bị nhiễm
bẩn. Rotavirus tồn tại khá bền vững trong môi trờng, do vậy công tác vệ sinh an toàn
thành ruột. Độc tố của chúng giải phóng ra kích thích thần kinh ở ruột, gây viêm loét,
xuất tiết tại chỗ; do đó bệnh nhân có cảm giác đau bụng quặn, mót rặn, đi ngoài phân
có nhày, máu. Nếu đợc chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ khỏi, không có biến chứng;
nếu điều trị muộn, bệnh nhân có thể tử vong. Bệnh có thể gây dịch qua đờng ăn
uống.
Trong các yếu tố nguy cơ thì tình trạng suy dinh dỡng (trọng lợng theo tuổi
nhỏ hơn 70%) là hậu quả của căn bệnh này. Trẻ sẽ bị đi tiêu ra nhiều đờm và máu do
đại tràng bị viêm. Hiện tợng này vẫn tiếp tục thậm chí sau khi đã điều trị bằng kháng
sinh thích hợp. Chán ăn cũng là vấn đề tiền sử đáng quan tâm khi trẻ bị nhiễm
Shigella.
Khi nhiễm bệnh, trẻ kém hấp thụ và mất chất dinh dỡng. Với những trẻ bị suy
dinh dỡng, tình trạng dinh dỡng càng bị giảm sút khi nhiễm phải bệnh này. Các
thuốc kháng sinh có tác dụng làm giảm số lợng vi khuẩn ở đại tràng cũng làm giảm
tác dụng gây hoại tử của độc tố Shigella, nhng lại làm mất những chất dinh dỡng có
trọng lợng lớn (protein), dẫn đến tình trạng suy dinh dỡng ở trẻ.
Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là vệ sinh phân, nớc, rác, quản lý và điều trị kịp
thời bệnh nhân, tránh lây lan.
d. Lỵ amip
Bệnh do đơn bào amip gây nên, có thể gây lỵ amip cấp hoặc mạn tính. Bệnh dễ
mắc khi ăn uống thiếu vệ sinh, điều kiện vệ sinh môi trờng xung quanh kém, tạo điều
kiện cho ruồi phát triển và truyền bệnh. Đây là bệnh lây qua đờng tiêu hóa. Amip
theo thức ăn, nớc uống vào miệng; khi đến ruột thì xâm nhập vào niêm mạc ruột, gây
ra những vết loét nhỏ trong lòng ruột và biểu hiện bên ngoài bằng hội chứng lỵ.
Thời gian ủ bệnh tơng đối dài (7-90 ngày).
Triệu chứng chính là: bệnh nhân đau bụng mơ hồ, ăn kém ngon, ngời mệt mỏi và
hay đổ mồ hôi. Tiếp theo là xuất hiện hội chứng lỵ: đau dọc theo khung ruột già, đi
79
ngoài 5-15 lần /ngày ra chất nhầy lẫn máu và có cảm giác mót rặn. Bệnh nhân không bị
sốt, soi trực tràng thấy có cá vết loét hình dấu ngón tay, trên mặt phủ lớp nhầy lẫn máu.
Tất cả những vấn đề đã nêu trên đây cho thấy: khí hậu thay đổi có thể tạo ra
những thách thức lớn cho ngành y tế công cộng trong thế kỷ XXI. Chúng ta có thể
phải đối mặt với nhiều vấn đề về sức khoẻ và môi trờng ở một diện rộng lớn mà
chúng ta cha từng gặp phải.
3.1.3. Bệnh truyền qua không khí
Bệnh truyền qua không khí điển hình là bệnh lao.
80
Lao phổi (Tuberculosia - TB) là một bệnh dịch đe dọa sức khoẻ cộng đồng trên
thế giới. Bệnh do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra và lây lan từ ngời này
sang ngời khác qua đờng hô hấp. Vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis đã gây
bệnh và tử vong ở ngời từ hàng nhiều thế kỷ nay nhng đến năm 1882 thì Tubercle
bacillus mới đợc biết tới. Đến những năm cuối 1940 thì thuốc chống TB hữu hiệu
đầu tiên (streptomycin và acid p - amino salicylic) mới đợc sản xuất. Đến năm 1952,
ngời ta sản xuất ra isoniazid (INH) để điều trị TB ( McCray et al. 1997). Trớc đây,
ngời ta chỉ điều trị TB bằng một loại thuốc, tuy nhiên đến đầu những năm 1950 thì
có sự xuất hiện của các dòng vi khuẩn M. tuberculosis kháng thuốc (và gần đây thì
xuất hiện các dòng kháng từ 2 loại thuốc chính điều trị TB trở lên) nên đòi hỏi phải có
sự kết hợp của nhiều loại thuốc trong điều trị. ở Mỹ giai đoạn từ 1950 đến 1985 đã có
nhiều cải cách trong các chính sách y tế công cộng kết hợp với việc điều trị kết hợp
nhiều loại thuốc nên số trờng hợp mắc TB đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, từ 1985 đến
1992, số trờng hợp bị TB lại tăng lên rất nhanh. Ngời ta cho rằng một số nguyên
nhân dẫn đến sự gia tăng dịch TB là do sự xuất hiện của đại dịch HIV/AIDS, việc điều
trị TB không đúng hoặc không triệt để (làm gia tăng vi khuẩn kháng thuốc) và sự đi
lại thông thơng giữa các nớc trên thế giới làm lây lan căn bệnh này. Tỷ lệ mới mắc
vi khuẩn lao kháng thuốc ở Mỹ tăng lên từ 2% đến 9% trong 3 thập kỷ qua. TB là căn
bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu trên thế giới và hàng năm thì có khoảng 3
triệu ngời chết vì căn bệnh này. Từ 1992 đến nay thì số trờng hợp bị TB có xu
hớng giảm xuống và ở Mỹ từ 1992 đến 2000 số trờng hợp bị TB giảm đợc 39%.
Tuy nhiên, đối với phơng pháp điều trị bằng tia X quang liều thấp thì nguy cơ bị ung
th là thấp.
Ô nhiễm môi trờng là nguyên nhân gây ra khoảng 2% tử vong do ung th.
Một trong những chất ô nhiễm chính đó là các hydrocarbon vòng thơm, đợc tạo ra do
hoạt động đốt cháy gỗ, thuốc lá và các nhiên liệu hoá thạch. Các hợp chất chứa clo
cũng là một trong những chất ô nhiễm chính trong nớc có liên quan tới ung th ở
động vật. Một số hormon tổng hợp và thuốc cũng có thể gây ung th hay có liên quan
tới ung th ở ngời. Ví dụ một số thuốc chống ung th, đặc biệt là các hợp chất ankyl
nh cyclophosphamid và chlorambucil; steroid đồng hoá; estrogen tổng hợp nh
diethylstilbestrol, conjugated estrogens, và thuốc tránh thai chứa estrogen. Môi trờng
ô nhiễm, hệ sinh thái thay đổi đã có nhiều tác động đến bệnh ung th. Nổi bật nhất là
mối tơng quan giữa suy giảm tầng ozon và gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung th da ở nhiều nơi
trên thế giới, đặc biệt là ở Australia, New Zealand, và Chile v.v.
3.2.2. Ung th da
Nồng độ của tia tử ngoại ngày nay cao hơn nhiều so với 50 năm hay 100 năm
trớc đây. Đây là hậu quả của sự suy giảm tầng ozon gây giảm đáng kể lợng tia tử
ngoại chiếu vào trái đất. Do hoạt động của con ngời trong những thập niên gần đây,
không khí bị ô nhiễm, tầng ozon bị suy giảm và chúng ta phơi nhiễm với tia tử ngoại ở
nồng độ cao hơn trớc đây. Một số yếu tố khác có tác động đến sự phơi nhiễm tia tử
ngoại là: độ cao, vĩ độ và sự bao phủ của mây. Độ cao tăng lên thì nồng độ UV cũng
tăng lên, vì ở trên cao không khí loãng hơn ở mực nớc biển, vì vậy chúng hấp thụ UV
kém hơn. Tia tử ngoại cũng mạnh nhất ở vùng gần xích đạo. Tuy nhiên, do lỗ thủng
tầng ozon ở bán cầu nam nên Nam Cực, Chile, và New Zealand cũng có nồng độ UV
cao hơn bình thờng. Một yếu tố làm giảm UV là sự che phủ của mây. Khí hậu và vi
82