ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền công nghiệp ngày nay, tất cả các nước trên thế giới nói chung
và nước ta nói riêng đều sử dụng động cơ điện. Trong công nghiệp thì động cơ
không đồng bộ được dùng nhiều hơn và chúng đang thay thế ngày một nhiều
cho các động cơ một chiều. Sở dĩ như vậy là do động cơ không đồng bộ có kết
cấu đơn giãn, dễ chế tạo vận hành an toàn, sử dụng trực tiếp từ lưới điện xoay
chiều ba pha. Đến nay phần lớn các cần trục được trang bị động cơ không đồng
bộ, nhiều cơ cấu của máy cắt kim loại, truyền động phụ của máy cán và nhiều cơ
cấu khác trong các lĩnh vực công nghiệp cũng đang sử dụng động cơ không
đồng bộ. Tuy nhiên khi điều chỉnh tốc độ và khống chế các quá trình quá độ của
động cơ rất khó khăn, riêng đối với động cơ rotor lồng sóc có các chỉ tiêu khởi
động xấu hơn so với động cơ điện một chiều. Nhưng động cơ điện một chiều thì
lại sử dụng phức tạp đòi hỏi phải có hệ thống cung cấp điện riêng, khi hoạt động
sẽ gây ra tia lửa điện.… Chính vì những điểm yếu đó của động cơ điện một
chiều và ưu điểm của động cơ không đồng bộ mà hiện nay xu hướng nghiên cứu
dùng động cơ không đồng bộ để thay thế động cơ điện một chiều ngày càng
được quan tâm hơn.
Bên cạnh những ưu điểm của động cơ không đồng bộ ba pha nó còn có
những nhược điểm như là: Momen tới hạn, Momen khởi động sẽ giảm xuống rất
nhiều khi điện áp lưới tụt xuống, dễ phát sinh tình trạng nóng quá mức đối với
Stato nhất là khi điện áp lưới tăng và đối với Roto khi điện áp lưới giảm, khe hở
không khí nhỏ cũng phần nào làm giảm bớt độ tin cậy của chúng.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong đó có sự phát
triển của ngành công nghệ chế tạo bán dẫn công suất và công nghệ điện tử đã
làm cho các hệ truyền động của động cơ không đồng bộ có thể khai thác hết các
ưu điểm để cạnh tranh với động cơ điện một chiều nhất là ở vùng công suất
truyền lớn và tốc độ làm việc cao.
Mặc dù em đã rất nỗ lực và cố gắng làm việc với tinh thần học hỏi và
quyết tâm cao, tuy nhiên đây là lần đầu tiên em làm đồ án và nhận thức về thực
Máy điện không đồng bộ có đặc tính làm việc không tốt lắm so với máy
phát điện đồng bộ nên ít được sử dụng.
Động cơ không đồng bộ so với các loại động cơ khác có cấu tạo và vận
hành không phức tạp, giá rẻ, làm việc tin cậy nên được sử dụng nhiều trong sản
xuất và sinh hoạt. Động cơ không đồng bộ có các loại: động cơ ba pha, động cơ
hai pha, động cơ một pha.
Động cơ điện không đồng bộ có công suất lớn trên 600W thường là loại
ba pha có ba dây quấn làm việc, trục các dây quấn lệch nhau trong không gian
một góc 120
0
điện.
Các động cơ có công suất nhỏ hơn 600W thường là loại hai pha hoặc một
pha. Động cơ hai pha có hai dây quấn làm việc, trục của hai dây quấn đặt lệch
nhau trong không gian một góc 90
0
điện. Động cơ điện một pha chỉ có một dây
quấn làm việc.
Các số liệu định mức của động cơ không đồng bộ:
Công suất cơ có ích trên trục P
đm
Điện áp dây stato U
lđm
Dòng điện dây stato I
lđm
Tần số dòng điện stato f
Tốc độ quay rotor n
đm
Hệ số công suất
đm
Trên stator có võ, lõi thép và dây quấn.
2.1.1. Vỏ máy:
Vỏ máy có tác dụng cố định lõi thép và dây quấn. Thường võ máy làm
bằng gang hoặc nhôm. Hai đầu vỏ máy có nắp máy, ổ trục đở. Đối với vỏ máy
có công suất tương đối lớn (100 kw) thường dùng thép tấm hàn lại làm vỏ máy,
tùy theo cách làm nguội, máy và dạng vỏ máy cũng khác nhau. Vỏ máy và nắp
máy còn dùng bảo vệ máy, như hình 1.2
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 3/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Hình 1.2
2.1.2. Lõi thép:
Lõi thép là phần dấn từ. Do từ trường đi qua lõi thép là từ trường quay
nên giảm bớt tổn hao, lõi thép được làm bằng những lá thép (hình 1.3a) kỹ thuật
điện dày 0,5 mm ép lại. Khi đường kính ngoài của lõi thép nhỏ hơn 990 mm thì
dùng cả tấm thép tròn ép lại. Khi đường kính ngoài lớn hơn trị số trên thì phải
dùng những tấm thép hình rẻ quạt (hình 1.3b) ghép lại thành khối tròn.
Mỗi lõi thép kỹ thuật điện đều có phủ sơn cách điện trên bề mặt để giảm
hao tổn do dòng điện xoáy gây nên. Nếu lõi thép ngắn thì có thể ghép thành một
khối nếu lõi thép có thể ghép thành một khối nếu lõi thép quá dài thì ghép thành
những tấm ngắn mỗi tấm thép dài từ 6 đến 8 cm đặt cách nhau 1cm để thông gió
cho tốt. Mặt trong của lá thép sẽ có rảnh để đặt dây quấn.
2.1.3. Dây quấn:
Dây quấn stator được đặt vài các rãnh của lõi thép và được cách điện tốt
với lõi thép (hình 1.4). Dây quấn phần ứng là phần dây bằng đồng (hình 1.4a)
được ép trong các rãnh phần ứng và làm thành một hoặc nhiều vòng kín. Dây
quấn là bộ phận quan trọng nhất của động cơ vì nó trực tiếp tham gia vào quá
trình biến đổi năng lượng từ điện năng thành cơ năng. Đồng thời về mặt kinh tế
thì giá thành của dây quấn cũng chiếm tỷ lệ khá cao trong toàn bộ giá thành của
máy.
Vòng
trượt
Chổi
than
Dây quấn
rôto
a)
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
2.2.2. Dây Quấn:
Phân loại làm hai loại chính: Rotor kiểu dây quấn (rotor ngắn mạch) và
totor kiểu lồng sóc. Loại rotor lồng sóc công suất trên 100kW, trong các rảnh
của lõi thép rotor đặt các thanh đồng, hai đầu nối ngắn mạch bằng hai vòng đồng
tạo thành lồng sóc (hình 2.3a). Ở động cơ công suất nhỏ, lồng sóc được chế tạo
bằng cách đúc nhôm vào các rãnh lõi thép rotor, thành thanh nhôm, hai đầu đúc
vòng ngắn mạch và cánh quạt làm mát (hình 2.3b). Động cơ điện có rotor lồng
sóc gọi là động cơ không đồng bộ rotor lồng sóc được ký hiệu bằng hình 2.5c
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 6/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
a)
b)
Hình 2.2. Lá thép rôto của động cơ không đồng bộ
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Loại rotor kiểu dây quấn: Rotor kiểu dây quấn (hình 2.4) cũng giống như
dây quấn ba pha stator và có cùng số cực từ dây quấn stator. Trong máy điện cỡ
trung bình trở lên thường dùng dây quấn kiểu sóng hai lớp vì bóp được những
đầu dây nối, kết cấu dây quấn trên rotor chặc chẽ. Trong máy điện cỡ nhỏ
thường dùng dây quấn đồng tâm một lớp. Dây quấn ba pha của rotor thường đáu
hình sao, có ba đầu kia được nối vào ba rãnh trượt thường làm bằng dồng đặt cố
định ở một đầu trục và được cách điện với trục. Nhờ ba chổi than tỳ sát vào ba
suất lớn. Trong những hệ thống có yêu cầu không cao về điều chỉnh tốc độ (có
thể điều chỉnh theo cấp), điều kiện mở máy không quá khó khăn ta nên sử dụng
động cơ rotor lồng sóc.
2.2.3 Khe hở:
Vì rotor là một khối tròn nên khe hở đều, khe hở trong máy điện không
đồng bộ rất nhỏ ( từ 0,2mm đến 1mm trong máy điện cỡ nhỏ và vừa ) để hạn chế
dòng điện từ hóa lấy từ lưới vào, và như vậy có thể làm cho hệ số công suất của
máy tăng cao .
III. Nguyên lý động của động cơ không đồng bộ 3 pha.
Nguyên lý hoạt động của máy điện không đồng bộ nói chung và động cơ
không đồng bộ 3 pha rotor lồng sóc nói riêng là làm việc dựa theo nguyên lý
cảm ứng điện từ.
Khi có dòng điện ba pha chạy trong dây quấn stator thì trong khe hở
không khí suất hiện từ trường quay với tốc độ n
1
=60f
1
/p (với p là số đôi cực, f
1
là
tần số lưới. Từ trường này quét qua dây quấn nhiều pha tự ngắn mạch nên trong
dây quấn rotor có dòng điện I
2
chạy qua. Từ thông do dòng điện này sinh ra hợp
với từ thông của stator tạo thành từ thông tổng ở khe hở, cảm ứng sức điện động.
Dòng điện trong dây quấn rotor tác dụng với từ thông khe hở sinh ra môment.
Lực tác dụng tương hỗ giữa từ trường quay của máy với thanh dẫn mang dòng
điện rotor, kéo rotor quay cùng chiều quay từ trường với tốc độ n.
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 8/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
Hình 2.5 Nguyên lý làm việc của động cơ không đồng bộ
-n
Hệ số trượt của tốc độ là:
1
1
1
2
n
nn
n
n
s
−
==
Khi rotor đứng yên (n=0), hệ số trượt s=1. Khi rotor quay định mức
s=0.02 0.06 tốc độ động cơ:
( ) ( )
s
p
f
snn −=−= 1
.60
1
1
vòng/phúc.
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 9/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH TỐC ĐỘ ĐỘNG
CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ BA PHA
I. Những chỉ tiêu của hệ điều chỉnh tốc độ đối với động cơ điên.
th
th
th
thth
as
s
s
s
s
asIM
M
2
2
++
+
=
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
(1-1)
Trong đó:
(1-2)
Và:
(1-3)
(1-4)
Qua biểu thức (1-1), (1-2), (1-3), (1-4) ta thấy rằng khi thay đổi các
thông số điện trở, điện kháng, điện áp, tần số, số đôi cực thì sẽ thay đổi được s
th
,
M
th
M
+±
±=
ω
22
1
'
2
mm
th
XR
R
s
+
±=
Hình 3.1 a) Sơ đồ điều chỉnh tốc độ động cơ không đồng bộ bằng u
stator
b) Các đặc tính điều chỉnh bằng u
stator
động cơ không đồng bộ
==
=
Nếu coi bộ biến đổi điện áp xoay chiều là nguồn lý tưởng (Z
b
=0), khi
đmb
uu
≠
thì mômen tới hạn M
th.m
tỉ lệ với bình phương điện áp, còn s
th.m
=const,
căn cứ vào biểu thức momen tới hạn ta có quan hệ sau:
(1-5)
Dựa vào đặc tính tới hạn M
gh(S)
, nếu
const=
ω
, ta suy ra đặc tính điều
chỉnh ứng với giá trị u
s
cho trước nhờ quan hệ:
(1-6)
Trong đó: U
đm
: Điện áp định mức của động cơ
U
b
: Điện áp đầu ra của bộ ĐAXC
cd
ththgh
MM
R
RR
SS
=
+
=
;
2
2
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
b). Đặc tính cơ:
Nếu ký hiệu các đại lượng điện tử của mỗi pha biến áp như hình (3.2) thì
tổng trở của biến áp được xác định theo biểu thức:
(1-7)
Trong đó: K= W
2
/W
1
hệ số biến áp.
Khi điều chỉnh điện áp ra để cấp cho stator động cơ, hệ số K thay đổi
đồng thời Z
s
và Z
a
cũng đều thay đổi. Các đặc tính cơ đều có dạng như hình vẽ:
Hình 3-3 Các đặc tính điều chỉnh của truyền động KĐB dùng máy biến
Kháng bảo hòa gồm cuộn làm việc W
lv
và cuộn từ hóa W
th
quấn chúng lên
một gông từ. Nó có thể là một pha hoặc ba pha. Sơ đồ nối kháng bảo hòa để điều
chỉnh tốc độ động cơ KĐB như sau:
Hình 3-4 Sơ đồ nguyên lý điều chỉnh động cơ KĐB bằng phương
phápdùng kháng bảo hòa
Khi thay đổi dòng từ hóa I
th
nhờ biến trở đặt tốc độ, độ từ thẩm của lõi
thép sẽ thay đổi do đó điện kháng của cuộn làm việc W
lv
biến đổi điện áp đặt
vào, động cơ biến cho ta các đặc tính cơ như hình vẽ (3-4) mỗi vùng ứng với
một trị số của dòng từ hóa I
th
.
b). Đặc tính cơ:
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 14/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Hình 3-5. Đặc tính cơ khi điều chỉnh tốc độ động cơ bằng phương pháp
kháng bảo hòa.
Hệ thống này có hai “vùng chết” không điều chỉnh được. Vùng thứ nhất
nằm giữa đặc tính cơ có I
thmax
và đặc tính tự nhiên. Vùng thứ hai nằm giữa trục
Hình 3-6. Sơ đồ nguyên lý của hệ dùng điều chỉnh thirstor.
Mạch lực của động cơ bao gồm ba cặp van nối song song ngược. Ở trạng
thái xác lập, các thiristor mở những góc như nhau và không đổi, trong đó T
1
, T
3
,
T
5
thông ở nữa chu kỳ dương, còn T
2
, T
4
, T
6
thông nữa chu kỳ âm của điện áp
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 15/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
lưới. Điện áp đặt vào stator của động cơ U
b
(tức điện áp ra của bộ biến đổi). Sẽ
là những phần của đường hình sin:
tUU
m
Ω= sin
1
như trình bày trên hình (3-7)
Hình 3-7. Đồ thị điện áp pha ở đầu ra của bộ điều chỉnh thiristor.
Giả thiết đường cong trên hình (3-7) là đồ thị điện áp pha A đưa vào
mà còn phụ thuộc góc pha
ϕ
của động cơ.
b). Đặc tính cơ:
Đặc tính điều chỉnh của hệ dùng bộ điều chỉnh thiristor có dạng như sau:
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 16/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Hình 3-8. Các đặc tính điều chỉnh của hệ truyền động KĐB khi dùng bộ
điều chỉnh thiristor
c). Nhận xét:
Ưu điểm của hệ này là nhờ sử dụng thiristor nên có khả năng tự động
hóa để làm tăng độ cứng đặc tính cơ. Về chỉ tiêu năng lượng, tuy nhiên tổn thất
trong bộ biến đổi không đáng kể nhưng điện áp stator bị biến dạng so với hình
sin nên tổn thất phụ trong động cơ lại lớn. Do đó hiệu suất cao.
IV. Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi tần số.
1. Vấn đề thay đổi tần số của điện áp stator.
Xuất phát từ biểu thức
)1(
2
)1(
1
0
s
p
f
s −=−=
π
ωω
=const thì
Φ
sẽ thay đổi
theo.
Khi giảm f
1
<f
1dm
để điều chỉnh tốc độ
đm
ωω
<
mà giữ
constfCEU =Φ≈≈
111
thì theo (1-10), từ thông
Φ
tăng lên, mạch từ động cơ sẽ bị bảo hòa, điện
kháng mạch từ giảm xuống và dòng từ hóa sẽ tăng lên làm cho động cơ quá tải
về từ, làm phát nóng động cơ, giảm tuổi thọ của động cơ, thậm chí nếu nóng quá
nhiệt độ cho phép của động cơ thì động cơ có thể bị cháy.
Còn khi tăng f
1
>f
1dm
nếu giữ
constfCEU =Φ≈≈
111
và phụ tải M
c
có khả năng sinh momen như nhau ở mọi tần số định mức. Có thể điều chỉnh tốc
độ ở hai vùng:
Vùng dưới tốc độ cơ bản: Giữ từ thông không đổi thông qua điều khiển tỷ
số sức điện động khe hở/tần số là hằng số.
Vùng trên tốc độ cơ bản: Giữ công suất động cơ không đổi, điện áp được
duy trì không đổi, từ thông động cơ giảm theo tốc độ.
* Khả năng quá tải:
Để đảm bảo một số chỉ tiêu điều chỉnh mà không làm động cơ bị quá
dòng thì cần phải điều chỉnh cả điện áp. Đối với hệ thống biến tần nguồn áp
thường có yêu cầu giữ cho khả năng quá tải về momen là không đổi trong suốt
dải điều chỉnh tốc độ. Momen cực đại mà động cơ sinh ra được chính là momen
tới hạn M
th
, khả năng quá tải về momen được quy định bằng hệ số quá tải
momen
)/( constMM
thmm
==
λλ
.
Nếu bỏ qua điện trở dây quấn stator thì có thể tính được momen tới hạn:
2
0
2
0
2
2
2
2
M
M
==
λ
Từ trên ta suy ra:
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 18/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
đmdm
M
MUsU
.
00
ωω
=
Dạng đặc tính cơ thống kê của các máy sản xuất có thể viết gần đúng:
2
1
0
0
x
dm
cdmc
MM
+
=
=
ω
ω
b). Luật điều chỉnh từ thông:
Từ các quan hệ tính momen có thể kết luận rằng nếu giữ từ thông
Ψ
của
máy hoặc từ thông
s
Ψ
của stator không đổi thì momen sẽ không phụ thuộc vào
tần số, và momen tới hạn sẽ không đổi trong toàn bộ dải điều chỉnh.
Nếu coi R3=0 thì
s
Ψ
=U
s
Ψ
=
Trong đó:
rrr
RLT /
σσ
=
.
Vậy khi giữ biên độ từ thông không đổi thì vector từ thông rotor luôn
vuông pha với vector dòng điện rotor và do đó momen điện từ thông hoàn toàn
tỉ lệ với biên độ dòng điện rotor.
Trong chế độ định mức, từ thông là định mức và mạch từ có công suất tối
đa. Luật điều chỉnh tần số-điện áp là luật giữ gần đúng từ thông không đổi trên
toàn dải điều chỉnh. Tuy nhiên từ thông động cơ, trên mỗi đặc tính, còn phụ
thuộc rất nhiều vào độ trượt, tức là phụ thuộc momen tải trên trục động cơ. Vì
thế trong các hệ điều chỉnh yêu cầu chất lượng cao cần tìm cách bù từ thông.
Do
2
1
)(1
r
m
r
s
T
L
I
ω
+
Ψ
nguồn dòng có ưu điểm là tăng được công suất đơn vị máy, mạch lực đơn giản
mà vẫn thực hiện hãm tái sinh động cơ. Nguồn điện một chiều cấp cho nghịch
lưu phải là nguồn dòng điện, tức là dòng điện không phụ thuộc vào tải mà chỉ
phụ thuộc vào tín hiệu điều khiển. Để tạo nguồn điện một chiều thường dùng
chỉnh lưu điều khiển có cấu trúc tỷ lệ - tích phân (PI), mạch lọc là điện kháng
tuyến tính có trị số điện cảm đủ lớn.
- Điều chỉnh tần số - dòng điện.
Việc điều chỉnh từ thông trong hệ thống biến tần nguồn dòng được thực
hiện tương tự như hệ thống biến tần nguồn áp.
- Điều chỉnh vector dòng điện.
Tương tự như hệ thống biến tần nguồn áp ở hệ thống biến tần nguồn
dòng cũng có thể thực hiện điều chỉnh từ thông bằng cách điều chỉnh vị trí
vector dòng điện không gian. Điều khác biệt là trong hệ thống biến tần nguồn
dòng điện là liên tục và việc chuyển mạch của các van phụ thuộc lẫn nhau.
e). Điều khiển trực tiếp moment.
Ra đời năm 1997, thực hiện được đáp ứng nhanh. Vì
r
ψ
có quán tính cơ
nên không biến đổi nhanh được, do đó ta chú trọng thay đổi
s
ψ
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 20/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Không thay đổi
r
ψ
. Phương pháp này không điều khiển theo quá trình
mà theo điểm làm việc. Nó khắc phục nhược điểm của điều khiển định hướng
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Trên hình 3-12d, khi phụ tải M
c
= const (q=2) thì điều chỉnh tần số và điện
áp stator theo quy luật:
2
1
1
f
U
=const
Trên hình 3-12a, khi phụ tải M
c
=const (q=-1) thì điều chỉnh tần số và điện
áp stator theo quy luật:
2
1
1
1
f
U
=const
Trên hình 3-12b, khi phụ tải M
c
=const (q=o) thì điều chỉnh tần số và điện
áp stator theo quy luật:
1
1
f
.
Sơ đồ nguyên lý bộ biến tần trực tiếp dùng thyristor.
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 22/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
Hình 4-5 Bộ biến tần trực tiếp dùng thyristor.
Khi điều khiển theo nhóm thì mỗi nhóm được mở trong nữa chu kỳ điện
áp đầu ra. Xét sự làm việc pha a theo đồ thị sau.
Hình 4-6 Đồ thị điện áp một pha của biến tần trực tiếp.
Trong khoảng thời gian t
1
: Nhóm T
1
mở, còn trong khoảng t
2
thì nhóm N
4
mở. Các thyristor trong cùng một nhóm chuyển mạch cho nhau nhờ điện áp lưới
(chuyển mạch tự nhiên). Mỗi thyristor mở 1/3 chu kỳ của điện áp lưới. Thay đổi
số thyristor mở trong mỗi nhóm ta sẽ thay đổi được thời gian của chu kỳ điện áp
đầu ra T
2
=t
1
+t
2
do đó thay đổi được tần số đầu ra của biến tần.
Từ đồ thị ta tìm được mối quan hệ giữa tần số lưới và tần số ra:
22
2
thứ tự T
1
-N
2
-T
3
-N
4
-T
5
-N
6
-T
1
mỗi nhóm cho mở 1/3 chu kỳ của điện áp ra. Nếu
điện áp ra được lọc phẳng hoàn toàn thì bằng cách điều khiển như trên ta được
đồ thị điện áp ra ở ba pha như trên hình 3-16 (Hệ thống điện áp ba pha ở đầu ra
bộ biến tần trực tiếp).
Hình 4-7 Hệ thống điện áp ba pha ở đầu ra của bộ biến tần trực tiếp.
Để có thể điều chỉnh tinh tần số ra và tạo được điện áp có dạng gần hình
sin hơn, ta áp dụng phương pháp điều khiển góc mở thyristor
θ
cần thiết cho các
thyristor ở mỗi pha của điện áp đầu ra và kết quả ta được đồ thị điện áp ra một
pha đầu ra như hình vẽ sau thành phần sóng điều hòa bậc nhất (theo tần số w
r
của điện áp này là đường đứt).
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 24/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN
ĐỒ ÁN KỸ THUẬT ĐIỆN
hằng số thành nguồn điện xoay chiều có Vr, f
r
biến đổi qua khâu trung gian một
chiều. Tần số đầu ra được xác định bởi nhịp đóng mở của các thiết bị nghịch
lưu.
Thiết bị biến tần gián tiếp gồm ba khây cơ bản:
Khâu chỉnh lưu: Biến đổi nguồn xoay chiều sang một chiều.
Bộ lọc: Để giảm bớt độ nhấp nhô của áp và dòng ở đầu ra của bộ chỉnh
lưu.
Khâu nghịch lưu: Biến đổi điện áp một chiều để đặt vào động cơ.
Thiết bị nghịch lưu có thể là thyristor hoặc transistor công suất.
GVHD: NGUYỄN HÀO NHÁN 25/50 SVTH: PHẠM BÁ THIỆN