ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT CƠ LÝ ĐẤT ĐÁ VÀ THÔNG SỐ PVT CỦA GIẾNG KHOAN 05-2-HT-2X BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN - Pdf 20

Lời mở đầu
Lời mở đầu
Trong thế kỷ XXI, khoa học kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ. Thừa hưởng từ
những thành quả khoa học kỹ thuật tiên tiến, ngành công nghiệp dầu khí cũng đã có
những bước phát triển vượt bậc. Công nghiệp dầu khí Việt Nam cũng không đứng ngoài
cuộc. Mặc dù còn non trẻ nhưng nền công nghiệp dầu khí Việt Nam đang nhanh chóng
tiếp cận với mặt bằng chung của thế giới.
Trong công nghiệp khai thác dầu khí nói chung, giai đoạn thăm dò, đánh giá thẩm
lượng đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định khai thác cũng như đưa ra giải
pháp hữu hiệu nhằm khai thác một cách tối ưu. Việc đánh giá được dựa trên nhiều yếu
tố, trong đó yếu tố về tính chất cơ lý đất đá (độ rỗng, độ thấm, độ bão hòa,…) và các
thông số PVT đóng vai trò then chốt. Từ tầm quan trọng trên, đề tài “ĐÁNH GIÁ TÍNH
CHẤT CƠ LÝ ĐẤT ĐÁ VÀ THÔNG SỐ PVT CỦA GIẾNG KHOAN 05-2-HT-2X
BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN” đã được thực hiện. Đề tài này được thực hiện nhằm
bước đầu tiếp cận với số liệu thực tế và có được kinh nghiệm về cách phân tích số liệu.
Đồng thời, đề tài cũng đi vào phân tích các số liệu thực tế từ giếng 05-2-HT-2X Bồn
Trũng Nam Côn Sơn nhằm cung cấp số liệu tra cứu.
Các số liệu thực tế được tham khảo từ các kết quả đo đạc thăm dò của công ty BP
giếng 05-2-HT-2X Nam Côn Sơn.
Nội dung đề tài gồm bốn phần chính:
• Chương một, đề tài trình bày vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu thăm dò khai thác
vùng trũng Nam Côn Sơn.
• Chương hai đi vào trình bày đặc điểm địa chất Nam Côn Sơn như địa tầng kiến
tạo, cấu trúc hình thái bể, các tích tụ Hydrocarbon và hệ thống dầu khí.
• Chương ba giới thiệu về tính chất cơ lý và thông số PVT của vỉa.
• Chương bốn đánh giá chất cơ lý đất đá và thông số PVT của giếng khoan 05-2-
HT-2X bồn trũng Nam Côn Sơn.
Khóa luận tốt nghiệp i
Mục lục
Mục Lục
Đặc điểm địa lý tự nhiên và Lịch sử nghiên cứu thăm dò – khai thác dầu khí bồn

Hình 4.21 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu 82...................57
Hình 4.22 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu 91...................58
Hình 4.23 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu 100.................59
Hình 4.24 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu 105.................60
Hình 4.25 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu lõi 1................61
Khóa luận tốt nghiệp iii
Phụ lục hình
Hình 4.26 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu lõi 2&3..........62
Hình 4.27 Tương quan chỉ số điện trở suất và độ bão hòa nước, mẫu lõi 1 và 2&3...63
Khóa luận tốt nghiệp iv
Chương 1: Đặc điểm địa lý – Địa chất chung vùng trũng Nam Côn Sơn
Đặc điểm địa lý tự nhiên và Lịch sử nghiên cứu thăm dò – khai thác dầu
khí bồn trũng Nam Côn Sơn
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
Bể Nam Côn Sơn có diện tích gần 100.000km
2
, nằm trong khoảng giữa 6
o
00’ đến
9
o
45’ vĩ độ Bắc và 106
o
00’ đến 109
o
00’ kinh độ Đông.. Độ sâu nước biển trong phạm vi
của bể thay đổi rất lớn, từ vài chục mét ở phía Tây đến hơn 1.000m ở phía Đông. Trên
địa hình đáy biển các tích tụ hiện tại được thành tạo chủ yếu do tác động của dòng chảy
thủy triều cũng như dòng đối lưu, mà hướng và tốc độ của chúng phụ thuộc vào hai hệ
gió mùa chính: hệ gió mùa Tây Nam từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 9 và hệ gió mùa

Himalaya được đặc trưng bởi quá trình nén ép ở tây bắc và căng giãn ở tây nam, tạo nên
các cấu trúc toả tia, kéo tách. Trường kiến tạo Biển Đông được đặc trưng bởi quá trình
tách giãn theo phương đông bắc - tây nam. Bể Nam Côn Sơn hình thành và phát triển
trên móng của địa khối Inđosini, bị chi phối bởi hai trường kiến tạo nêu trên đã tạo nên
các cấu trúc bậc cao khác nhau, vừa bị phân cắt dọc và phân cắt ngang.
Hình 1.1: Vị trí bể Nam Côn Sơn trên thềm lục địa Việt Nam
Đới nâng Côn Sơn là một phức nếp lồi phát triển kéo dài theo phương đông bắc. Ở
phía tây nam, đới nâng này gắn liền với đới nâng Khorat-Natuna, nhô cao và lộ ra ở đảo
Côn Sơn. Đới nâng này chủ yếu cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào thuộc đai
pluton rìa lục địa Đông Á có tuổi Mesozoi muộn. Cần lưu ý rằng, đới nâng Khorat-
Natuna là một bộ phận của lục địa Sunda cổ, kéo dài theo phương tây bắc - đông nam từ
Thái Lan qua tây nam Việt Nam và xuống đến đảo Sunda của Inđonesia. Đới nâng Phan
Rang là một bộ phận của địa khối Inđosini bị sụt lún theo quá trình sụt lún của thềm lục
địa Việt Nam. Đới này được cấu tạo chủ yếu bởi các đá xâm nhập, phun trào, trầm tích
Khóa luận tốt nghiệp - 2 -
Chương 1: Đặc điểm địa lý – Địa chất chung vùng trũng Nam Côn Sơn
phun trào có tuổi Mesozoi giữa-muộn. Như vậy, miền vỏ chuyển tiếp ở đây thực chất là
miền vỏ lục địa bị thoái hoá và nhấn chìm trong Kainozoi.
1.2. Lịch sử nghiên cứu thăm dò – khai thác dầu khí bồn trũng Nam Côn Sơn
Dựa vào tính chất, đặc điểm và kết quả công tác của từng thời kỳ, lịch sử thăm dò và
nghiên cứu địa chất – địa vật lý ở đây được chia làm 4 giai đoạn :
1.2.1. Từ năm 1975 trở về trước
Công tác khảo sát khu vực và tìm kiếm dầu khí được nhiều công ty, nhà thầu triển
khai trên toàn thềm lục địa phía Nam nói chung và toàn thể Nam Côn Sơn nói riêng. Các
dạng công tác này do các công ty thăm dò Mỹ và Anh thực hiện như Mandrell , Mobil
Kaiyo, Pecten, Esso, Union Texas, Sun Marathon, Sunning Dale. Các nhà thầu đã thu nổ
hàng nghìn km địa chấn 2D với mạng lưới tuyến 4x4km và 8x8km.
Với mức độ nghiên cứu đó và dựa trên tài liệu nhận được, các công ty kể trên đã tiến
hành minh giải tài liệu địa chấn xây dựng được 1 số bản đồ đẳng thời tỉ lệ 1:100000 cho
các lô riêng và tỉ lệ 1:50000 cho một số cấu tạo triển vọng. Song do mật độ khảo sát còn

cho các lô và một số cấu tạo phục vụ sản xuất. Dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Ngô
Thường Sang đã hoàn thành một số phương án công tác địa vật lý và khoan tìm kiếm
đặc biệt đã hoàn thành báo cáo “Tổng hợp cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm
lục địa Nam Việt Nam” đề cập đến nhiều vấn đề lịch sử phát triển địa chất toàn vùng
nói chung và bể Nam Côn Sơn nói riêng, đồng thời cũng nêu lên một số cơ sở địa chất
để đánh giá triển vọng dầu khí toàn vùng nghiên cứu.
Song do những điều kiện khách quan, bức tranh chi tiết về cấu trúc địa chất trong giai
đoạn này vẫn chưa được sáng tỏ.
1.2.3. Giai đoạn 1981-1987
Sự ra đời của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetrol (VSP) là kết quả của hiệp định về
hữu nghị hợp tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam giữa Liên Xô
và Việt Nam vào năm 1981 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của ngành công
nghiệp dầu khí Việt Nam. Song cũng cần phải nói rằng vì những lý do khác nhau, công
tác địa chất, địa vật lý chủ yếu được đầu tư vào bể Cửu Long. Còn đối với bể Nam Côn
Sơn chỉ có một số diện tích nhất định được quan tâm, trong đó có khu vực cấu tạo Đại
Hùng (VSP đã tiến hành khoan ba giếng)
Trong giai đoạn này đã có một số báo cáo tổng hợp địa chất địa vật lý được hoản
thành như “phân vùng kiến tạo các vùng trũng Kainozoi thềm lục địa Việt Nam” của tác
giả Lê Trọng Cán và nnk. năm 1985, và báo cáo: “tổng hợp địa chất địa vật lý, tính trữ
lượng dự báo Hydrocacbon và vạch phương hướng công tác tìm kiếm dầu khí trong giai
Khóa luận tốt nghiệp - 4 -
Chương 1: Đặc điểm địa lý – Địa chất chung vùng trũng Nam Côn Sơn
đoạn tiếp theo ở thềm lục địa Nam Việt Nam” của Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông 1986 và
luận án tiến sĩ khoa học địa chất khoáng vật của Nguyễn Giao: “cấu trúc địa chất và
triển vọng dầu khí của các bể trầm tích đệ tam vùng biển đông Việt Nam 1987.
1.2.4. Giai đoạn 1988 đến nay
Sau khi nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài, 20 nhà thầu đã ký các hợp đồng
triển khai công tác tìm kiếm thăm dò ở bể Nam Côn Sơn. Các nhà thầu đã tiến hành
khảo sát 54.997 km địa chấn 2D và 5399 km
2

Hệ tầng Cau (E
3
c)
Hệ tầng Cau có thể xem tương đương với hệ tầng Bawah, Keras và Gabus (Agip
1980) thuộc bể Đông Natuna (ở phía Nam của bể Nam Côn Sơn).
Hệ tầng Cau vắng mặt trên phần lớn các đới nâng: nâng Mãng Cầu, nâng Dừa, phần
Tây lô 04, phần lớn lô 10,11-1,28,29 và một số diện tích ở phần Tây, Tây Nam của bể.
Trầm tích của hệ tầng Cau bao gồm chủ yếu các lớp cát kết có màu xám xen các lớp sét
bột kết màu nâu. Cát kết thạch anh hạt khô đến mịn, độ lựa chọn kém, xi măng sét,
carbonate. Chiều dày trung bình khoản 360m.
Đặc điểm trầm tích nêu trên chứng tỏ hệ tầng Cau được hình thành trong giai đoạn
đầu tạo bể.
Khóa luận tốt nghiệp - 6 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
Hinh 2. 1 Cột địa tầng tổng hợp bể Nam Côn Sơn
Khóa luận tốt nghiệp - 7 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
Neogene
Oligocene dưới
Hệ tầng Dừa (N
1
1
d)
Hệ tầng Dừa phân bố rộng rãi trong bể Nam Côn Sơn ba gồm chủ yếu cát kết, bột kết
màu xám sáng, xám lục xen kẽ với sát kết màu xám, xám đỏ, xám xanh; các lớp sét
chứa vôi giàu vật chất hữu cơ có nơi chứa sét than hoặc các lớp than mỏng. Đôi khi có
những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều hạt vụn hoặc đá vôi màu trắng xen kẽ trong hệ tầng.
Tỉ lệ cát/sét trong toàn bộ mặt cắt gần tương đương nhau, tuy nhiên về phía Đông của bể
thành phần hạt mịn tăng dần và ngược lại, ở phần rìa Tây tỉ lệ cát kết tăng do gần nguồn
cung cấp vật liệu.

2
– Q bđ)
Hệ tầng Biển Đông không chỉ phân bố trong Nam Côn Sơn mà trong toàn khu vực
Biển Đông liên quan đến đợt biển tiến Pliocene.
Trầm tích Pliocene gồm cát kết màu xám, vàng nhạt và bột kết xen lẫn với sét kết
nhiều vôi chứa nhiều glauconit và rất nhiều hoá thạch trùng lỗ, gắn kết yếu hoặc bở rời.
Tuổi Pliocene được xác định dựa vào Foramimifera đới N19 – N21, tảo carbonate đới
NN12 – NN18 và bào tử phấn hoa đới Dacrydium, hệ tầng tương đương với tầng Muda
của Agip (1980).
Trầm tích Đệ Tứ bao gồm cát gắn kết yếu, xen kẽ với sét và bùn chứa nhiều di tích
sinh vật biển. Tuổi Đệ Tứ được xác định dựa vào Foram đới NN22-N23, tảo carbonate
NN19 –NN21 và bào tử phẩn hoa đới Phyllocladus.
Sự hình thành trầm tích của hệ tầng Biển Đông liên quan tới gian đoạn biển tiến
Pliocene, trong môi trường biển nông ven bờ, biển nông đến biển sâu.
Hệ tầng Biển Đông có bề dày trầm tích thay đổi rất lớn từ vài trăm mét đến vài nghìn
mét, nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Nam Côn Sơn.
1.2. Đặc điểm kiến tạo
Bể Nam Côn Sơn phát triển chồng trên các cấu trúc của nền Indochina bị hoạt hóa
mạnh mẽ trong Phanerozoi và hoạt hóa magma kiến tạo trong Mesozoi muộn. Cộng ứng
với quá trình này ở phía Đông nền Indochina – Vùng biển rìa Đông Việt Nam xảy ra
quá trình giãn đáy biển rìa vào Oligocene với trục tách giãn phát triển theo phương đông
bắc-tây nam. Quá trình tách, giãn đáy Biển Đông đã đẩy rời xa hai khối vi lục địa
Hoàng Sa, Trường Sa và kiến sinh phá huỷ (Taphrogeny) trên cùng thềm lục địa phía
Nam, từ đó phát triển các trầm tích Kainozoi tương ứng. Đới Nam Côn Sơn với hai đới
trũng sâu: trũng Bắc và trũng Trung Tâm có hướng trục sụt lún cùng hướng trục giãn
đáy Biển Đông và nằm phù hợp trực tiếp trên phương kéo dài của trục giãn đáy Biển
Đông là bằng chứng của sự ảnh hưởng này.
Khóa luận tốt nghiệp - 9 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
Bể Nam Côn Sơn là bể không được khép kín, nói chỉ được giới hạn về phía Bắc bởi

tích. Trong các bản đồ về bề mặt bất chỉnh hợp đã được thành lập theo các tài liệu địa
vật lý thì bề mặt móng thể hiện mức độ phân dị rõ rệt nhất.
1[]
Trong quyển “Địa chất và Tài nguyên dầu khí Việt Nam” của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Nguyễn
Hiệp chủ biên, Nxb. KH&KT, 2007, Nguyễn Giao và Nguyễn Trọng Tín có bài “Bể trầm tích Nam Côn Sơn và
tài nguyên dầu khí”: 317-361 mà bạn đọc có thể tham khảo thêm (BBT).
Khóa luận tốt nghiệp - 10 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
Hình 2.2: Các cấu trúc hình thái bể Nam Côn Sơn
Sự phân dị địa hình của địa hình móng liên quan chặt chẽ với địa động lực của khu
vực trong Kainozoi. Tiêu chí cấu trúc ở đây được dựa trên không những cấu trúc móng
mà còn dựa vào cấu trúc của các lớp phủ Kainozoi, độ dày và đặc điểm biến dạng của
chúng. Tên gọi của các kiểu cấu trúc hình thái có thể gắn với địa danh hoặc vị trí khu
vực. Ranh giới của các kiểu cấu trúc hình thái thường trùng với ranh giới của các hệ
thống đứt gãy, mà sự thể hiện của chúng trên địa hình bề mặt móng là những vách dốc
đứng, có sự thay đổi độ sâu rất nhanh. Dựa trên những tiêu chí trên, các cấu trúc hình
thái của bể Nam Côn Sơn có thể được phân chia như sau (Hình 2 .2)
1.3.1. Cấu trúc nâng địa luỹ Đại Hùng
Đây là cấu trúc hình thái nằm ở đông bắc của bể, kéo dài theo phương đông bắc - tây
nam, được ngăn cách bởi khối nâng Côn Sơn ở phía đông bắc bằng một đới sụt sâu đến
6000-8000 m. Đới sụt này chính là biểu hiện trực tiếp của đứt gãy tây bắc Đại Hùng.
Càng đi về phía nam, đứt gãy này có xu hướng chạy theo phương á vĩ tuyến, làm cho
địa lũy càng được mở rộng. Cánh đông nam của cấu trúc hình thái cũng được giới hạn
bởi hệ thống đứt gãy chạy theo phương đông bắc - tây nam, thể hiện trên địa hình là một
Khóa luận tốt nghiệp - 11 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
vách dốc từ độ sâu 10.000 đến 13.000 m. Hai hệ thống đứt gãy này đã làm cho địa luỹ
có hình thái bất đối xứng. Cấu trúc hình thái được bắt đầu từ cấu tạo nâng địa phương ở
đông bắc của vùng, nơi đặt giếng khoan 4B-1X. Tại đây móng nhô cao đến độ sâu 2000
m. Đi về phía đông nam, móng tiếp tục lún chìm đến độ sâu 3000 m (ở giếng khoan

Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
trúc này được giới hạn bởi hệ thống đứt gãy Hồng, tạo thành vách dốc đứng với độ sâu
của móng ở vị trí từ 1000 m bị sụt đến trên 6000 m. Phía bắc của cấu trúc hình thái bị
giới hạn bởi đứt gãy chạy theo phương vĩ tuyến, ngăn cách với cấu trúc hình thái nâng
Tây Bắc. Đứt gãy này nằm ở phía nam của giếng khoan 12C-1X. Tính nâng dạng bậc
của cấu trúc hình thái được thể hiện rõ nét trên độ sâu hiện tại của bề mặt móng. Phần
nhô cao nhất của móng đến độ sâu 1000 m nằm trên cấu tạo Hồng (tại vị trí giếng khoan
Hồng-1X). Từ đây móng hạ thấp dần về phía tây bắc trên những độ sâu khác nhau. Có
thể ghi nhận ba bậc của móng ở các độ sâu 3000-3200 m; 3800-4200 m và 6000 m. Các
bậc này đều liên quan chặt chẽ đến các cánh sụt của hệ thống đứt gãy chạy theo phương
đông bắc - tây nam. Từ đây có thể suy đoán được cự ly dịch trượt thẳng đứng của chúng
đạt tới hàng vài trăm m. Trên địa hình mặt móng các bậc này tạo thành những trũng bất
đối xứng song song, kéo dài. Các trũng có độ sâu lớn thường nằm ở phía tây bắc.
1.3.4. Cấu trúc nâng dạng khối Đông nam
Cấu trúc hình thái nâng dạng khối phân bố ở đông nam bể, trên phạm vi lô 06; 06-1,
bị giới hạn ở phía tây bởi đứt gãy Dừa, phía bắc là đứt gãy chạy theo phương vĩ tuyến,
gần trùng với vĩ độ 7
o
50’. Tại đây, địa hình móng được nâng cao nhất tới độ sâu 3400 m
ở giếng khoan 06-D-1X. Khác với các cấu trúc hình thái đã nêu trên, cấu trúc này có đặc
trưng là bị chia cắt thành từng khối bởi các hệ thống đứt gãy chạy theo phương á kinh
tuyến và á vĩ tuyến. Kích thước của mỗi khối đạt khoảng hàng chục kilomet vuông. Khu
vực tây bắc bị sụt lún mạnh nhất và chuyển tiếp dần xuống võng Trung tâm. Nhìn chung
trên toàn bộ bể, cấu trúc hình thái này bị chia cắt, phá huỷ mạnh nhất. Phía tây của cấu
trúc là khối nâng Dừa, nơi có móng nhô cao đến độ sâu 4200 m. Khối nâng này có diện
tích khoảng 400 km
2
nâng lên như là một cấu tạo độc lập.
1.3.5. Cấu trúc nâng phân dị Tây-Tây bắc
Cấu trúc hình thái này nằm ở phía tây và tây bắc của bể, trên các lô 27, 28, 29 và nửa

thể được chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn trước tách giãn (Paleocene - Eocene),
giai đoạn đồng tách giãn (Oligocene), giai đoạn sau tách giãn (Miocene sớm (?) – Đệ
Tứ).
1.4.1. Giai đoạn trước tạo Rift (Paleocene – Eocene)
Trong giai đoạn này chế độ kiến tạo toàn khu vực nhìn chung bình ổn, xảy ra quá
trình bào mòn và san bằng địa hình cổ, tuy nhiên một đôi nơi vẫn có thể tồn tại những
trũng giữa núi. Ở phần trung tâm của bể có khả năng tồn tại các thành tạo molas, vụn
núi lửa và các đá núi lửa có tuổi Eocene như đã bắt gặp trên lục địa.
1.4.2. Giai đoạn đồng tạo Rift (Oligocene)
Do đặc điểm cấu trúc địa chất phức tạp nên còn tồn tại những quan điểm khác nhau
về giai đoạn tạo rift của bể Nam Côn Sơn.
Khóa luận tốt nghiệp - 14 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
Đây là giai đoạn chính thành tạo bể gắn liền với giãn đáy Biển Đông. Sự mở rộng
của Biển Đông về phía Đông cùng với hoạt động tích cực của hệ thống đứt gãy Đông
Bắc – Tây Nam đã làm xuất hiện địa hào Trung Tâm của bể kéo dài theo hướng đông
bắc – tây nam và dọc theo các đứt gãy này đã có phun trào hoạt động. Các thành tạo
trầm tích Oligocene gồm các trầm tích vụn chủ yếu thành tạo trong các môi trường đầm
hồ và đới nước lợ ven bờ (brackish littoral zone) với các tập sét kết, bột kết dày xen kẽ
cát kết hạt mịn và môi trường đồng bằng châu thổ thấp (lower delta plain) gồm các kết
hạt mịn, bột kết, sét kết với các lớp than mỏng. Pha kiến tạo vào cuối Oligocene đã
chấm dứt giai đoạn này và làm thay đổi bình đồ cấu trúc của bể, hình thành bất chỉnh
hợp khu vực cuối Oligocene – đầu Miocene.
1.4.3. Giai đoạn sau tạo Rift (Miocene sớm-Đệ Tứ)
Do ảnh hưởng của sự giãn đáy và tiếp tục mở rộng Biển Đông, đồng thời kèm theo
sự nâng cao mực nước biển đã gây nên hiện tượng biển tiến, diện tích trầm đọng được
mở rộng đã hình thành hệ tầng Dừa (N
1
1
-d) và hệ tầng Thông-Mãng Cầu (N

Cát kết tuổi Oligocene ( các cấu Dừa, Hải Thạch, Thanh Long…)
Cát kết tuổi Miocene (các mỏ Đại Hùng, Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây…)
Carbonate tuổi Miocene (các mỏ Lan Tây, Lan Đỏ, Đại Hùng…)
Cát kết tuổi Pliocene ( mỏ Hải Thạch, các cấu tạo Mộc Tinh, Thanh Long)
Tương ứng với các dạng bẫy trong bồn Nam Côn Sơn chủ yếu sau:
Bẫy cấu trúc gồm những nếp oằn cuốn, những khối đứt gãy nghiêng kéo dài.
Bẫy trong khối đá móng nhô cao do bị phong hóa nứt nẻ.
Bẫy ám tiêu được hình thành trong các thành tạo carbonate, chúng nằm chủ yếu ở
tầng Miocene trung và Miocene thượng.
Bẫy địa tầng, có dạng vát nhọn trên cánh đới nâng. Các đá chứa này gồm cát kết
thạch anh xen lẫn các mảnh vụn calcite và chúng nằm trong tầng trầm tích lục nghuyên
Oligocene và Miocene.
Ở bể Nam Côn Sơn, chiều sâu của vỉa dầu khí trong trầm tích Đệ Tam đạt tới gần
4600m (GK 05-1B-TL-2X) là chiều sâu lớn nhất phát hiện dầu khí trên thềm lục địa
Việt Nam hiện nay.
1.6. Hệ thống dầu khí – Đặc điểm các tầng Sinh Chứa Chắn
1.6.1. Đá sinh
Tầng sinh cho tất cả tập hợp triển vọng ở bể Nam Côn Sơn đã được phát triển cho
đến nay chủ yếu là đá mẹ có tuổi Oligocene phân bố trong các địa hào và trầm tích
Miocene sớm phân bố rộng rãi trong bể. Để đánh giá tiềm năng sinh dầu, khí sẽ nghiên
cứu các vấn đề sau:
• Tiềm năng hữu cơ.
• Môi trường lắng đọng và phân hủy vật chất hữu cơ.
• Dạng kerogen.
Khóa luận tốt nghiệp - 16 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
• Quá trình trưởng thành vật chất hữu cơ.
• Đặc điểm hydrocarbon.
1.6.1.a. Tiềm năng hữu cơ
Trầm tích Oligoxen

(TOC > 5%wt). Ở một số giếng khoan trong các lô 10, 11, 04 và 05-1 các mẫu sét than
rất giàu vật chất hữu cơ và có khả năng sinh hydrocarbon tốt đến rất tốt nhưng thành
phần maceral chủ yếu là vitrinit và inertrinit, còn tổ phần liptinit thường thấp 10%, điều
này cho thấy đá mẹ khả năng sinh khí cao. Ở lô 12E tại giếng khoan 12C-1X có hàm
lượng TOC đạt tới 0,84%wt và S2 đạt 18,55mg/g ở độ sâu 2.350 ÷ 2.510m trong tập sét
màu xám thuộc loại đá mẹ trung bình và tốt.
1.6.1.b. Môi trường lắng đọng và phân hủy vật chất hữu cơ.
Căn cứ vào các tỷ số Pr/nC17 và Ph/nC18, cũng như mối tương quan giữa các tỷ số
đó cho thấy vật chất hữu cơ trong các mẫu trầm tích Miocene dưới được lắng đọng chủ
yếu trong môi trường lục địa, đầm lầy và hỗn hợp (ở các lô 03, 05, 06 và 12). Quá trình
phân hủy vật chất hữu cơ xảy ra chủ yếu trong điều kiện oxy hóa và oxy hóa khử. Môi
trường phân hủy vật chất hữu cơ của đá mẹ Oligocene mang tính khử cao hơn trong đá
mẹ Miocene dưới.
1.6.1.c. Dạng Kerogen.
Mối quan hệ giữa hai chỉ số HI và Tmax cho thấy dạng đá mẹ Oligocene và Miocene
ở bể Nam Côn Sơn có nguồn gốc vật chất hữu cơ loại III là chủ yếu và một ít loại II.
Điều này phù hợp với các nhận định ở trên là vật chất hữu cơ được lắng đọng trong môi
trường lục địa.
Tóm lại, trầm tích có tuổi Miocene sớm và Oligocene có khả năng sinh dầu khí, đá
mẹ thuộc loại trung bình đến tốt. Đặc biệt thành tạo sét than tuổi Oligocene thuộc loại
đá mẹ giàu vật chất hữu cơ. Với dạng kerogen loại III là chủ yếu, lại lắng đọng trong
môi trường lục địa, đá mẹ ở bể trầm tích Nam Côn Sơn có tiềm năng sinh khí condensat
cao. Mặc dù môi trường phân hủy vật chất hữu cơ là thuận lợi: khử yếu và khử.
Đá mẹ bể trầm tích Nam Côn Sơn đã trải qua các pha tạo dầu khí, quá trình di cư sản
phẩm tới các bẫy chứa thuận lợi đã xảy ra.
1.6.2. Đá chứa
Nghiên cứu đá chứa và khả năng chứa dựa trên các chỉ tiêu sau:
Thành phần thạch học, tướng đá và môi trường thành tạo.
Mức độ biến đổi thứ sinh, dạng khe nứt, lỗ hổng.
Độ rỗng, độ thấm.

sinh phát triển do carbonate tái kết tinh. Kiểu tiếp xúc nguyên sinh giữa các hạt chỉ đạt
Khóa luận tốt nghiệp - 19 -
Chương 2: Đặc điểm địa chất bồn trũng Nam Côn Sơn
30÷40%, nhường chỗ cho kiểu tiếp xúc thứ sinh (35÷55%). Hệ số chặt sít giảm xuống
còn 0,50÷0,75, chủ yếu là khe hổng giữa các hạt.
Trầm tích Miocene giữa được thành tạo chủ yếu trong điều kiện thềm nông, riêng
phía Tây, Tây Nam gặp trầm tích sườn delta. Nét nổi bật là trầm tích Miocene giữa có
bề dày từ 300÷500m phổ biến trong toàn vùng.
Tương tự trầm tích Miocene dưới, trầm tích Miocene giữa cũng biến đổi ở mức trung
bình. Cát bột kết gắn kết bởi ximăng sét và calcit tái kết tinh. Kiểu tiếp xúc thứ sinh từ
35÷45%, hệ số chặt sít dao động từ 0,5÷0,75. Độ rỗng thứ sinh phát triển do carbonate
tái kết tinh.
Trầm tích Miocene trên được thành tạo chủ yếu trong điều kiện biển nông trong –
ngoài, trừ phần Tây, Tây Nam vẫn còn tiếp tục phát triển trầm tích ven bờ, sườn delta,
bề dày dao động từ vài chục mét ở khu vực giếng khoan 04A-1X đến trên dưới 300m ở
giếng khoan Dừa-1X và trên 500m ở phần Trung tâm bể. Nói chung cát, bột đã gắn kết
khá rắn chắc hoặc trung bình. Thành phần các mảnh vụn chiếm ưu thế là các mảnh vụn
dolomit. Trầm tích Miocene trên nói chung nằm trong giai đoạn tạo đá (diagenes) sớm.
Các mảnh vụn biotit bị bạc màu, thủy hóa và clorit hóa. Các mảnh vụn thạch anh bị gặm
mòn, fenspat bị calcit hóa, sét hóa, xuất hiện ximăng calcit tái kết tinh. Do quá trình biến
chất, giữa các mảnh vụn, nếu như ở trầm tích Pliocene tiếp xúc nguyên sinh 100% thì ở
Miocene trên đã xuất hiện kiểu tiếp xúc thứ sinh (<35%). Hệ số chặt sít <0,5.
Đá chứa carbonate
Đá chứa carbonate ở bể Nam Côn Sơn được phân bố chủ yếu ở phía đông bể trong
các trầm tích Miocene giữa (hệ tầng Thông – Mãng Cầu) và Miocene trên (hệ tầng Nam
Côn Sơn). Đá chứa carbonate Miocene giữa phát triển khá rộng rãi trong phạm vi các lô
04, 05, 06, … phía Đông của bể. tại các giếng khoan Dừa, Lan Tây, Lan Đỏ, Đại Hùng,
04B-1X gặp đá vôi sinh vật đồng nhất, dạng khối, màu trắng sữa, độ rỗng khoảng 20-
30%. Kiểu độ rỗng chủ yếu là độ rỗng giữa các hạt do quá trình dolomit hóa và độ rỗng
hang hốc do hòa tan, rửa lũa các khoáng vật carbonate. Tập đá vôi tại giếng khoan 12B-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status