Đề tài: Tổ chức thương mại thế giới WTO
và tác động của nó đối với các nước đang
phát triển.
Tổ chức thương mại thế giới WTO và
tác động của nó
đối với các nước đang phát triển.
MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
Chơng 1: Tổng quan về Tổ chức thơng mại thế giới WTO
1.1Sự ra đời của Tổ chức thơng mại thế giới WTO 5
1.1.1Hiệp định chung về thuế quan và thơng mại GATT- tổ chức tiền thân c
ủ
WTO … 5
1.1.2Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO 12
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO ……. 18
Chơng 2:Tác động của WTO đối với các nớc đang phát triển
2.1 Những ảnh hởng của WTO đến các nớc đang phát triển
2.1.1 Những ảnh hởng tích cực
2.1.2 Những ảnh hởng tiêu cực
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với các nớc đang phát
triển trong quá trình thực hiện một số Hiêp định của WTO.
2.2.1 Hiệp đinh về tự do hàng nông sản
2.2.2 Hiệp định hàng dệt may
2.2.3 Hiệp định chung về thơng mại và dịch vụ GATS
NT : Nation Treatment -Đãi ngộ quốc gia .
TRIMS : trade - related investment measures - Các biện pháp đầu t liên quan
đến thơng mại .
TRIPS : trade - related intellectual propecty rights - Khía cạnh về quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thơng mại .
UNCTAD :United Nations Conference on Trade and Development -
WTO :World Trade Organization - Tổ chức thơng mại quốc tế .
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) kế thừa
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ 1/1/1995
nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông thơng mại đa biên, đảm bảo
cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong thơng mại quốc tế. Từ
đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả vế quy mô lẫn phạm vi hoạt động
của mình, đã thực sự khẳng định đợc vai trò quan trọng của mình trong quá trình tự do
hoá thơng mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO đã tạo ra
một hành lang pháp lý để từ đó các nớc có thể đẩy nhanh tiến hành tiến trình toàn cầu
hoá, tự do thơng mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi để phát triển nền kinh
tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ thông các nguyên tắc và hiệp
định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và đảm bảo đợc sự công bằng cho các
nớc thành viên, đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển.
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về những ảnh hởng của WTO đến sự phát triển nền kinh
tế của các nớc đang phát triển, em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức thơng mại thế giới WTO và tác động của nó
đối với các nớc đang phát triển.
làm khoá luận tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục, nội dung của khoá
luận đợc chia làm ba chơng:
Chơng 1 : Tổng quan về Tổ chức thơng mại thế giới WTO.
Chong 2 : Tác động của WTO đến các nớc đang phát triển.
Chơng 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách thức.
Hiến chơng thành lập Tổ chức thơng mại thế giới đã đợc thoả thuận tại Hội nghị
Liên hợp Quốc tế về thơng mại và việc làm tại Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948,
nhng do một số nớc không tán thành nên việc hình thành tổ chức thơng mại thế giới
(ITO) đã không thực hiện đợc. Tuy nhiên kết quả của cuộc đàm phán cũng đem lại sự
thành công nhất định; đã có 45000 nhợng bộ về thuế quan, ảnh hởng đến khối lợng
thơng mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng thơng mại trên thế giới. 23 nớc này đều
cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số quy định trong hiến chơng của ITO. Các quy
định này sẽ đợc thực hiện hết sức nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ đợc
thành quả của những cam kết thuế quan đã đợc đàm phán. Kết hợp của những qui định
thơng mại và cam kết thuế quan đợc biết đến dới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan
và thơng mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948. 23 nớc
tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay còn gọi là "các bên tham gia
hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhng đây vẫn là công cụ duy nhất
mang tính đa biên điều tiết thơng mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO đợc
thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản pháp lý của GATT vẫn
đợc duy trì gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp định mới đợc đa vào dới dạng
hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm thế quan vẫn đợc tiếp tục. Tất cả những
bớc tiến lớn của thơng mại quốc tế đã diễn ra thông qua các cuộc đàm phán thơng mại
đa biên đợc biết đến dới cái tên "vòng đàm phán thơng mại".
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT
Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số nớc
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
1951 Torquay Thuế quan 38
1956 Geneva Thuế quan 26
1960 - 1961 Geneva (vòng Dillon) Thuế quan 26
1964 - 1967 Geneva (vòng Kenedy) Thuế quan và các biện
chống bán phá giá
62
1973 - 1979 Geneva ( Vòng Tokyo) Thuế quan và các biện phá
đây là một bớc khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
+ Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định GATT.
+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thơng mại - còn đợc gọi là: Hiệp định về tiêu
chuẩn.
+ Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ.
+ Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
+ Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy.
+ Thoả thuận về sữa quốc tế.
+ Thơng mại máy bay dân dụng.
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã đợc điều chỉnh lại và đợc
cam kết mang tính chất đa biên buộc các nớc thành viên phải cùng nhau thực hiện. Chỉ
có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện nay vẫn mang tính
nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt bò và sữa đã đợc huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời và có
phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành công rất lớn
trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thơng mại quốc tế. Chỉ tính đến việc cắt giảm
thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trởng trung bình của thơng mại thế giới lên mức
trung bình trong suốt thập niên 50-60.
Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trởng của thơng mại
luôn luôn vợt qua tốc độ tăng trởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn tại. Bên cạnh
đó, ngày càng nhiều nớc đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy hệ thống thơng mại
đa biên đã đợc công nhận nh một công cụ để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế,
thơng mại của cả thế giới nói chung và của từng quốc gia nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đợc đã xuất hiện những vấn đề mới nảy
sinh. Vòng Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhng kết quả mang lại còn
khá hạn chế.
GATT đã phải đối mặt với những khó khăn rất lớn.
Thứ nhất, thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan xuống mức thấp cộng
dễ đi vào ách tắc.
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có những
nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thơng mại đa biên. Những nỗ lực đó đã
dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và việc tổ chức
thơng mại thế giới WTO ra đời.
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO.
1.1.2.1 Vòng đàm phán Uruguay.
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các lĩnh
vực thơng mại. Vòng này kéo dài 7 năm rỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự định ban đầu.
Đến cuối vòng đàm phán số nớc tham dự đă lên tới 125 nớc; đây thực sự là vòng đàm
phán thơng mại lớn nhất từ trớc tới nay và có lẽ đây cũng là cuộc đàm phán thuộc loại
lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trởng.
Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trởng trong bế tắc.
Tháng 12/91 Genneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng" đợc hoàn thành.
Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EC đạt đợc mức bột phá mang tên "Blair House"
trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tháng 7/93 Tokyo: Nhóm Quad đạt đợc bớc đột phá về mở cửa thị trờng tại hội nghị
thợng đỉnh G7
Tháng 12/93 Geneva: Phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc (một số cuộc thơng thảo
về mở cửa thị trờng đợc tiếp tục).
Tháng 4/94 Marrakesh: Các hiệp định đợc ký.
Tháng 1/95 Geneva: WTO đợc thành lập và các hiệp định bắt đầu có hiệu lực.
Mặc dù tại một số thời điểm, vòng đàm phán có vẻ nh thất bại, nhng cuối cùng
vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất từ trớc tới nay đối với hệ thống thơng mại
quốc tế.
Cơ sở cho chơng trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay đã đợc khởi đầu ngay
vấn đề nông nghiệp ; đó là dịch vụ, mở cửa thị trờng, các qui tắc chống bán phá giá và
đề xuất về việc thành lập một tổ chức thơng mại mới. Tại đây, bất đồng quan điểm của
Mỹ và EU chính là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho vòng đàm phán cha thể kết
thúc thành công đợc.
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất đợc phần lớn sự khác biệt trong lĩnh
vực nông nghiệp, cả hai đã đa ra đợc một thỏa thuận mang tên “Thỏa thuận Blair
House”. Đến tháng 7 năm 1993, nhóm Quad ( Mỹ, EU, Nhật, Canada ) tuyên bố đã đạt
đợc những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế quan và các vấn đề liên quan đến
mở cửa thị trờng. Đến 15 tháng 12 năm 1993 thì tất cả mọi vấn đề đều đợc giải quyết
và đàm phán về mở cửa thị trờng cho hàng hóa và dịch vụ đợc kết thúc. Ngày
15/4/1994, thỏa thuận đã đợc bộ trởng của phần lớn 125 nớc tham gia hội nghị ký kết
tại Marrakesh, Marốc.
Cuối cùng, vào tháng 1/1995 hội nghị bộ trởng tại Geneva đã thống nhất thành lập
một tổ chức thơng mại mới, tổ chức thơng mại thế giới - World Trade Organization -
viết tắt là WTO chính thức đợc thành lập ; các hiệp định đợc kí kết tại vòng đàm phàn
Uruguay bắt đầu có hiệu lực.
Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ nh đã thất bại, tuy nhiên
cuối cùng thì vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất, là bớc tiến quan trọng nhất
đối với hệ thống thơng mại thế giới kể từ ngày GATT đợc thành lập sau Đại chiến thế
giới lần thứ hai. Mặc dù còn gặp phải nhiều vấn đề, vòng Uruguay đã đem lại một số
kết quả ngay từ những ngày đầu: Trong vòng 2 năm các nớc tham dự đã nhất trí cắt
giảm thuế nhập khẩu với hàng nhiệt đới - những sản phẩm chủ yếu do các nớc đang
phát triển xuất khẩu. Các nớc cũng đã nhất trí điều chỉnh các qui định về giải quyết
tranh chấp, trong đó một số biện pháp đã đợc thực hiện ngay lập tức. Các nớc cũng yêu
cầu cần có báo cáo thờng xuyên về hệ thống chính sách thơng mại của các nớc thành
viên, đây là một bớc tiến hết sức quan trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính
sách của các nớc trên thế giới.
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay ngời ta ớc tính thuế quan nói chung sẽ
giảm đi trung bình khoảng 40%. Dự kiến Mĩ sẽ giảm 35%, Canada 45%, ấn Độ 55%,
Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm khoảng 30 - 50% cho hàng công
pháp lý vững chức bởi vì các nớc thành viên đã thông qua các hiệp định và chính các
hiệp định đã mô tả phơng thức hoạt động của tổ chức. Các quốc gia thành viên phải
thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của WTO và các hiệp định của nó.
+ GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là GATT chỉ
mang tính chất một hiệp định. WTO có các nớc thành viên và WTO là một tổ chức
quốc tế.
+ Hiệp định chung về thuế quan và thơng mại GATT chỉ giải quyết các vấn đề liên
quan đến thơng mại hàng hoá. Trong khi đó WTO là tổ chức kế thừa và phát triển
GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp định khác của WTO nh hiệp định
chung về thơng mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan
đến thơng mại (TRIPS). WTO đã đa 3 hiệp định này vào chung một tổ chức.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh hơn so với
cơ chế của GATT. Đây là đóng góp lớn nhất của WTO đối với hệ thống thơng mại thế
giới.
Trớc đây việc giải quyết tranh chấp giữa các nớc ký kết GATT đợc dựa vào hai cơ
chế chủ yếu :
+ Theo điều khoản tham vấn và điều khoản Bảo vệ các u đãi và lợi ích.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phơng.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế :
+ Các nghị quyết đạt đợc không giải quyết đợc những tranh chấp phát sinh,
thờng dẫn đến việc các bên thơng lợng hoà giải là chính.
+ Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên bị kiện có
thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Ban hội thẩm) tiến
hành hoạt động của mình.
+ Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài.
+ Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết đợc thực hiện.
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá thơng mại mà
hệ thống thơng maị đa phơng đem lại các nớc đã vấp phải nhiều khó khăn trong việc
giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh hơn mình.
Đối với WTO, tổ chức thơng mại thế giới đã đa ra đợc một cơ chế giải quyết tranh
hiệp định đợc hầu hết các nớc có nền thơng mại cùng nhau tham gia đàm phán và ký
kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm nền tảng cho thơng mại quốc tế.
Các tài liệu đó về cơ bản mang tính ràng buộc các chính phủ phải duy trì một chế độ
thơng mại trong một khuôn khổ đã đợc các bên thống nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt
đợc là do các chính phủ đàm phán và ký kết nhng mục đích lại nhằm giúp các nhà sản
xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nớc; các nhà hoạt động xuất nhập khẩu có
thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dễ dàng hơn.
1.2.1. Mục tiêu :
Mục tiêu chính của hệ thống thơng mại thế giới là nhằm giúp thơng mại đợc lu
chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới hạn không gây ra các ảnh
hởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
+ Nâng cao mức sống của con ngời.
+ Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trởng vững chắc thu nhập và nhu cầu
thực tế của ngời lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý của ngời lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới .
+ Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới.
1.2.2 Chức năng của WTO.
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ nhất của WTO: Là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên mà nội
dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông qua các cuộc
đàm phán nh vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nớc trên thế giới đợc phát triển,
đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng đợc xây dựng và sửa đổi theo yêu cầu của
thời đại.
Chức năng thứ hai của WTO: Là một luật lệ quốc tế chung đợc các nớc thành viên
cùng nhau ký kết. WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thơng mại và đảm bảo các nớc
thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc đó. Đặc trng của các quyết định và
qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc tất cả các thành viên và có khả năng làm
cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện. Bất cứ một nớc thành viên
Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này đợc áp dụng nh sau: Mỗi thành
viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau nh là các bạn hàng đợc u đãi
nhất. Nếu nh một nớc cho một nớc khác đợc hởng lợi nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất"
đó phải đợc giành cho tất cả các nớc thành viên WTO khác để các nớc khác vẫn tiếp
tục có đợc đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO
đối xử trên 140 thành viên khác tơng tự nhau.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó đợc ghi nhận tại điều đầu tiên của hiệp
định chung về quan thuế và thơng mại GATT về thơng mại hàng hoá. Nguyên tắc
MFN cũng đợc đề cao trong hiệp định chung về dịch vụ GATS, hiệp định về quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thơng mại TRIMs tuy có khác nhau một ít ở từng hiệp định.
Đối xử quốc gia (NT): đối xử ngời nớc ngoài và ngời trong nớc nh nhau. Hàng
nhập khẩu và hàng sản xuất trong nớc phải đợc đối xử nh nhau, ít nhất là sau khi hàng
hoá nhập khẩu đã đi vào đến thì trờng nội địa. Theo nguyên tắc này, khi áp dụng
những qui chế trong nớc và thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu thì phải cung cấp các
điều kiện tơng tự nh đối với sản phẩm trong nớc. Vì thế các thành viên của WTO
không đợc áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản xuất trong nớc và không đợc phân biệt
đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các nớc thành viên WTO khác.
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho dịch vụ nhãn hiệu thơng mại, bản quyền và
quyền phát minh sáng chế trong nớc và của nớc ngoài. Đối xử quốc gia chỉ áp dụng
đợc khi hàng háo dịch vụ và đối tợng của quyền sở hữu trí tuệ đã vào đến thị trờng. Vì
vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá không vi phạm nguyên tắc này mặc dù hàng
nội địa không chịu thuế tơng tự.
Nguyên tắc thứ hai: Thơng mại phải ngày càng đợc tự do thông qua đàm
phán.WTO đảm bảo thơng mại giữa các nớc ngày càng tự do hơn thông qua quá trình
đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thơng mại bao
gồm thuế quan, và các biện pháp khác nh cấm nhập khẩu, quota có tác dụng hạn chế
nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác nh tệ quan liêu, chính sách ngoại hối cũng
đợc đa ra đàm phán.
Kể từ khi GATT, sau đó là WTO đợc thành lập đã tiến hành 8 vòng đàm phán để
giảm thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trờng. Để thực hiện
nớc này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thơng
mại đa biên. Để thực hiện đợc nguyên tắc này, WTO dành cho các nớc đang phát triển
và các nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và các u đãi nhất định trong việc
thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật cho các nớc này.
CHƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN CÁC NỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
2.1. Những ảnh hởng của WTO đối với các nớc đang phát triển.
2.1.1. Những ảnh hởng tích cực.
Tổ chức thơng mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, điều tiết hệ thống thơng mại
đa biên, ảnh hởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và đến
nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên nói riêng. Đối với các nớc đang phát triển, gia
nhập WTO đã mang lại đợc rất nhiều lợi ích thiết thực đối với công cuộc phát triển
kinh tế của họ. Cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế và đặc biệt là sự ra đời của
WTO từ năm 1995, tỷ lệ tăng trởng kinh tế bình quân của các nớc đang phát triển luôn
đạt khoảng từ 4% đến 5%. Tỷ trọng kinh tế của các nớc này trong nền kinh tế toàn cầu
đã tăng lên nhanh chóng, từ 13% năm 1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi
WTO ra đời). Tỷ trọng trong thơng mại thế giới của các nớc đang phát triển cũng tăng
lên từ 11% đến 32% trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có thể
lên tới 45%. Đặc biệt, các nền kinh tế Đông á trong nhiều năm liền có tốc độ tăng
trởng nhanh đã đạt đến tỷ lệ 7%. Các nớc Mỹ La Tinh cũng đạt mức tăng trởng bình
quân cao; các nớc Châu Phi đã dần dần bớc ra khỏi tình trạng bi đát về kinh tế. Năm
1999, Châu Phi đã đạt mức tăng trởng 3,6% là mức cao nhất từ hơn một thập kỷ qua.
Một số nớc đang phát triển có tốc độ phát triển cao đã trở thành một trong những động
lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới. Đây là những con số tổng quan về những thành công
của hoạt động của tổ chức thơng mại thế giới đối với các nớc đang phát triển, làm rõ
thêm những ảnh hởng tích cực của WTO đến các mặt của nền kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nớc đang phát triển là thành viên
của WTO đều đợc đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO; đợc đối xử bình
đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các nớc phát triển. Các loại
hàng hoá và dịch vụ này khi đợc xuất khẩu sang bất kỳ một thị trờng của một nớc
thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều đợc hởng mọi quyền lợi mà chính phủ nớc đó
hơn. Di chuyển lao động tự do đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các nớc đang phát
triển. Cái lợi của các nớc đang phát triển thờng xuyên xuất khẩu lao động là nhận đợc
một khoản thu nhập ngoại tệ không nhỏ từ tiền lơng mà nớc sở tại trả cho ngời lao
động. Theo báo cáo của Economic Aspects thì trong những năm 1990 - 1995 khoản
tiền đó lên đến 70 tỷ USD. Xuất khẩu lao động có vị trí đặc biệt đối với các nớc đang
phát triển, vừa thay đổi cán cân kinh tế vừa tăng sức mua của xã hội thúc đẩy thơng
mại và sản xuất nội địa. Thêm vào đó, các nớc phát triển thờng nhập khẩu lao động từ
các nớc đang phát triển và sau thời gian làm việc cho các hãng, công ty kinh nghiệm,
tay nghề và trình độ của ngời lao động đợc nâng lên, có khả năng tiếp cận với nền công
nghiệp tiên tiến, khi trở về tổ quốc, họ sẽ trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho phát
triển đất nớc.
2.1.2. Những ảnh hởng tiêu cực.
Bên cạnh những ảnh hởng tích cực, những lợi ích không nhỏ, nhận đợc từ WTO, các
nớc đang phát triển phải đối mặt với những ảnh hởng tiêu cực của nó:
Thứ nhất, trong tổ chức thơng mại thế giới, theo các nguyên tắc của nó, mọi thành
viên đều đợc đối xử nh nhau, đều đợc hởng mọi đãi ngộ MFN và NT, các hàng rào
thuế quan và phi thuế quan của các nớc đều đợc giảm dần chính vì vậy, thị trờng tiêu
thụ đợc mở rộng, các nớc đều tập trung sản xuất theo định hớng xuất khẩu. Các nớc
đang phát triển cũng không là ngoại lệ. Các nớc này đều chú trọng sản xuất các mặt
hàng xuất khẩu mà mình có lợi thế so sánh và mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất là
nguyên liệu thô và các mặt hàng công nghiệp có giá trị thấp. Tuy nhiên trên thực tế,
các nớc đang phát triển cũng bị buộc phải sản xuất ra các mặt hàng có giá trị và lợi
nhuận thấp đó. Các nớc phát triển sử dụng đòn bẩy thuế quan buộc các nớc đang phát
triển phải tập trung khai thác và xuất khẩu hai loại hàng hoá có mức thuế thấp nh
nguyên liệu thô và hàng hoá bán thành phẩm, còn mặt hàng công nghiệp có giá trị cao
thì chịu thuế cao hơn và vấn đề tìm kiếm thị trờng cũng gặp nhiều khó khăn hơn, điều
này ảnh hởng rất lớn đến nền công nghiệp nội địa của các nớc đang phát triển. Do các
nớc đang phát triển chỉ sản xuất đợc các hàng công nghiệp có giá trị thấp, không chú
trọng đợc vào đầu t và phát triển các ngành công nghiệp giá trị cao và phải nhập khẩu
các mặt hàng này từ các nớc phát triển. Công nghiệp nội địa của các nớc đang phát
Thứ t, để thực hiện theo quy định của WTO, các nớc đang phát triển sẽ bị thúc ép,
buộc phải từ bỏ ngày càng nhiều các chính sách hiện hữu đang bảo vệ và phát triển nền
kinh tế nội địa của mình cho hàng hoá và dịch vụ của nớc ngoài tự do tràn vào, gây ra
các tác động xấu:
Phải mở cửa nền kinh tế khi đất nớc cha đủ tiềm lực và sự chuẩn bị đối phó trớc
những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp trong nớc cha đủ
mạnh và cha chuẩn bị sẵn sàng để cạnh tranh với các tập đoàn lớn, có thể các công ty,
tập đoàn đó sẽ thế chân họ trên thị trờng trong nớc.
Hàng hoá hoặc dịch vụ nớc ngoài có thể tràn ngập thị trờng, thế chỗ hàng hóa và
dịch vụ nội địa do chúng có sức cạnh tranh cao hơn, nh giá rẻ hơn, chất lợng tốt hơn.
Do vậy, các công ty nớc ngoài sẽ ngày càng chiếm đợc nhiều thị phần của khu vực nội
địa.
Tình trạng chảy máu chất xám tại các nớc đang phát triển gia tăng, do các chính
sách đãi ngộ cao của các nớc phát triển, nhằm thu hút lao động có trình độ cao sang
làm việc cho họ. Nguồn nhân lực tại các nớc đang phát triển bị thiệt hại nặng nề, đặc
biệt là nguồn nhân lực có kĩ năng cao.
Quá trình tự do hoá thơng mại đã kéo theo nhiều vấn đề, ảnh hởng xấu đến nền
văn hoá, lối sống tại các nớc đang phát triển, du nhập nhiều sách báo, văn hoá phẩm
không lành mạnh, làm cho nhận thức của ngời dân bị sai lệch, do ảnh hởng của lối
sống nớc ngoài; tình trạng xung đột bạo lực ngày một gia tăng Môi trờng bị ô nhiễm
nghiêm trọng, do tình trạng khai thác bừa bãi, các chất độc hại của các khu công
nghiệp thải ra môi trờng không kiểm soát đợc. Trong xã hội, tình trạng bất bình đẳng
ngày càng trầm trọng, ngời giàu càng giàu thêm, ngời nghèo càng nghèo đi, sự bất bình
đẳng vốn đã ngấm ngầm trong xã hội về giai cấp, sắc tộc, màu da hiện nay càng trở
nên rõ rệt và sâu sắc hơn bao giờ hết.
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nền kinh tế đang phát triển
trong qúa trình thực hiện các hiệp định của WTO.
2.2.1 Hiệp định về tự do hàng nông sản.
2.2.1.1 Nội dung:
Hàng nông sản là mặt hàng tơng đối nhạy cảm, cho nên từ trớc đến nay vẫn đợc
thực chất là “thuế hoá”. Mức độ thuế hoá dựa trên việc tính toán tác động bảo hộ của
biện pháp phi thuế quan đó, nhằm đa ra mức thuế quan có tác động bảo hộ tơng đơng.
Các nớc phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 36%, mức độ giảm tối thiểu đối
với mỗi dòng thuế không ít hơn 15% và đợc thực hiện trong thời gian 6 năm ,từ 1995-
2000.
Các nớc đang phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 24% và mức giảm tối thiểu
với mỗi dòng thuế không ít hơn 10% và thực hiện trong vòng 10 năm, từ 1995-2004.
Các nớc chậm phát triển không phải cắt giảm biểu thuế của mình.
Đối với các sản phẩm mà hạn chế phi thuế đã đợc chuyển hoá thành thuế, chính phủ
các nớc thành viên đợc phép thực hiện các hành động khẩn cấp đặc biệt hay còn gọi là
biện pháp tự vệ, nhằm ngăn chặn không để tình hình giá trợt xuống nhanh hay giá hàng
nhập khẩu tăng vọt ảnh hởng xấu đến nông dân nớc họ. Có 4 nớc có vấn đề an ninh
lơng thực đặc biệt nhạy cảm (chủ yếu là với mặt hàng gạo) sử dụng điều khoản đối xử
đặc biệt để hạn chế hàng nhập khẩu nhng họ lại phải có nghĩa vụ đẩy nhanh mức độ
mở cửa thị trờng cho hàng nhập khẩu. Ví dụ với Nhật Bản: mở cửa thị trờng bắt đầu là
4% và lên đến 8% vào năm 2000.
Các nớc cũng cam kết giữ mức mở cửa thị trờng tối thiểu không thấp hơn mức trung
bình của thời kỳ 1986-1990 và không đa ra thêm hàng rào phi thuế quan.
* Các biện pháp hỗ trợ trong nớc:
Các chính sách trong nớc có ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất và thơng mại phải đợc
cắt giảm. Các nớc thành viên WTO đã tính toán đợc mức hỗ trợ toàn bộ hay “tổng
AMS” cho khu vực nông nghiệp trong mỗi năm tại các cơ sở, từ năm 1986-1988. Tổng
AMS là giá trị của toàn bộ các khoản trợ cấp nội địa và khoản trợ cấp cho từng mặt
hàng nông sản. Trong các cam kết, yêu cầu cắt giảm 20% của AMS toàn phần đối với
các nớc phát triển trong thời gian 6 năm; đối với các nớc đang phát triển, cam kết cắt
giảm là 13% trong vòng 10 năm, kể từ năm 1995; không có yêu cầu cắt giảm đối với
những nớc chậm phát triển.
* Giảm trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản.
Hiệp định Nông nghiệp cấm trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp, trừ
phi các trợ cấp này đợc quy định rõ ràng trong danh mục các cam kết của một nớc. Đối
ph
36 %
15 %
24 %
10 %
Trợ cấp nội địa
Tổng mức cắt giảm AMS
( giai đoạn cơ sở : 1986 -
1988
20 % 13 %
Xuất khẩu
+Giá trị trợ cấp
+Khối lợng đợc trợ cấp
( gíai doạn cơ sở :1986
-1990
36 %
21 %
24 %
14 %