Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
Phần A: CÁC ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG.
Chương I: Vò trí đòa lý và lòch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long 5
I. Vò trí đòa lý 5
II. Lòch sử nghiên cứu 7
Chương II: Đặc điểm đòa tầng của bồn trũng Cửu Long 10
I.Đặc điểm đòa tầng trước Kainozoi. 10
II.Đặc điểm đòa tầng trầm tích Kainozoi. 11
Chương III: Đặc điểm cấu kiến tạo bể Cửu Long. 22
I.Cấu trúc đòa chất của vùng trũng Cửu Long 22
II.Lòch sử phát triển kiến tạo. 27
Phần B : SINH ĐỊA TẦNG CÁC GIẾNG KHOAN TRONG TRẦM TÍCH
OLIGONXEN MUỘN–MIOXEN SỚM Ở BỒN TRŨNG CỬU LONG .
Chương I : Vài nét về lô 15–2. 30
Chương II : Các phương pháp và tài liệu nghiên cứu 32
I. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu 32
II.Mô tả một vài hóa thạch đặc trưng trong trầm tích Oligoxen-Mioxen. 38
Chương III : Các kết quả về sinh đòa tầng ở giếng khoan
4TK và 5TK thuộc lô 15-2 48
I. Giếng khoan 15-2 RD 4TK 48
II.Giếng khoan 15-2 RD 5TK 52
Chương IV: Liên kết và so sánh đòa tầng giữa các giếng khoan 56
Kết luận.
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 1
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Hiện nay các mỏ dầu khí lớn nhất được phát hiện ở thềm lục đòa Việt Nam
giếng khoan 15-2-RD-4TK và 15-2-RD- 5TK).
Nhằm làm rõ các vấn đề về đòa tầng, xây dựng thang sinh đòa tầng làm cơ
sở cho việc đối sánh đòa tầng giữa các giếng khoan thuộc lô 15-2 ở bồn trũng Cửu
Long, góp phần khôi phục lại lòch sử phát triển đòa chất khu vực của vùng, xác lập
lại môi trường trầm tích cổ, điều kiện lắng đọng của vật liệu vô cơ cũng như hữu cơ.
Từ đó càng hiểu rõ thêm cấu trúc đòa chất vùng góp phần trong việc tìm kiếm các
tích tụ dầu khí mang tính công nghiệp và thương mại .
Với kiến thức còn hạn hẹp, do đó trong bài tiểu luận này không tránh khỏi
những sai sót cả nội dung và hình thức. Mong các quý thầy cô tham khảo, và chỉ bảo
những thiếu sót và hạn chế trong bài, cùng với sự góp ý của các bạn đọc. Rất mong
sự giúp đỡ của các quý thầy cô để bài tiểu luận có thể tốt hơn.
Trang 3
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
PHẦN A
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA
BỒN TRŨNG CỬU LONG
Trang 4
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Chương I
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỒN CỬU LONG.
I . VỊ TRÍ ĐỊA LÝ BỒN TRŨNG CỬU LONG :
Bồn trũng Cửu Long nằm ở phía Đông Nam thềm lục đòa Việt Nam, có tổng
diện tích khoảng 56.000 km
2
. Đònh vò tại 9
O
-11
O
vó độ Bắc và 106
O
thời gian đó công ty Retty Ray đã tiến hành khảo sát đòa chấn chi tiết hơn với mạng
lưới tuyến 2 x 2 km trên khu vực nói trên.
Giai đoạn sau 1975
+ Thời kỳ 1976 – 1989:
-1976 : Công ty đòa vật lý CGG của Pháp đã phối hợp với tổng cục dầu
khí Việt Nam tiến hành khảo sát đòa chấn vùng đồng bằng sông Cửu Long và biển
nông để liên kết đòa chấn giữa lô 9 và lô16 với khu vực đất liền.
-1977 : Công ty vật lý GECO của NaUy dành được hợp đồng khảo sát
đòa chấn ở bể Cửu Long với mạng lưới tuyến 8 x 8 km và 4 x 4km đặc biệt ở lô 09
và lô 17 mạng lưới này được đan dầy với tỷ lệ 2 x 2km và 1 x 1km, đồng thời công
ty GECO, công ty Deminex trúng thầu ở lô15 và xúc tiến công tác khảo sát đòa chấn
với mạng lưới 3,5 x 3,5km song dấu hiệu của Hydrocacbon ở các giếng không đủ
mạnh nên công ty Deminex đã không tiếp tục công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở
lô 15 và rút khỏi Việt Nam năm 1981. -Tháng 6-1981: hiệp đònh giưã chính phủ
Liên Xô và Việt Nam trong tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực Bạch Hổ và Rồng
được ký kết.
- Năm 1987: Công ty đòa vật lý Thái Bình Dương đã tiến hành khảo sát
đòa chấn với mạng lưới 2 x 2km và 0.5 x 0.5km trên cấu tạo Bạch Hổ, Trà Tân, và
Trang 7
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Cửu Long. Tổng số tuyến được khảo sát lên tới 3000km. Kết quả là đã phát hiện ra
dầu thô trong trầm tích tuổi Oligoxen và Mioxen hạ ở cấu tạo Bạch Hổ.
-Năm 1986–1990: Viện dầu khí tiến hành hàng loạt các đề tài về
nghiên cứu cấu trúc đòa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí ở bể Cửu Long. Vì vậy,
giai đoạn này là thời kỳ phát triển mạnh mẽ các công tác nghiên cứu đòa chất dầu
khí ở bể Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung.
+ Thời kỳ năm 1990 đến nay :
-Là thời kỳ sôi động nhất của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam với
sự kiện không thể nào quên là việc phát hiện ra dầu thô trong móng phong hoá bò
nứt nẻ trước Đệ Tam của công ty Vietsopetro trên cấu tạo Bạch Hổ, thúc đẩy công
các giếng khoan mới. Lúc đó có lẽ sẽ là thời gian thích hợp để đánh giá trọn vẹn
kết quả tiềm kiếm thăm dò dầu khí trong tương lai ở bể Cửu Long vào thời kỳ sau
1990.Trang 9
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Chương II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG BỒN CỬU LONG
I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRƯỚC KAINOZOI:
I.1 Các thành tạo trầm tích biến chất :
Được phát hiện ở khoảng 3038-3095 ở giếng khoan 15-A-I X có thành
phần là các đá phiến sét (Phylit) màu xám đen và màu nâu đen. Các đá phiến này
tương ứng với phiến sét ở Bản Đôn có tuổi Jura sớm (J
1-2
) hay còn gọi là hệ tầng La
Ngà.
I.2 Các thành tạo xâm nhập nông ( Plutonic):
Bao gồm diorit thạch anh, granodiorit. Granit và granit á kiềm được
phát hiện trong một số giếng khoan ở tất cả các lô về mặt kiến trúc và thành phần
thạch học, các đá này khá giống với phức hệ Plutonic Mezozoi muộn lộ ra trên đất
liền và ở các đảo kế cận.
I.3 Các thành tạo phun trào :
Trong hầu hết các giếng khoan ở bể Cửu Long, các thành tạo phun
trào đều có mặt với các đặc điểm thạch học giống như phun trào tuổi Mezozoi lộ ra
trên đất liền. Có thể phân chúng ra các nhóm : basalt-andezit, andezit, dacite-
lipharit, lipharit song phổ biến nhất là andezit và basalt. Trong đó nhóm basalt
thường chiếm chủ yếu là basalt kiềm, diabase porphia, còn andezit phổ biến là
andezit kiềm, trachy andezit.
Trang 10
tc ):
Hệ tầng Trà Cú được xác lập tại giếng khoan CL-1 thuộc vùng Cà Cối,
huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh, trong khoảng độ sâu 1082–1220m. Hệ tầng Trà Cú
Trang 11
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
được đặc trưng bởi sự xen kẽ giữa cát, sỏi kết với những lớp bột sét chứa cuội, sạn,
sỏi(anderzit, granit). Ở trung tâm bể Cửu Long, thành phần trầm tích của hệ mòn dần
lên phía trên, phần lớn chủ yếu là lớp sét kết giàu vật chất hữu cơ, nhiều vụn thực
vật và than. Phần lớn đá sét bò biến đổi thứ sinh và bò nén ép mạnh thành đá phiến
sét màu xám xẫm, xám lục, xám nâu, xen kẽ với lớp mỏng bột kết và cát kết.
Thành phần của tập sét kết này gồm kaolinit, chrolit phủ trực tiếp lên đá móng và
đóng vai trò tầng chắn tốt cho các vỉa dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, Tây Nam
Rạng Đông , Sư Tử Đen.
Thành phần cát kết, bột kết thuộc loại đá khoáng (arkos), hạt từ nhỏ đến
thô, đôi khi rất thô, cát chứa cuội hoặc sạn, hạt vụn có độ lựa chọn và mài tròn trung
bình và kém, thành phần giàu felspat, thạch anh, và mảnh đá chứng tỏ vật liệu tạo
nên hệ tầng Trà Cú chủ yếu từ các sản phẩm phong hóa bóc mòn từ đá móng
Granitoid. Nhìn chung hệ tầng Trà Cú hình thành trong các điều kiện môi trường
trầm tích khác nhau từ sườn tích, lũ tích bồi tích, sông, kênh lạch, đến hồ hoặc đầm
lầy ven sông ….
Về tài liệu cổ sinh trong hệ tầng rất nghèo nàn, mới chỉ phát hiện thấy
phức hệ bào tử phấn hoa nghèo nàn về giống loài cũng như số lượng trong các mẫu
vụn từ các giếng khoan được phân tích. Thành phần chủ yếu của phức hệ này là
Magnastriatites howardi, Stenochlaena palustris, Crassoretitriletes nanhaiensis,
Trilites, Pinuspollinites. Tuổi Oligoxen sớùm được xác đònh Magnastriatites hawardi
và Crassoretitriletes nanhaiensis, Crassoretitriletes vanraadshooveni (xuất hiện đầu
tiên trong Oligoxen sớm).
Hệ tầng nằm không chỉnh hợp có nơi trên hệ tầng Cà Cối, có nơi trên đá
móng trước Đệ Tam. Hệ tầng này tương đương với tập đòa chấn E.
Caryapollenites spp.,Gothanipollis basensis, Tricolpollenites
Trang 13
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
spp.,Tricolporopollenites spp., Verrutricolporites pachydermus . Đặc biệt hệ tầng
chứa nhiều vật liệu hữu cơ dạng sapropel vô đònh hình, dạng vật liệu hữu cơ nảy
sinh trong điều kiện hồ không có oxy. Ngoài ra còn gặp nhiều tảo nước ngọt như
Pediastrum, Bosidinia, Botryococcus spp., Botryococcus braunii, Micrhystridinium
spp., Tasmanites spp..
Hệ tầng Trà Tân nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú. Tuổi Oligoxen muộn
của hệ tầng Trà Tân đã được xác đònh bởi tập hợp phong phú của
Cicatricosisporites dorogensis, Lycopodiumsporites neogenicus, Jussiena spp.,
Verrutricolporites pachydermus và Florschuetzia trilobita . Hệ tầng này tương đương
tập đòa chấn D và C.
II.4 Hệ tầng Bạch Hổ (Mioxen sớm – N
1
1
bh ):
Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Bạch Hổ được mô tả tại giếng khoan BH-1,
từ độ sâu 2037-2960m. Hệ tầng Bạch Hổ phát triển rộng khắp các khu vực và gồm
hai phần rõ rệt :
+ Phần dưới gồm cát kết kích thước hạt khác nhau xen kẽ với bột kết
và sét kết, đôi nơi có chứa vụn than hình thành trong môi trường aluvi đến đồng
bằng châu thổ.
+ Phần trên ở hầu hết mọi nơi phát triển sét kết tương đối sạch,
chứa nhiều hóa thạch biển nông Rotalia, xen kẽ với lớp bột kết, ít lớp cát kết hạt
nhỏ, màu xám lục có chứa nhiều glauconit. Nhìn chung hệ tầng được thành tạo trong
môi trường biển, biển nông có xu hướng tăng dần từ rìa Tây Nam qua phần trung
tâm đến khu vực Đông Bắc bể.
Cấu tạo phân lớp ngang, phân lớp ngang gợn sóng, phân lớp xiên và
xiên mỏng rất phổ biến trong các lớp trầm tích của hệ tầng, cát kết thường là đá
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Hệ tầng Bạch Hổ phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Tân. Hệ tầng này
tương đương tập đòa chấn B
I
.
II.5 Hệ tầng Côn Sơn ( Mioxen giữa
N
2
1
cs):
Hệ tầng Côn Sơn được mô tả lần đầu tiên tại giếng khoan 15B-1X trên
cấu tạo Côn Sơn từ độ sâu 1583- 2248m. Hệ tầng bao gồm :
+ Phần dưới của hệ tầng chủ yếu gồm cát kết từ hạt nhỏ đến thô
đôi khi chứa cuội, sạn màu xám, xám trắng, phân lớp dày tới dạng khối, độ chọn lọc
và mài tròn thay đổi từ trung bình đến kém. Cát kết thường chứa các mảnh vụn
trùng lỗ, và đôi khi có glauconit cùng nhiều vụn than. Đá gắn kết bởi xi măng sét và
carbonat.
+ Phần trên chuyển dần sang cát kết hạt mòn, hạt nhỏ xen kẽ với
lớp sét kết, sét chứa vôi hoặc đôi khi là lớp đá vôi mỏng màu xám xanh đến xám
lục, nâu đỏ, vàng nâu loang lỗ, các lớp sét chứa than, các thấu kính hoặc các lớp
than nâu mỏng màu đen.
Trong hệ tầng Côn Sơn đã phát hiện được bào tử phấn hoa và các hóa thạch
biển như trùng lỗ và Nannoplankton thuộc các phức hệ Miocen giữa gồm :
+ Phức hệ Florschuetzia meridionalis .
+ Phức hệ Tf2 Lepidocyclina- Orbulina universa thuộc đới N9-N14.
Những bào tử phấn hoa đặc trưng gồm Darcydium, Florschuetzia
meridionalis, Florschuetzia levipoli, Florschuetzia trilobata, Florschuetzia
biển :
+ Phần dưới chủ yếu là các trầm tích hạt thô như cát hạt vừa thô đến
lẫn sạn, sỏi đôi khi chứa cuội phân lớp dày hoặc dạng khối, độ chọn lọc và mài tròn
trung bình đến kém, thường chứa nhiều hóa thạch động vật, pyrit và đôi khi có
glauconit. Chuyển lên trên là cát-cát kết chủ yếu là hạt nhỏ, màu xám đến, xám
sáng, xám phớt nâu, bột-bột kết, sét -sét kết xen kẽ với những vỉa than nâu hoặc
sét chứa phong phú các di tích thực vật hóa than
+ Phần trên là các đá hạt mòn, gồm cát hạt nhỏ, bột và sét có màu
khác nhau chứa nhiều hóa thạch động vật .
Trang 17
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Hệ tầng Đồng Nai đã được phát hiện có nhiều hóa thạch trùng lỗ,
Nannoplankton và bào tử phấn hoa chúng được xếp vào các phức hệ và đới sau :
+ Đới N17- N18 .
+ Đới Stenochlaena laurifolia .
+ Phức hệ Amphistegina (T
f3
).
+ Đới NN11.
Trong thành phần trùng lỗ chiếm chủ yếu là các dạng phát triển trong Miocen
muộn như: Pseudorotalia, và nhiều Operculina, Amphistegina, Lepidocyclina( T
f3
)
trong đá vôi rất đặc trưng. Trùng lỗ trôi nổi phong phú như: Orbulina universia,
Globigerinoides sacculifer , Globigerinoides immaturus. Hóa thạch cực nhỏ gồm có
Amautholithus delicatus, Calcidiscus leptoporus, Calcidiscus marcintyrei,
Coccolithus miopelagicus, Coccolithus pliopelagicus, Discoaster brouweri,
Discoaster variabilis, Helicophaera cateri, Reticulofenestra pseudoumbilica thuộc đới
NN10- NN11 dựa theo Discoaster quinqueramus …
Dấu hiệu xác đònh Miocen muộn của bào tử phấn hoa là sự xuất hiện đầu
Globigerinoides obliquus, Globoquadrina altispira, Globoratalia miocenica,
Sphaerodinella subdehiscens có sự xuất hiện đầu tiên trong N19 tuổi Plioxen. Hóa
thạch cực nhỏ tảo carbonate cũng phong phú, dạng xác đònh đới NN12 trong tuổi
Pliocen là Dicoaster intercalcaris khi vắng các dạng của NN11.
Bào tử phấn hoa rất đa dạng nhưng cũng rất phong phú là Darcydium spp.,
Stenochlaena laurifolia và Altingia spp., nhiều Dinoflagellate biển.
Hệ tầng biển Đông phân bố trên toàn bộ bể Cửu Long và môi trường thuộc
trầm tích biển nông. Dựa trên hóa thạch động vật, hệ tầng được xếp vào Pliocen-Đệ
Tứ.
Trang 19
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
BẢNG ĐƠN VỊ ĐỊA TẦNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG (Thạch học)
Trang 20
. . . . . . .
. . . . . . .
. .
. .
Cuội, sạn, sỏi
Cát và cát kết
Bột và bột kết
Sét và sét kết
Than
Đá phun trào
Đá xâm nhập
Hóa thạch động vật
. . . . . . . .
. . . . . . .
. . . . . . . .
. . . . . . .
. . . . . . . .
xen kẽ các lớp bột kết.
Các lớp sét kết tương đối rắn chắc,
giàu vật chất hữu cơ xen
kẽ với các lớp cát, sỏi kết.
Cuội, sạn, cát kết cấu tạo
dạng khối, phân lớp dày,
độ lựa chọn kém, gắn kết yếu.
Granite, Granodiorite
EOXEN
K A I N O Z O I
Đặc điểm thạch học
ĐỆ TỨ
200 -300
400-700
500-700
660-1000
400-800
100-500
880-1000
400-800
NEOGEN
PALEOGEN
OLIGOXEN
MIOXEN
PLIOXEN
DƯỚI
TRÊN
GIỮA
CÀ CỐI
TRÀ CÚ
. . . . . . .
. . . . . .
. .
. .
. .
. .
. . . . . . .
. . . . . . .
. . . . . . .
. .
. . . . . . .
. .
. . . . . . .
. . . . . . .
. . . . . . .
. .
. .
. . . . . . .
. . . . . . .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
. .
Đới Darcy
dium-
Phyllocladus
Biển Nôùng
MIOXEN
Muộn
Đồng Nai
500 -750
B
II
NN10 - NN11
NN15-N18Tf 3
FL.meridonalis
Phụ đới
Fl.meridonlis
Ven biển –Biển
Nông
Giữa
Côn sơn
250 -900
N9 -N13
Phụ đới
Fl.trilobita
Đồng bằng
_Ven biển
Sớm
Bạch Hổ
500 - 1250
B
I-2
Phu đới Cicricospories dorogensis,Lycopodium
neogenicus
Trà Cú
400
E
Không gặp
Sông
Dầu và khí
Tiền Đệ Tam
( J-K)
Móng
>1000m
M
Granit, Granodiorit, Biến chất
Dầu
Chương III
ĐẶC ĐIỂM CẤU KIẾN TẠO CỦA BỂ CỬU LONG
I.CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT CỦA VÙNG TRŨNG CỬU LONG :( hình 2 và 3)
Đầu Kainozoi, các trầm tích lấp đầy các trũng sâu trên bề mặt đòa hình cổ
trước Kainozoi, bể trầm tích Cửu Long được hình thành và sau đó tiếp tục phát triển
rồi mở rộng dần trong suốt Đệ Tam tạo ra một bể trầm tích tương đối hoàn chỉnh có
dạng Ovan, có trục kéo dài của nó theo hướng Đông Bắc–Tây Nam. Cùng với tiến
trình đó cùng với các hoạt động kiến tạo kéo theo là sự hình thành các đứt gãy phân
cắt bể Cửu Long ra các đới cấu trúc khác nhau, hình thành hệ thống đứt gãy Đông
Trang 22
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
Bắc-Tây Nam và Đông Tây đóng vai trò chủ yếu. Các đứt gãy này hoạt động khá
mạnh vào các kỷ Oligoxen đến kỷ Mioxen sớm. Do đặc điểm phủ chồng gối trên
móng trước Đệ Tam và chòu sự chi phối của các hoạt động kiến tạo trong suốt lòch
bởi sự phân cắt của các đứt gãy và các dải nhô cục bộ.
+Đới trũng Bắc Tam Đảo :
Nằm ở phía Bắc Tam Đảo và là nhánh kéo dài của trũng trung tâm
với bề dày trầm tích tới 5000m.
I.3 Các đới nâng :
Đa phần các đới nâng của bể Cửu Long là các cấu tạo kế thừa các
khối nhô của móng trước Kainozoi và trung tâm, chủ yếu ở phần trung tâm của bể.
Các đới nâng trung tâm gồm có:
+ Đới nâng Rồng-Bạch Hổ-Cửu Long :
Còn gọi là đới nâng trung tâm có phương kéo dài theo hướng Đông
Bắc–Tây Nam. Đới nâng này bò phân cách với các đới trũng kế cận bởi các đứt gãy
lớn đặc biệt là hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam. Qua các bản đồ đẳng dày, ta
thấy đới nâng này phát triển kế thừa một cách bền vững và liên tục từ móng trước
Kainozoi đến tầng “Rotalid”.
+ Đới nâng Trà Tân – Đồng Nai :
Nằm ở phía Bắc Đông Bắc của bể và phát triển theo hướng Đông
Bắc-Tây Nam và có xu thế nối vơí các cấu tạo Ba Vì qua sườn dốc của đơn nghiêng
Tây Bắc. Đặc điểm cấu trúc của đới này thể hiện khá rõ ở bề mặt móng và trong
các thành tạo trước Mioxen. Toàn bộ đới nâng Trà Tân-Đồng Nai bò khống chế bởi
Trang 24
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH : Bùi Thò Trương Chi
hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam và bò phân cách bởi các đứt gãy Tây Bắc–
Đông Nam sau đó bò chặn lại ở phía Tây Nam bởi đứt gãy có hướng Đông–Tây.
+ Đới nâng Tam Đảo – Bà Đen :
Phát triển kế thừa trên các khối nhô của móng Đệ Tam và phát triển
liên tục tới đầu Mioxen. Dươí tác động phân cắt của các đứt gãy Đông–Tây tạo ra
một số cấu tạo nhỏ cục bộ và phức tạp thêm đặc tính cấu trúc của đới .
I.3 Đới phân dò cấu trúc Tây Nam :
Là loạt các cấu trúc đòa phương bò khống chế bởi hệ thống đứt gãy hướng
Đông–Tây và bò phân cắt bởi các đứt gãy đòa phương có hướng Đông Bắc–Tây Nam