BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT Trần Văn Nhuận
CÁC THÀNH TẠO TRẦM TÍCH MIOXEN
PHẦN TÂY BỂ CỬU LONG VÀ MỐI LIÊN QUAN
CỦA CHÚNG VỚI ĐẶC ĐIỂM CHỨA - CHẮN DẦU KHÍ
Ngành: Khoáng vật học và Địa hóa học
Mã số : 62440205 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
HÀ NỘI - 2013
luận nói chung, cũng như trong nghiên cứu đá trầm tích vụn cát kết
nói riêng. Thạch học các đá trầm tích là một ngành khoa học nghiên
cứu sự sinh thành và biến đổi của các đá trầm tích và khoáng sản
trầm tích. Thạch học các đá trầm tích nghiên cứu toàn diện thành
phần vật chất, kiến trúc, cấu tạo, quy luật phân bố và nguyên nhân
thành tạo các đá trầm tích và khoáng sản có liên quan, với mục đích:
- Xác định chính xác thành phần, kiến trúc, cấu tạo của đá làm cơ
sở cho việc xác định nguồn gốc và quy luật và phân bố của đá trầm
tích,
- Nghiên cứu những vấn đề về lý luận trầm tích hiện đại và trầm
tích cổ, nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự thành tạo, phân
bố các đá và khoáng sản trầm tích để góp phần chỉ đạo tìm kiếm các
khoáng sản có ích, phục vụ cho việc liên kết và đối sánh địa tầng.
Các đá trầm tích được hình thành trong những điều kiện trầm
tích khác nhau và sau đó lại chịu tác động của những quá trình biến
đổi thứ sinh không giống nhau nên đặc tính thấm, chứa của chúng
cũng rất khác nhau.
Việc đẩy mạnh nghiên cứu chi tiết về thành phần vật chất,
các đặc điểm đá chứa, đá chắn, cũng như mức độ biến đổi thứ sinh là
hết sức quan trọng và cấp bách, giúp chính xác lại đặc điểm trầm
tích, cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí của bể.
Những đặc tính về tướng đá, môi trường thành tạo, thành
phần thạch học, tỷ lệ xi măng, tính chất của khoáng vật sét, tỷ lệ cát/
sét, bề dày các vỉa chứa và dạng phân bố của chúng là những yếu
2
tố ảnh hưởng nhiều đến đặc điểm vật lý - thạch học và khả năng
thấm, chứa của đá, ngoài những yếu tố nêu trên, độ thấm, chứa bị
Tổng quan các công trình đã nghiên cứu
Bể Trầm tích Cửu Long nằm chủ yếu ở thềm lục địa
Việt nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu
Long, được xem là bể trầm tích khép kín điển hình của Việt
Nam, công tác khảo sát địa vật lí tại bể được tiến hành từ
những thập niên 70, đến nay bể đã được khai thác bởi các
công ty dầu liên doanh, phân chia sản phẩm…Hiện nay tổng
số giếng khoan thăm dò thẩm lượng và khai thác đã khoan ở
bể Cửu Long khoảng hơn 300 giếng. Bằng kết quả khoan
nhiều phát hiện dầu khí đã được xác định với tổng sản lượng
khoảng hơn 45.000 tấn/ ngày. Bể Cửu Long có diện tích rất
lớn bao gồm các lô 09, 15, 16 và 17, được bồi lấp chủ yếu bởi
trầm tích Đệ Tam, chiều dày lớn nhất của chúng có thể đạt tới
8km.
Các phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp địa chất- địa vật lý
Phương pháp thạch học lát mỏng (thin sections)
Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)
Phương pháp phân tích vi nguyên tố (EDS)
Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)
Phương pháp phân tích thạch học nguồn gốc theo
(W.R.Dickinson và C.A. Suczek, 1979)
Điểm mới và ý nghĩa khoa học của luận án
Là công trình nghiên cứu cụ thể chi tiết cho việc đánh
giá đặc điểm trầm tích, đặc điểm đá chứa, đá chắn từ phòng
thí nghiệm đến phục vụ cho sản xuất.
4
5
chắn cho trầm tích Mioxen nói riêng, cũng như cho toàn bể
Cửu Long nói chung… do nghiên cứu sinh thực hiện và tham
gia cùng với các nhóm làm việc. Ngoài ra các kết quả đã được
trình bày trong các tạp trí, tuyển tập báo cáo hội nghị khoa
học của ngành Dầu Khí Việt Nam.
Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã có cơ
hội được tham gia rất nhiều dự án về nghiên cứu chung cho bể
Cửu Long, với các công ty dầu khí trong và ngoài nước. Tác
giả đã có điều kiện được học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm từ các
chuyên gia trong và ngoài nước nhằm có được những hướng
nghiên cứu ứng dụng hợp lý cho việc đánh giá các thành tạo
trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long.
Khối lƣợng và cấu trúc của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 04 chương nội dung nghiên
cứu và phần kết luận, kiến nghị. Ngoài ra, luận án còn có
danh mục các công trình công bố của tác giả và danh mục tài
liệu tham khảo. Toàn bộ nội dung được trình bày trong 132
trang, trong đó có 12 trang biểu bảng, hình vẽ.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ BỂ CỬU LONG
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Bể trầm tích Kainozoi Cửu Long nằm ở vị trí có toạ độ địa lý
trong khoảng 9
o
00
’
- 11
o
o
C.
1.2. Lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí bể Cửu Long gắn liền với
lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam.
Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò có thể chia
thành các giai đoạn:
1.2.1. Giai đoạn trƣớc năm 1975
1.2.2. Giai đoạn 1975 - 2010
1.3. Khái quát địa chất khu vực
1.3.1. Khung cảnh kiến tạo
Bể Cửu Long là một trong các bể trầm tích Đệ Tam có triển
vọng dầu khí phân bố quanh mảng Đông Dương. Bể trầm tích này
nằm ở thềm lục địa nam Việt Nam, chếch về hướng Đông và Đông
Nam đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Về mặt cấu trúc bể Cửu
Long hình thành tại khu vực có sự tác động lẫn nhau giữa ba hệ
thống đứt gãy chính. Hệ thống đứt gãy thứ nhất và quan trọng nhất
của khu vực này là hệ thống đứt gãy có hướng Đông Bắc - Tây Nam
liên quan với quá trình tách dãn Biển Đông vào Oligoxen kéo dài đến
Mioxen giữa. Hệ thống đứt gãy thứ hai có hướng Tây Bắc - Đông
Nam và hệ thống đứt gãy thứ ba có hướng Đông - Tây.
Bể Cửu Long được phân chia thành hai phụ bể: phụ bể Đông
Bạch Hổ và phụ bể Tây Bạch Hổ, ngăn cách nhau bởi đới nâng Rồng
7
- Bạch Hổ - Rạng Đông. Cấu trúc của bể được cho là hình thành dưới
sự tác động của hai pha kiến tạo. Pha tách dãn chính của bể trầm tích
có thể khởi đầu từ thế Eocen và quá trình tách dãn đó trở lên mạnh
trầm tích cổ nhất trong bể Cửu Long ghi nhận được thuộc về tập F
(trước đây gọi là E1), điệp Trà Cú, tuổi Oligoxen sớm. Chúng bao
gồm các trầm tích bãi bồi, lòng sông và là đá chứa chính tuổi
Oligoxen ở các mỏ Bạch Hổ và Sư Tử Trắng.
Oligoxen trên, điệp Trà Tân: Điệp Trà Tân phát triển rộng
khắp trong bể Cửu Long và là tập phủ trên tập F. Điệp Trà Tân có
thể chia thành 3 phụ điệp khác biệt nhau về thành phần trầm tích, đó
là:
Phụ điệp Trà Tân dưới, trong thuật ngữ địa chấn địa tầng gọi
là tập E (còn gọi là mặt bất chỉnh hợp trong Oligoxen muộn).
Phụ điệp Trà Tân giữa trong thuật ngữ địa chấn địa tầng gọi
là tập D. Phụ điệp Trà Tân giữa có đặc trưng tướng địa chấn địa tầng
là biên độ sóng phản xạ từ thấp đến rất thấp, độ liên tục và tần số ở
mức trung bình, hình thái ranh giới phản xạ song song hoặc tỏa tia.
Trầm tích phụ điệp Trà Tân giữa thường được coi là hình thành trong
điều kiện hồ với ưu thế sét là chủ yếu (tỉ lệ cát/ sét nhỏ hơn 40%). Vì
vậy chúng còn được gọi là tập đá sét Oligoxen. Tập đá sét này được
đánh giá là tập đá sinh chủ yếu ở bể Cửu Long.
Phụ điệp Trà Tân trên trong thuật ngữ địa chấn địa tầng gọi
là tập C. Tập này có xu thế cát nhiều hơn. Trầm tích ở đây gồm cát,
bột xen kẽ với một ít than hình thành trong môi trường đồng bằng
thấp.
1.3.2.3. Địa tầng Mioxen
Trầm tích Mioxen phát triển rộng khắp trong bể Cửu Long.
Mặt bất chỉnh hợp đáy Mioxen hình thành bởi chuyển động xô đẩy
9
lần thứ hai của họat động kiến tạo trượt ngang trái dọc theo hệ thống
10
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Các giai đoạn biến đổi đá trầm tích
Sau khi biến đổi vật liệu trầm tích thành đá trầm tích, nếu
như bể tiếp tục sụt lún thì các đá trầm tích bị nhấn chìm sâu hơn, khi
đó chúng sẽ bị trải qua các quá trình biến đổi, đó là giai đoạn xảy ra
những quá trình làm biến đổi từng phần các đá về thành phần, kiến
trúc, cấu tạo, song vẫn giữ được bản chất thạch học trầm tích ban đầu
dưới tác dụng của áp suất, gradien địa nhiệt, với sự tham gia của
nước ngầm và dung dịch lỗ hổng gọi là quá trình biến đổi thứ sinh.
Tính chất và cường độ biến đổi thứ sinh quyết định bởi thành phần
khoáng vật nguyên sinh, bề dày trầm tích, độ sâu sụt lún, thành phần
và nồng độ dung dịch lỗ hổng, áp suất một chiều và bối cảnh kiến tạo
của bồn trầm tích.
2.1.1.1. Giai đoạn hậu sinh (katagenes)
Là giai đoạn làm biến đổi đá trầm tích xảy ra sau giai đoạn
thành đá dưới tác dụng của các quá trình hóa lý, cơ lý, chấm dứt hoạt
động của vi sinh vật. Vì vậy, có thể coi ranh giới giữa giai đoạn
thành đá và hậu sinh là mặt giới hạn hoạt động của vi sinh vật. Khác
với tác dụng thành đá, các tác dụng hậu sinh xảy ra trong vỏ Trái đất
ở chiều sâu chôn vùi từ vài trăm mét tới hàng ngàn mét dưới tác
dụng của các yếu tố nhiệt độ, áp suất tăng, với sự tham gia của nước
dưới đất và dung dịch lỗ hổng. Nhiệt độ tăng cao chủ yếu do gradien
địa nhiệt tăng lên khi đá bị nhấn chìm xuống sâu. Áp suất thuộc loại
áp suất thủy tĩnh được thực hiện bởi các lớp đá phủ bên trên nhưng
đôi khi cũng có sự tham gia của áp suất định hướng do các quá trình
kiến tạo gây nên.
quá trình xảy ra trong giai đoạn biến sinh chủ yếu là các quá trình vô
12
cơ (hóa học, hóa lý). Ranh giới trên tiếp cận với tác dụng hậu sinh
chưa được xác định rõ ràng thường được coi là quy ước. Còn ranh
giới dưới tiếp cận với các quá trình biến chất là các tướng biến chất
thấp, song đôi khi cũng chỉ coi là một sự quy ước. Các tác dụng xảy
ra trong giai đoạn biến sinh cũng chủ yếu là các tác dụng tái kết tinh,
mất nước, trao đổi thay thế, thành tạo khoáng vật mới và nén ép.
Có thể chia ra 2 thời kỳ: - Thời kỳ biến sinh sớm: Thường ở
độ sâu từ 5000 8000m trong điều kiện nhiệt độ 200
0
300
0
C, áp
suất 2000 3000at. - Thời kỳ biến sinh muộn: Xảy ra ở độ sâu từ
8000 10.000 mét trong điều kiện nhiệt độ >300
o
C, áp suất> 3000at,
đá bị biến đổi mạnh hơn thời kỳ biến sinh sớm và đạt ngưỡng ranh
giới của đá trầm tích và đá biến chất.
2.1.2. Phân loại cát kết
Cát kết là loại đá trầm tích cơ học mảnh vụn có độ hạt 0,1
1mm (0,05 2mm). Thành phần của mảnh vụn chủ yếu là các loại
khoáng vật vững bền, thành phần xi măng phụ thuộc vào điều kiện
thành tạo có thể là sét Kiến trúc đặc trưng là kiến trúc cát và các
loại kiến trúc hỗn hợp, kiến trúc biến đổi. Cấu tạo tùy theo điều kiện
thành tạo có thể có cấu tạo khối, phân lớp ngang, phân lớp lượn sóng,
trúc của đất, đá, xác định những khoáng vật vô cùng nhỏ, như tinh
thể các loại khoáng vật sét, các tinh thể mới kết tinh, các khoáng vật
gặm mòn, rửa lũa…Từ đó có sự lý giải về mức độ biến đổi thứ sinh
của đá, cũng như sự thay đổi về hình thái của các khoáng vật sét.
Nhờ kính hiển vi điện tử mà có thể thấy được sự sắp xếp của các hạt
khoáng vật cũng như kích thước, hình dáng mật độ các lỗ hổng có
trong đá. Từ đó có thể nhận xét về khả năng chứa cũng như khả năng
dịch chuyển của các chất lưu có trong đá, làm cơ sở lý giải về sự
tương quan giữa độ thấm với độ rỗng của đá.
2.2.5. Phương pháp phân tích phổ năng lượng tán xạ tia X
Phương pháp này được gắn liền với phương pháp phân tích
SEM. Để xác định chính xác hàm lượng các nguyên tố có trong mỗi
14
khoáng vật, khi khó xác định chúng bằng hình dạng và kích thước, từ
đó lập lại công thức để gọi tên khoáng vật đang nghiên cứu.
2.2.6. Phương pháp nghiên cứu thạch học nguồn gốc
Ngoài phương pháp mài lát mỏng để phân tích thành phần
khoáng vật như đã mô tả ở (phần 2.2.2), các mẫu có hàm lượng
nền/xi măng dưới 25% và ít bị biến đổi được tiến hành phân tích
theo phương pháp thạch học nguồn gốc của Dickinson & Suczker
(1979).
Chƣơng 3
ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH MIOXEN PHẦN TÂY
BỂ CỬU LONG
3.1. Đặc điểm thạch học đá trầm tích
3.1.1. Phân loại và gọi tên đá
của Dickinson & Suczker (1979)
Theo kết quả phân tích này cho thấy rõ ràng thành phần hạt
vụn của các đá cát kết có nguồn gốc từ các khối lục địa.
3.5. Địa tầng hiện nay ở vùng nghiên cứu theo các tác giả
3.5.1. Thạch địa tầng
Hệ Neogen/Thống Mioxen dƣới/Hệ tầng Bạch Hổ (N
1
1
bh)
Được Ngô Thường San xác lập năm 1980, 1981 ở GK Bạch
Hổ - 1X. Tuổi của hệ tầng được xác định là Mioxen sớm theo các
phức hệ bào tử phấn bởi Lê Văn Cự, Nguyễn Địch Dỹ, Phan Huy
Quynh và nnk (1985).
Hệ Neogen
Thống Mioxen, phụ thống Mioxen giữa/Hệ tầng Côn Sơn (N
1
2
cs)
Hệ tầng được Ngô Thường San xác lập năm 1980 ở GK 15-
B - 1X trong khoảng chiều sâu 1583 - 2248m, bao gồm cả tầng sét
Rotalia nói trên. Tuổi của hệ tầng được xác lập theo tập hợp
nanoplankton, nghèo bào tử phấn và hóa đá foraminifera.
16
Hệ Neogen - phụ thống Mioxen trên/Hệ tầng Đồng Nai
Được Ngô Thường San xác lập năm 1980 ở GK 15G - 1X.
Tuổi của hệ tầng được xác lập theo tập hợp phong phú bào tử phấn
và nonaplankton, nghèo hóa đá foraminifera.
glauconit, độ rỗng nhìn thấy từ kém đến trung bình. Các trầm tích
được thành tạo trong môi trường biển nông từ trong - giữa. Bề dày
của các tập khá ổn định.
3.6.2. Tập T20 (Mioxen trên)
Tập T20 gồm chủ yếu cát kết xen các lớp mỏng sét kết, đá
vôi, dolomit và các lớp mỏng than lignit. Cát kết màu xám vàng nhạt,
nâu vàng nhạt, hạt mịn - trung bình, đôi khi thô - rất thô, góc cạnh -
bán tròn cạnh, chọn lọc kém đến trung bình, bở rời - gắn kết kém, ít
pyrit, glauconit, vỏ sinh vật, đôi khi chứa nhiều cát hạt mịn với xi
măng giàu dolomit và gắn kết rất tốt, sét chủ yếu màu xám vàng
nhạt, xám xanh nhạt xen với sét kết màu nâu đỏ, nâu vàng nhiều
màu. Đá vôi màu trắng đục - xám sáng, gắn kết tốt, đôi khi cứng,
giòn, thường chứa nhiều cát và glauconit, mảnh vỏ sinh vật, độ rỗng
nhìn thấy từ kém đến trung bình. Dolomit màu hồng nhạt, xám nâu
nhạt, trắng đục, thường gắn kết tốt, dạng á khối, á phiến lớp, chứa
nhiều pyrit.
3.6.3. Tập T30 (Mioxen giữa)
Tập T30 gồm chủ yếu là cát kết xen với các lớp sét kết, ít vỉa
mỏng dolomit, đá vôi và vỉa mỏng than. Cát kết màu xám vàng nhạt,
xám nâu nhạt, hạt rất mịn - thô, bán sắc cạnh - tròn cạnh, chọn lọc
kém - trung bình, gắn kết cứng - rất cứng, chứa nhiều mảnh đá nhiều
màu, vật liệu than, ít pyrit, xi măng sét và giàu dolomit, anhydrit. Sét
chủ yếu có màu nâu đỏ nhiều màu với ít sét kết màu xám nhạt, xám
vàng nhạt, mềm bở dạng vô định hình, dính và dễ hoà tan trong
nước. Đá vôi màu trắng xám, xám trung - xám vàng, gắn kết tốt,
cứng, giòn, xen lẫn với các lớp mỏng dolomit chặt xít. Các trầm tích
của tập được thành tạo trong môi trường aluvi - đồng bằng ven bờ
khô hạn, bề dày của tập khá ổn định . 19
Chƣơng 4
NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƢỞNG ĐẾN TÍNH
THẤM CHỨA TRẦM TÍCH MIOXEN
PHẦN TÂY BỂ CỬU LONG
4.1. Đặc điểm đá trầm tích
Do được hình thành trong các điều kiện trầm tích khác nhau
và sau đó lại chịu tác động của những quá trình biến đổi thứ sinh
không giống nhau nên đặc tính thấm và chứa của các đá này cũng
khác nhau.
Trầm tích Mioxen chủ yếu là cát kết hạt mịn đến trung, phân
lớp xiên chéo hoặc dạng khối xen kẽ với bột kết và sét kết màu lục,
đôi nơi có sét than hình thành trong môi trường từ biển nông đến
đồng bằng châu thổ ngập nước trong điều kiện năng lượng thấp tới
rất thấp, có hóa đá biển Foraminifera Rotalid. Khi nghiên cứu không
gian rỗng của đá thấy rằng độ rỗng nguyên sinh giữa các hạt chiếm
vai trò chủ yếu: 75% - 95%, trong khi đó độ rỗng thứ sinh (dạng rửa
lũa hòa tan các thành phần kém vững bền) chỉ chiếm một tỷ lệ quá
nhỏ (không quá 5%).
4.2. Đặc điểm biến đổi thứ sinh
Nhìn chung, các mẫu trong khu vực nghiên cứu đều bị ảnh
hưởng của những quá trình biến đổi thứ sinh bao gồm quá trình xi
măng hoá thành tạo các khoáng vật tại sinh, quá trình nén ép cơ học
và quá trình hòa tan và thay thế khoáng vật. Quá trình nén ép cơ học
của đá diễn ra yếu làm biến dạng ép dẹt các mảnh vụn làm giảm độ
rỗng nguyên sinh của đá. Quá trình hoà tan và thay thế khoáng vật
diễn ra khá phổ biến.
4.3. Quá trình tạo đá
4.5.2. Ảnh hưởng của quá trình biến đổi thứ sinh
Quá trình xi măng hoá thành tạo các khoáng vật tại sinh có
ảnh hưởng đáng kể tới độ lỗ hổng và độ thấm, chứa của đá. Mặt
khác, theo kết quả phân tích thành phần khoáng vật sét, cho thấy
21
trong mẫu cát kết chứa lượng nhỏ khoáng vật sét thuộc lớp hỗn hợp
illit/smectit và smectit. Do đặc tính trương nở rất mạnh của smectit
nên sự có mặt của nó cũng làm xấu đi tính chất chứa, đặc biệt là tính
chất thấm của đá.
Quá trình hoà tan và thay thế khoáng vật xảy ra ở một vài
mẫu. Sự có mặt của các khoáng vật không bền vững như felspat (20-
22%), granit (8 - 9%), vụn núi lửa, bị hoà tan và thay thế bởi kaolinit
và calcit làm giảm độ lỗ hổng nguyên sinh, làm giảm tính thấm, chứa
của đá.
4.5.3. Đánh giá khả năng chứa
Đá trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu Long có độ lỗ hổng
từ tốt đến rất tốt. Do vậy khả năng thấm và chứa của đá tốt là nơi
thuận lợi để dầu cư trú.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Đá chứa cát kết tuổi Mioxen phần Tây bể Cửu Long chủ yếu thuộc
các kiểu Arkos, Arkos lithic, ít hơn là Felspathic litharenit, cát kết có
độ hạt từ mịn đến thô, độ chọn lọc từ kém đến trung bình, hình dạng
hạt là nửa góc cạnh đến nửa tròn cạnh.
2. Thành phần hạt vụn chủ yếu là thạch anh (24 - 30%), felspat (20 -
24%), granit (10 - 15%), vụn núi lửa (6 - 11%), ít hơn là các mảnh
2. Tiếp tục nghiên cứu đánh giá chi tiết thành phần vật
chất, đặc điểm đá chứa, đá chắn cũng như khả năng biến đổi thứ sinh
trầm tích Oligoxen cho toàn bể Cửu Long
3. Nghiên cứu, đánh giá sự giảm, sự mất độ thấm của các
đá chứa cát kết qua các thí nghiệm bơm ép nước để có thể giải thích
được bởi loại và sự phân bố của các khoáng vật sét trong hệ thống lỗ
hổng. 23
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Trần Văn Nhuận, 2008, Đặc điểm thạch học khoáng vật trầm
tích Mioxen lô 16 - 1 bể Cửu Long, tạp chí dầu khí số 8/2009.
2. Trần Văn Nhuận, Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Đỗ Văn Nhuận,
Trần Thị Kim Hà, Đặc điểm trầm tích Mioxen phần Tây bể Cửu
Long, tạp chí dầu khí số 12/2009.
3. Trần Văn Nhuận, Một số vấn đề về quá trình tạo đá và các
phương pháp nghiên cứu, tạp chí dầu khí số 3/2010.
4. Trần Văn Nhuận, Đỗ Văn Nhuận, Đặc điểm đá chứa, đá chắn
trầm tích Mioxen phần Tây Bể Cửu Long, Đề tài NCKH cấp trường,
2010.
5. Vũ Thế Anh, Trần Văn Nhuận, Yungoo Song, Sự biến đổi
smectit- illit trong các thành tạo trầm tích tuổi Oligoxen - Mioxen,
Bể Cửu Long: Mối quan hệ với xi măng thạch anh và nhiệt độ chôn
vùi, tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học và công nghệ quốc tế - Dầu
khí Việt Nam 2010, Tăng tốc phát triển. Nhà xuất bản khoa học và