nghiên cứu đặc điểm trầm tích neogen và mối liên quan của chúng với hệ thống dầu khí - Pdf 24

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, học viên đã được sự quan tâm giúp đỡ của
nhiều người. Nhân đây, xin cho học viên được gửi lời cảm ơn chân thành với sự
giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn và sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô,
anh chị trong khoa Địa chất, thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc
Gia Hà Nội.
Cũng nhân đây, cho học viên xin cảm ơn tới Phòng Thăm dò của Công ty
Dầu khí Thái Bình đã giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn này.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Bồn trũng sông Hồng là đối tượng đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong đó
người ta đặc biệt quan tâm tới các trầm tích đệ tam. Trong suốt thế kỷ XX, chúng
là đối tượng nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, cho đến nay thì
hệ thống phân loại và hoạt động địa động lực vẫn chưa được làm rõ và còn nhiều
mâu thuẫn. Khu vực Tây Bắc bế Sông Hồng (TBBSH) là một đối tượng nằm
trong khung tổng thể của bế này. Chúng là đối tượng đã được tìm hiểu cũng đã từ
rất lâu và trên thực tế thì người ta đã phát hiện ra mỏ khí Tiền Hải C đã đưa vào
khai thác mỏ khí này nằm trong cát kết Miocen; mỏ Đông Quan hay Trà Lý
(D14) trong cát kết Oligocen. Tất cả các mỏ này đều nằm trong vùng biển gần
ven biển Thái Bình. Sau thời gian dài khai thác thì các mỏ khí này ngày càng cạn
kiệt dần. Chính vì vậy mà ta cần phải đánh giá lại tiềm năng dầu khí tại khu vực
này. Việc nghiên cứu đặc điểm trầm tích Neogen và mối liên quan của chúng với
hệ thống dầu khí là một trong số những nhiệm vụ mà ta cần phải làm, nó mang
tính thời sự và rất cấp thiết.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng 1
Cơ sở tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Khu vc Tõy Bc b Sụng Hng (TBBSH) cú din tớch bao gm min
vừng H Ni v mt phn l thuc vựng bin ngoi khi thuc cỏc lụ 102, 103,
107. Chỳng l mt phn ca bn trng Sụng Hng vi cỏc n v thnh h - cu

Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) và chúng đổ ra cửa Ba Lạt. Trước khi
đổ ra biển thì chúng bị tách thành hai con sông là Sông Trà Lý và Sông Giang.
Sông Hồng là sông già chúng đã thành tạo nên một vùng tam giác châu
rộng lớn. Chính hệ con sông này là nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu để hình
thành nên châu thổ Sông Hồng rộng lớn và chúng cũng cấp vật liệu chủ đạo cho
bồn trũng Sông Hồng để tạo nên những tập trầm tích có bề dày tới 14000m. Miền
đồng bằng bồi tích hạ lưu Sông Hồng chiếm tới hơn ¾ toàn bộ đồng bằng Bắc
Bộ với các trầm tích bao gồm cát bột sét. Cát ở đây thường là hạt trung đến nhỏ
thường tập trung ở lòng sông.
Khu vực bồi tích của hệ thống Sông Thái Bình gồm ba con sông chính là:
Sông Cầu, Sông Thương, và Sông Lục Nam. Phù sa của hệ thống sông này chủ
yếu là mang tính axit (PH: 4,8). Hệ thống tam giác châu của hệ thống sông này là
nhỏ, chúng có dạng vịnh phát triển các đồng bằng ngập mặn ven biển với thảm
thực vật bao gồm sú vẹt, dương xỉ nước lợ.
Sông Đuống, Sông Luộc là các con sông nối giữa hai hệ thống Sông Hồng
và Sông Thái Bình. Các hệ thống sông nhỏ do hai hệ thống kể trên tách ra đa
phân chúng nằm trên hệ thống các đứt gãy phát triển trong vùng.
1.1.2.Khí hậu
Nước ta nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa và khu vực
nghiên cứu cũng nằm trong ảnh hưởng của kiểu khí hậu này. Vùng này hàng năm
chịu ảnh hướng của hai hướng gió chính là: iió mùa mùa đông thổi chủ yếu theo
hướng Bắc – Đông Bắc với tốc độ trung bình đạt 4 – 5m/s và hoạt động từ tháng
10 năm trước tới tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau; gió mùa mùa hè thổi theo hướng
Nam - Đông Nam với tốc độ trung bình đạt 2 – 3m/s và hoạt động vào các tháng
còn lại trong năm.
Nhiệt độ trong vùng thay đổi rất nhanh theo mùa. Mùa hè, nhiệt độ thay
đổi trong khoảng 26 – 36
0
C, vào mùa đông thì nhiệt độ chỉ thay đổi trong khoảng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

những cảng lớn nhất cả nước, đó là nơi luân chuyển hàng hóa từ nhiều nơi về
phía Bắc nước ta theo đường biển. Ngoài ra thì do trong vùng có hai hệ thống
Sông Hồng và Sông Thái Bình cho nên đây cũng là hệ thống giao thông quan
trọng trong vùng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Khu vực này cũng là trung tâm văn hóa – xã hội lớn nhất miền Bắc, có
một thủ đô ngàn năm văn hiến và nó đồng thời cũng là nơi tập trung nông – công
nghiệp lớn nhất khu vực phía Bắc. Tiềm năng dầu khí nằm trong các tầng cát kết
trong trầm tích đệ tam giữ vai trò quan trọng và là nguồn năng lượng cung cấp
chủ yếu cho khu công nghiệp Tiền Hải (Thái Bình).
1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất dầu khí của khu vực TBBSH
Trong quá khứ cũng như hiện tại thì việc nghiên cứu đặc điểm địa chất địa
tầng của khu vực này gắn liền với công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu chúng được tiến hành từ khi người ta phát hiện ra các mỏ
khí trong các tầng cát kết trầm tích đệ tam. Có thể chia lịch sử tìm kiếm và thăm
dò dầu khí khu vực theo hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1987, và giai đoạn từ
năm 1988 – nay.
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1987
Những nghiên cứu đầu tiên về địa chất trong khu vực này chỉ được ghi
nhân qua giếng khoan thăm dò dầu khí năm 1927 tại làng Mỹ Hòa (Hà Đông).
Giếng khoan này đạt độ sâu 74m. Khi phát hiện được các trầm tích Neogen nằm
dưới lớp phủ đệ tứ đã tạo ra hướng phát triển dầu khí sau này tại miền võng Hà
Nội cũng như Tây Bắc bể Sông Hồng. Ở giai đoạn này thì chủ yếu tập trung khảo
sát tại miền võng Hà Nội, là vùng được nghiên cứu địa chất dầu khí ngay từ đầu
những năm 60 với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ. Hai phương pháp thăm dò đầu tiên
là khỏa sát từ hàng không và trọng lực (1961 - 1963). Về sau đó, người ta đã tiến
hành khảo sát thăm dò nghiên cứu trọng lực chi tiết taikj một số khu vực (phần
Đông Nam dải Khoái Châu – Tiền Hải, Kiến Xương). Trong nhiều năm thì miền
võng Hà Nội đã được ưu tiên đầu tư nghiên cứu thăm dò tổng lực theo các
phương pháp truyền thống từ địa mạo cấu tạo, thủy địa hóa, địa vật lí từ, trọng

này đưuọc đánh giá là quá nhỏ dưới mức thương mại chỉ đủ phục vụ yêu cầu địa
phương. Do vậy, họ đã không tiếp tục đầu tư mỏ. Tuy nhiên, họ cũng nêu rõ cách
nhìn về địa tầng trầm tích và lập được bản đồ cấu trúc mới thể hiện rõ các đới,
các yếu tố cấu trúc, kiến tạo và các đối tượng dầu khí đặc biệt trong Oligocen
làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp sau này. Chính Anzoil đã bắt đầu áp dụng các
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phương pháp “ phân tích bể ” và “ địa tầng phân tập” đối với các trầm tích đệ tam
của miền võng Hà Nội. Từ năm 2002 thì Maurel&Prom (Pháp) đã thay thế
Anzoil điều hành tại miền võng Hà Nội, đã khoan thêm 2 giếng B26 – 1X và B10
– 2X nhằm thăm dò và thẩm lượng đối tượng carbonat chứa dầu nhưng không
thành công. Trong năm 2001 – 2002, PIDC đã khoan tiếp 2 giếng khoan: giếng
khoan trên cấu tạo Phủ Cừ (PV – PC – 1X) là một cấu tạo nghịch đảo ở dải nâng
Khoái Châu – Tiền Hải, đạt độ sâu 2000m, kết quả không như mong đợi; giếng
khoan trên cấu tạo Xuân Trường (PV – XT – 1X) đạt độ sâu 1877m, giếng khoan
không gặp móng như dự kiến nhưng giếng có biểu hiện tốt về khí condensat, mặt
cắt cho thấy ở đây có đá mẹ Oligocen tốt với tổng hàm lượng carbon hữu cơ rất
cao, có tiềm năng sinh dầu. Các kết quả nghiên cứu mới hầu như không có, trong
khi đó hàng loạt những vấn đề về trầm tích học của các tầng chứa, về điều kiện
tích tụ và biến đổi trầm tích của các đá mẹ vẫn còn chưa được làm rõ. Một số vấn
đề bất cập đang tồn tại khi thăm dò hiện nay là:
• Các phân tích tướng trầm tích hầu như phụ thuộc vào sinh địa tầng, chưa
sử dụng được các kết quả phân tích tướng địa chấn, địa chấn địa tầng và
địa tầng phân tập. do đó chưa phù hợp và không giải thích đưuọc các phát
hiện bẫy địa tầng nguyên sinh. Cần phải làm rõ các mô hình tích tụ tiến
hóa trầm tích trong Kainozoi của khu vực nghiên cứu.
• Các nghiên cứu hệ thống dầu khí đặc biệt là tầng sinh hầu như đều thiếu
các phân tích về trầm tích học nên thường không chú ý đến đá mẹ Miocen,
do đó không giải thích được nguồn cung cấp của đá mẹ Miocen trong các
bẫy trầm tích và bẫy hỗn hợp tại mỏ khí Tiền Hải C.
1.3. Cơ sở tài liệu nghiên cứu đưuọc sử dụng trong luận văn

pháp truyền thống là hạn chế, do đó mà ta cần áp dụng cả phương pháp truyền
thống và có sự áp dụng hỗ trợ của các thiết bị hiện đại sẽ là phương tiện hữu hiệu
phục vụ cho việc nghiên cứu. Các phương pháp chính sủ dụng trong luận văn bao
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
gồm: Phương pháp thạch học, phương pháp phân tích các tham số định lượng
dầu khí, phương pháp phân tích bể, phương pháp phân tích địa tầng phân tập.
1.4.1 Phương pháp thạch học
Phương pháp phân tích thạch học là phương pháp phân tích cơ bản trong
nghiên cứu các quá trình tiến hóa trầm tích. Trong phương pháp phân tích thạch
học này thì thông thường đối với các trầm tích bở dời thì người ta thường phân
tích theo thành phần độ hạt, còn đối với các đá đã gắn kết thì người ta thường xác
định chúng dưới kính hiển vi. Phân tích thạch học không chỉ đơn thuần là phân
tích thành phần thạch học, phân tích độ hạt. Phân tích thành phần thạch học còn
giúp ta xác định các chỉ tiêu môi trường vận chuyển và tích tụ chúng, các chỉ tiêu
về độ chọn lọc độ mài tròn các chỉ số về độ Eh, PH sẽ giúp ta xác định được
chúng từ quá trình vận chuyển tới môi trường tích tụ. Ngoài ra, phân tích thành
phần thạch học còn giúp ta xác định được tướng của các loại đá trên khi ta két
hơp với một số phương pháp khác.
1.4.2. Phương pháp phân tích các tham số trầm tích
Việc nghiên cứu các tầng đá sinh, đá chứa, đá chắn là rất quan trọng trong
nghiên cứu phân tích bể để đánh giá tiềm năng dầu khí của chúng. Tuy nhiên, để
xác định được chúng có ở dạng tiềm năng và triển vọng hay không thì một điều
không thể bỏ qua là ta phải xác định cho được các thông số của các lớp trầm tích
đó là các thông số: Md (kích thước trung bình của hạt vụn trong đá), So (hệ số
chón lọc), Ro (hệ số mài tròn), Co (hệ số nén ép), I (hệ số biến đổi thứ sinh), Li
(hàm lượng xi măng %), Me (độ rỗng hiệu dụng %), K (độ thấm (mD)), Q (hàm
lượng thạch anh). Trong đó thì mối quan hệ giữa độ rỗng và độ thấm với các
thông số trầm tích khác có thể viết dưới dạng:
Me (K) = f( Q, Md, So, Ro, Li, Co, I)
Độ lỗ rỗng và độ thấm có vai trò rất lớn trong việc di chuyển và tích tụ

xác định được chính xác thành phần trầ tích cũng như ranh giới của các tập trầm
tích này.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.4.4. Phương pháp phân tích địa tầng phân tập
Về cơ bản như đã nói ở trên thì phương pháp này dựa trên nguyên lý các
tập trầm tích khác nhau thì chúng sẽ có các mặt phản xạ khác nhau. Các mặt
phản xạ này thể hiện qua các dải liên tục hoặc không liên tục trên dải băng địa
chấn. dựa trên cơ sở thiết lập lại được các tướng trầm tích thì sẽ làm sáng tỏ được
sự phân bố theo không gian và thời gian của các tập trầm tích để từ đó có thể xây
dưng lại được quá trình thành tạo trầm tích qua các giai đoạn phát triển khác
nhau của chúng. Sự phát triển thay thế nhau theo không gian và thời gian của các
tướng trầm tích sẽ chỉ cho ta biết cơ cấu cụ thể của hệ thống dầu khí sinh – chứa
– chắn – bẫy. Việc xác định được các bẫy địa tầng ngyên thủy là không thể thiếu
được trong phân tích tướng trầm tích và nhất là trong nghiên cứu về địa chất dầu.
các bể trầm tích bị chôn vùi dưới sâu thường là không lộ ra trên bề mặt đất do
vậy mà nghiên cứu địa chấn nhất là nghiên cứu địa tầng phân tập là phương pháp
hữu hiệu cho công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí.
Nghiên cứu địa tầng phân tập sẽ giúp ta khôi phục lại được các điều kiện
về không gian tích tụ cũng như sự thay đổi tương đối của sự thay đổi mực nước
trong bể trong tầm. Phương pháp địa tầng phân tập còn là phương pháp dùng để
xác định các quá trình biển tiến và thoái rất hữu hiệu. Việc xây dưng lại được quá
trình hình thành thành nguyên thủy của các lớp trầm tích sẽ là tiền đề để ta có thể
xác định lại được các quá trình biến đổi bể trầm tích sau đó. Tuy nhiên, trong
phạm vi của luận văn thì học viên chỉ sử dụng phương pháp địa tầng phân tập để
giải quyết các vấn đề như: không gian tích tụ trầm tích, các miền hệ thống trầm
tích, và sự thay đổi mực nước biển.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ch¬ng 2
®Æc ®iÓm ®Þa chÊt cña khu vùc t©y b¾c bÓ s«ng hång
Khu vực tây Bắc bể Sông Hồng là khu vực bao gồm miền võng Hà Nội và

gần như là tương tự nhau. Một tập trầm tích phải được định rõ theo các đặc trưng
như sau:
- Một tập trầm tích đều phải có ranh giới trên và dưới rõ ràng, dễ phân
biệt. Ranh giới giữa các tập có thể là mặt bất chỉnh hợp hoặc là mặt chỉnh hợp,
hoặc là mặt ranh giới giữa hai tổ hợp trầm tích có bản chất và nguồn gốc khác
nhau.
- Sự phân bố và sắp xếp của các yếu tố như phân lớp, phân dải, các
thành phần bên trong tập. Trong cùng một tập có thể gồm một số tổ hợp các đá
có cùng nguồn gốc và cùng được thành tạo trong cùng một khoảng thời gian liên
tục.
- Các tập phân bố bên cạnh nhau phải có sự phân bố rõ ràng về bản chất
và nguồn gốc hay điuều kiện, hoàn cảnh và cơ cấu thành tạo.
Như vậy, mặt bất chỉnh hợp khu vực không thể tồn tại ở bên trong một
tập. Trong cùng một tập cũng không thẻ có hai loại trầm tích trái ngược nhau về
bản chát và nguồn gốc. Cả hai nguyên tắc này đã bị vi phạm khi điều chỉnh các
hệ tầng trầm tích Phù Tiên, Đình Cao cũ thành các hệ tầng cùng tên mới hậu quả
dẫn đến những sai xót và lẫn lộn trong nghiên cứu trầm tích và phân tích tiến
hóa, kiến tạo của Tây Bắc bể Sông Hồng trong các giai đoạn đầu Kainozoi.
b. Phân loại.
Phân loại thạch học truyền thống đã dựa vào các tiêu chuẩn thành phần,
kiến trúc và cấu tạo. Trong thạch học trầm tích thì các cơ sở để phân loại và mô
tả xác định đá là màu sắc, thành phần, kiến trúc, cấu tạo, các dấu vết sinh vật và
các biến đổi khi thành đá. Để phân loại các trầm tích trong Kainozoi của Tây Bắc
bể Sông Hồng thì học viên đã tiến hành theo các bước:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Phân loại màu của trầm tích khi mới thành tạo. Màu này phản ánh
tương quan của FeO/Fe
2
O
3

chuẩn quan trọng. Khi phân loại, cần chú ý phân tách các mảnh vụn và nền, phân
biệt nền (vật liệu tha sinh) và xi măng (vật liệu tự sinh). Trầm tích lục nguyên
được phân thành 3 nhóm chính: Thạch anh (Q), feldspat (F), mảnh vụn đá (L).
theo các tỉ lệ khác nhau thì chúng sẽ cho tên gọi các đá khác nhau.
+ Phân loại theo kiến trúc
Kiến trúc của đá là những đặc điểm về hình dáng, kích thước, mức độ kết
tinh của các thành phần tạo đá. Với các trầm tích Neogen của TBBSH. Việc phân
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
loại này không những chỉ xác định tên đá mà chúng còn là chỉ tiêu quan trọng
trong việc phân tích tướng. Các tiêu trí phân loại kiến trúc theo tiêu chuẩn quy
định phân tích độ hạt, độ cầu và độ mài tròn. Trong phân loại kiến trúc không
những chỉ chú ý các mảnh vụn mà còn phân tích và phân biệt kiến trúc nền và xi
măng.
+ Phân loại theo cấu tạo
Cấu tạo là những đặc điểm về sự phân bố và sắp xếp trong không gian của
các hợp phần tạo đá. Các dạng cấu tạo phân lớp có giá trị lớn để phân tích và
nhận biết môi trường lắng đọng trầm tích. Dấu hiệu cấu tạo còn giúp cho sự nhận
biết các biến dạng đã xảy ra trong các tập trầm tích.
2.1.2. Mô tả địa tầng
Trong khu vực Tây Bắc bể Sông Hồng thì trong giai đoạn Neogen đã
thành tạo nên 4 hệ tầng bao gồm: hệ tầng Phong Châu, hệ tầng Phủ Cừ, hệ tầng
Tiên Hưng và hệ tầng Vĩnh Bảo. Đó là các thành tạo trầm tích có nguồn gốc từ
lục địa (trầm tích lục nguyên).
Hệ tầng Phong Châu (N
1
1
pch).
Hệ tầng này được xác lập theo mặt cắt tại lỗ khoan K.100(1820,0 –
3200,0m) sau này thì chúng cũng được phát hiện tại nhiều lỗ khoan tại miền
võng Hà Nội. Thành phần trầm tích ở đây bao gồm: từ cát kết hạt trung, màu

– bột kết, sét than và than là phân trên cùng. Phụ tầng dưới cát kết là chủ yếu, sét
bột kết lớp mỏng. các trầm tích mịn tăng lên trong phụ tầng giữa, càng lên trên
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thì các lớp sét bột và sét kết càng dày. Phụ tầng trên có sự cân bằng về độ dày
giữa các tập trầm tích mịn và cát kết cùng với vỉa than tăng dần.
Hệ tầng này phủ bất chỉnh hợp lên trên hệ tầng Phong Châu và chuyển
tiếp từ từ lên hệ tầng Tiên Hưng, ranh giới này vẫn có những bất chỉnh hợp địa
phương.
Hệ tầng Tiên Hưng (N
3
1
th).
Mặt cắt của hệ tầng này gồm 3 phần:
Phần dưới: chúng là sự xen kẽ của cát kết glauconit, cát bột kết phân lớp,
cát kết không chứa glauconit, sét kết màu đen và các lớp than. Chúng chứa phức
hệ thực vật có nguồn gôc hỗn hợp lục địa – ven biển, Trapa – Acrostichum –
Oleandra và các di tích Mullusca ven biển.
Phần giữa: chúng là sự xen kẽ các loại đá như phần dướ. Tuy nhiên, tỉ lệ
thành phần hạt mịn là lớn hơn. Chúng có chứa phức hệ thực vật rừng ẩm cận
nhiệt đới Quercus cf. lobbii – Diospyros brachysepala và phức hệ bào tử phấn
hoa phong phú và đa dạng có cùng đặc tính sinh thái.
Phần trên: là sự xen kẽ của cát kết, bột kết sét kết và than, chúng gắn kết
kém hơn ở phần dưới. Chúng là các trầm tích đầm lày bởi ở đây đã phát hiện ra
các hóa thạch thuộc loại này.
Theo các tài liệu khoan sâu thì hệ tầng này bị hệ tầng Vĩnh Bảo phủ bất
chỉnh hợp lên trên, và đáy hệ tầng Tiên Hưng chuyển tiếp dần xuống hệ tầng Phủ
Cừ ở phía dưới.
Hệ tầng Vĩnh Bảo (N
2
vb).

như sau:
a. Đới sụt lún trung tâm
Đới trung tâm này được giới hạn bởi hệ thống đứt gãy Sông Lô về phía
Đông Bắc và hệ thống đứt gãy Sông Chảy (Kiến Xương) về phía Tây Nam. Hệ
thống móng trầm tích trước Kainozoi bị chôn vùi rata sâu co nơi dày tới 6 – 7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
km. hầu hết các giếng khoan trong miền võng Hà Nội (MVHN) đều được tiến
hành trong đới cấu trúc này. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất một giếng khoan trong
đới cauas trúc này là đạt tới móng Mesozoi tại cấu tạo phủ cừ ở độ sâu 3941m
(K.104/3941m - TD). Tại đây, móng là các tập dày Rhyorite có thành phần khá
giống với đá phun trào Anizi (T
2
a) vùng Tam Đảo. Phần lớn các giếng khoan sâu
khác đều trong các tập Miocen hay bắt đầu tới phần trên của Oligocen thậm trí cả
giếng khoan sâu nhất trong MVHN là giếng khoan Cồn Đen đạt tới độ sâu
(K.110/4253m ). Như vậy, chiều dày của các tập trầm tích đệ tam trong đới trung
tâm có thể đạt tới 6 – 7 km. Đó là tầng cấu trúc tiêu biểu của đới trung tâm và có
thể phân thành hai phụ đới có đặc trưng cấu trúc khác nhau với ranh giới là đứt
gãy Vĩnh Ninh.
+ Trũng Đông Quan.
Là đới cấu trúc tách giãn trong Oligoxen chúng phân bố bên phía cánh
chui đông bắc đứt gãy Vĩnh Ninh tới đứt gãy Sông Lô giáp với đời rìa đông bắc.
Về phía đông và đông nam, phụ đới này có thể nhập vào phụ đới nghịch đảo
Miocen. Do đây là trũng sụt lún điển hình với các tập trầm tích đồng tách giãn
Oligocen và oằn võng, sụt lún sau tách giãn Miocen. Các tập trầm tích Oligocen
chúng phân bố hầu như trong các địa hào và bán địa hào. Cấu trúc của các địa
hào này thường bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy thuận và đứt gãy kiểu
dạng cành cây. Một số các đứt gãy địa phương kiểu cành cây hướng đông bắc –
tây nam đã phân cách các tập trầm tích Oligocen thành các khối nhỏ hình thành
nên hệ thống cấu trúc bậc 3 là các cấu tạo kề với các đứt gãy nghiêng này. Các

Thụy. Các mặt cắt trầm tích đệ tam trong đới cấu trúc này bị vát mỏng dần về
phía sườn đông bắc từ 1000 – 2000m trong một số các bán địa hào rất hẹp, có nơi
vát không đáng kể. Hầu hết các giếng khoan kể cả khoan nông trong đới này đều
phát hiện được móng Paleozoi hoặc là đá carbonat, hoặc là các đá phiến, quazit
(B26 – 1X) có khi cả hai loại (B10 – STB -1X) đều có tuổi Paleozoi muộn.
Tương tự các thành tạo lộ trên dới ngoài rìa cấu trúc bề mặt móng chủ yếu dạng
đơn nghiêng bậc thang, đôi chỗ có các bán địa hào nhỏ hẹp, kề áp các đứt gãy địa
phương. Các tập trầm tích Oligocen thường là mỏng và hạn chế trong các bán địa
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hào này. Nhiều nơi khác, chúng phủ bất chỉnh hợp trên móng là các tập mỏng
trầm tích Neogen có độ dày tăng dần và nằm hơi nghiêng về đới trung tâm.
Nằm phía ngoài của đới rìa đông bắc, hầu như chỉ có lớp phủ trầm tích đệ
tứ trên móng Paleozoi. Một số nơi móng Paleozoi lộ rõ trên bề mặt như các vùng
Kiến An, Đồ Sơn, Hoàng Thạch… một vài diện nhỏ phân bố các trầm tích
Neogen dọc theo đường 18 gần Phả Lại tách biết hẳn khỏi cấu trúc của TBBSH.
c. Đới cấu trúc rìa tây nam
Nằm phía trên cánh treo tây nam của hệ thống đứt gãy Kiến Xương (Sông
Chảy) là đới cấu trúc rìa có đọ phân dị phức tạp. dải kéo dài giữa hai đứt gãy
Sông Chảy và Hưng Yên trướ đây chúng được coi là thềm nâng địa lũy Hưng
Yên , ít có triển vọng dầu khí. Giếng khoan tìm kiếm đầu tiên tại thành phố Nam
Định không phát hiện được các trầm tích đệ tam và chỉ có lớp mỏng trầm tích đệ
tứ phủ trên móng đá kết tinh từ trước Kainozoi. Tuy nhiên, tại Xuân Trường các
giếng khoan đã phát hiên đưuọc các trầm tích đệ tam khá dày từ 500 – 600m đến
1500 – 2000m (K18/280 – 879m và PV – XT – 1X/277 – 2000m). Do vậy, đây
có thể là đới cấu trúc phân dị phức tạp. móng của chúng bao gồm cả các thành
tạo biến chất cao trong Proterozoi và magma, trầm tích Paleozoi – Mesozoi. Các
trầm tích Oligocen có thể phân bố trong một số địa hào hẹp kéo dài, còn trầm
tích Neogen có thể phân bố rộng với chiều dày mỏng. Bao ngoài đới rìa tây nam
là hệ thống câu trúc Mesozoi cũng phát triển theo hướng cấu trúc kéo dài tây bắc
– đông nam.

chia thành 3 khu vực ở đây có 3 phức hệ tướng đặc trưng: ở khu đông bắc chủ
yếu là trầm tích aluvi – delta, ở khu vực tây bắc trầm tích thuộc tướng dạng hồ
lớn lục địa, khu vực đông nam chủ yếu là trầm tích vũng vịnh, vũng cửa sông. Và
kết thúc là sét biển nông chứa động sinh vật biển có xen kẽ các tướng sét đầm lầy
chứa than. Trong suốt thời kỳ Phủ Cừ sớm đến cả thời kỳ Tiên Hưng sớm thì quá
trình tích tụ trầm tích vẫn liên tục bị phân hóa thành 3 khu vực như trên. Đá bị
biến đổi đến giai đoạn hậu sinh sớm – muộn. Đến thời kỳ này quá trình tách giãn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bồn rift đi vào giai đoạn kết thúc, đồng thời bắt đầu xuất hiện một pha nén ép cục
bộ kéo dài cho đến Miocen muộn.
Chu kỳ 3: H50 – H40(Miocen muộn). ứng với phần dưới và giữa của hệ
tầng Tiên Hưng. Trầm tích thuộc tướng cát sạn aluvi, cát bột châu thổ và sét đầm
lầy tạo than, ở giai đoạn thành đá sớm – muộn. Đây là phức hệ trầm tích molas
mở đầu một pha kiens tạo mới: nén ép ngang uốn nếp, bồn trũng co rút và xuất
hiện hệ thống đứt gãy xương cá.
Chu kỳ 4: >H10 (N
2
– Q). Chu kỳ này ứng với phần trên của Miocen
muộn với thông pliocen và hệ đệ tứ. Các hệ tầng bao gồm hệ tầng Vĩnh Bảo và
các hệ tầng thuộc hệ đệ tứ. Trầm tích thuộc hệ tầng Vĩnh Bảo bao gồm các tướng
cát bột tiền châu thổ và bột sét biển nông. Chúng chuyển dần lên hệ đệ tứ với chu
kỳ trầm tích mới. Đưuọc đạc trưng bởi các tướng cuội sạn cát aluvi ở đầu chu kỳ
với tướng bột sét vũng vịnh ở cuối chu kỳ.
2.2.2. các hoạt động đứt gãy
Hoạt động đứt gãy trong khu vực diễn ra hết sức phức tạp. Các đứt gãy
hcinhs trong vùng chủ yếu là các đứt gãy hệ thống có phương tây bắc – đông
nam. Các hệ thống đông bắc – tây nam, á kinh tuyến (bắc - nam) tuy có biểu hiện
nhưng chúng chỉ mang tính địa phương và ít phổ biến. Hệ thống các đứt gãy
hướng tây bắc - đông nam thường phát triển khá sâu và một số đóng vai trò là đứt
gãy phân chia MVHN thành các đới cấu trúc khác nhau như đã nói ở trên. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status