nghiên cứu đặc điểm trầm tích Neogen và mối liên quan của chúng vớihệ thống dầu khí - Pdf 33

Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn, học viên đã được sự quan tâm giúp đỡ của
nhiều người. Nhân đây, xin cho học viên được gửi lời cảm ơn chân thành với sự
giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn và sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô,
anh chị trong khoa Địa chất, thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc
Gia Hà Nội.
Cũng nhân đây, cho học viên xin cảm ơn tới Phòng Thăm dò của Công ty
Dầu khí Thái Bình đã giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn này.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

LỜI MỞ ĐẦU

Bồn trũng sông Hồng là đối tượng đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong đó
người ta đặc biệt quan tâm tới các trầm tích đệ tam. Trong suốt thế kỷ XX, chúng
là đối tượng nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, cho đến nay thì
hệ thống phân loại và hoạt động địa động lực vẫn chưa được làm rõ và còn nhiều
mâu thuẫn. Khu vực Tây Bắc bế Sông Hồng (TBBSH) là một đối tượng nằm
trong khung tổng thể của bế này. Chúng là đối tượng đã được tìm hiểu cũng đã từ
rất lâu và trên thực tế thì người ta đã phát hiện ra mỏ khí Tiền Hải C đã đưa vào
khai thác mỏ khí này nằm trong cát kết Miocen; mỏ Đông Quan hay Trà Lý
(D14) trong cát kết Oligocen. Tất cả các mỏ này đều nằm trong vùng biển gần
ven biển Thái Bình. Sau thời gian dài khai thác thì các mỏ khí này ngày càng cạn
kiệt dần. Chính vì vậy mà ta cần phải đánh giá lại tiềm năng dầu khí tại khu vực
này. Việc nghiên cứu đặc điểm trầm tích Neogen và mối liên quan của chúng với
hệ thống dầu khí là một trong số những nhiệm vụ mà ta cần phải làm, nó mang
tính thời sự và rất cấp thiết.

theo hng Tõy Bc ụng Nam. cao ca a hỡnh khụng quỏ 12m ch cũn
li mt s nỳi cũn sút li Kin An Sn v Nỳi Gụi Nam nh.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

Địa hình ở đây do có các hệ thống Sông Hồng, Sông Thái Bình nên chúng
vẫn bị chia cắt. Càng ra gần tới biển thì chúng càng bị chia cắt mạnh hơn. Sông
Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) và chúng đổ ra cửa Ba Lạt. Trước khi
đổ ra biển thì chúng bị tách thành hai con sông là Sông Trà Lý và Sông Giang.
Sông Hồng là sông già chúng đã thành tạo nên một vùng tam giác châu
rộng lớn. Chính hệ con sông này là nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu để hình
thành nên châu thổ Sông Hồng rộng lớn và chúng cũng cấp vật liệu chủ đạo cho
bồn trũng Sông Hồng để tạo nên những tập trầm tích có bề dày tới 14000m. Miền
đồng bằng bồi tích hạ lưu Sông Hồng chiếm tới hơn ¾ toàn bộ đồng bằng Bắc
Bộ với các trầm tích bao gồm cát bột sét. Cát ở đây thường là hạt trung đến nhỏ
thường tập trung ở lòng sông.
Khu vực bồi tích của hệ thống Sông Thái Bình gồm ba con sông chính là:
Sông Cầu, Sông Thương, và Sông Lục Nam. Phù sa của hệ thống sông này chủ
yếu là mang tính axit (PH: 4,8). Hệ thống tam giác châu của hệ thống sông này là
nhỏ, chúng có dạng vịnh phát triển các đồng bằng ngập mặn ven biển với thảm
thực vật bao gồm sú vẹt, dương xỉ nước lợ.
Sông Đuống, Sông Luộc là các con sông nối giữa hai hệ thống Sông Hồng
và Sông Thái Bình. Các hệ thống sông nhỏ do hai hệ thống kể trên tách ra đa
phân chúng nằm trên hệ thống các đứt gãy phát triển trong vùng.
1.1.2.Khí hậu
Nước ta nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa và khu vực
nghiên cứu cũng nằm trong ảnh hưởng của kiểu khí hậu này. Vùng này hàng năm
chịu ảnh hướng của hai hướng gió chính là: iió mùa mùa đông thổi chủ yếu theo
hướng Bắc – Đông Bắc với tốc độ trung bình đạt 4 – 5m/s và hoạt động từ tháng

vùng là rất cao bởi vì đây là trung tâm kinh tế của khu vực phía Bắc nước ta. Hệ
thống đưuòng sắt Thống Nhất chạy Bắc Nam, và Hà Nội – Hải Phòng là tương
đối tốt. Hệ thống đường thủy thì tại Hải Phòng có cảng Hải Phòng - một trong
những cảng lớn nhất cả nước, đó là nơi luân chuyển hàng hóa từ nhiều nơi về
phía Bắc nước ta theo đường biển. Ngoài ra thì do trong vùng có hai hệ thống
Sông Hồng và Sông Thái Bình cho nên đây cũng là hệ thống giao thông quan
trọng trong vùng.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

Khu vực này cũng là trung tâm văn hóa – xã hội lớn nhất miền Bắc, có
một thủ đô ngàn năm văn hiến và nó đồng thời cũng là nơi tập trung nông – công
nghiệp lớn nhất khu vực phía Bắc. Tiềm năng dầu khí nằm trong các tầng cát kết
trong trầm tích đệ tam giữ vai trò quan trọng và là nguồn năng lượng cung cấp
chủ yếu cho khu công nghiệp Tiền Hải (Thái Bình).
1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất dầu khí của khu vực TBBSH
Trong quá khứ cũng như hiện tại thì việc nghiên cứu đặc điểm địa chất địa
tầng của khu vực này gắn liền với công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu chúng được tiến hành từ khi người ta phát hiện ra các mỏ
khí trong các tầng cát kết trầm tích đệ tam. Có thể chia lịch sử tìm kiếm và thăm
dò dầu khí khu vực theo hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1987, và giai đoạn từ
năm 1988 – nay.
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1987
Những nghiên cứu đầu tiên về địa chất trong khu vực này chỉ được ghi
nhân qua giếng khoan thăm dò dầu khí năm 1927 tại làng Mỹ Hòa (Hà Đông).
Giếng khoan này đạt độ sâu 74m. Khi phát hiện được các trầm tích Neogen nằm
dưới lớp phủ đệ tứ đã tạo ra hướng phát triển dầu khí sau này tại miền võng Hà
Nội cũng như Tây Bắc bể Sông Hồng. Ở giai đoạn này thì chủ yếu tập trung khảo
sát tại miền võng Hà Nội, là vùng được nghiên cứu địa chất dầu khí ngay từ đầu

trên cơ sở phân tích và xử lý lại các tài liệu cũ, họ đã phát hiện thêm nhiều cấu
tạo không chỉ trong Miocen mà quan trọng hơn là các đối tượng mới trong
Oligocen. Anzoil cũng đã chứng minh được mặt bất chỉnh hợp giữa Oligocen,
pha nghịch đảo kiến tạo Miocen muộn và nhiều cấu tạo nằm dưới các bất chỉnh
hợp này. Với 8 giếng khoan cả thăm dò và thẩm lượng, Anzoil đã phát hiện được
mỏ khí nhỏ Sông Trà Lý (D14 - STL) tại Đông Quan (Thái Bình) và biểu hiện
dầu trong móng Paleozoi vùng cửa Sông Thái Bình (B10 - STV) các phát hiện
này đưuọc đánh giá là quá nhỏ dưới mức thương mại chỉ đủ phục vụ yêu cầu địa
phương. Do vậy, họ đã không tiếp tục đầu tư mỏ. Tuy nhiên, họ cũng nêu rõ cách
nhìn về địa tầng trầm tích và lập được bản đồ cấu trúc mới thể hiện rõ các đới,
các yếu tố cấu trúc, kiến tạo và các đối tượng dầu khí đặc biệt trong Oligocen
làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp sau này. Chính Anzoil đã bắt đầu áp dụng các


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

phương pháp “ phân tích bể ” và “ địa tầng phân tập” đối với các trầm tích đệ tam
của miền võng Hà Nội. Từ năm 2002 thì Maurel&Prom (Pháp) đã thay thế
Anzoil điều hành tại miền võng Hà Nội, đã khoan thêm 2 giếng B26 – 1X và B10
– 2X nhằm thăm dò và thẩm lượng đối tượng carbonat chứa dầu nhưng không
thành công. Trong năm 2001 – 2002, PIDC đã khoan tiếp 2 giếng khoan: giếng
khoan trên cấu tạo Phủ Cừ (PV – PC – 1X) là một cấu tạo nghịch đảo ở dải nâng
Khoái Châu – Tiền Hải, đạt độ sâu 2000m, kết quả không như mong đợi; giếng
khoan trên cấu tạo Xuân Trường (PV – XT – 1X) đạt độ sâu 1877m, giếng khoan
không gặp móng như dự kiến nhưng giếng có biểu hiện tốt về khí condensat, mặt
cắt cho thấy ở đây có đá mẹ Oligocen tốt với tổng hàm lượng carbon hữu cơ rất
cao, có tiềm năng sinh dầu. Các kết quả nghiên cứu mới hầu như không có, trong
khi đó hàng loạt những vấn đề về trầm tích học của các tầng chứa, về điều kiện
tích tụ và biến đổi trầm tích của các đá mẹ vẫn còn chưa được làm rõ. Một số vấn
đề bất cập đang tồn tại khi thăm dò hiện nay là:

1.3.2. Các tài liệu và báo cáo liên quan đến khu vực nghiên cứu
Trong khu vực nghiên cứu có trên 80 giếng khoan đa phần là khoan sâu
tìm kiếm, thăm dò và thẩm lượng. Các tài liệu về báo cáo khoan cũng đa dạng và
phức tạp. Các báo cáo về phân tích thành phần thạch học, báo cáo về hoạt động
kiến tạo trong khu vực, các báo cáo về tướng đá cổ địa lí, các báo cáo về đánh giá
địa chất của bể Sông Hồng và các báo cáo chuyên đề về phân tích tướng trầm
tích của bể Sông Hồng.
1.4. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận văn.
Theo nghiên cứu và phân tích các bồn trầm tích ở Việt Nam hầu như là
chúng đều không xuất hiện các vết lộ trên bề mặt. Việc thu thập các tài liệu về lỗ
khoan cũng như các tài liệu về địa chấn là vô cùng hạn chế. Cho nên hầu như các
mẫu thạch học thu thập được chủ yếu là các mẫu vụn cơ học. Việc áp dụng các
phương pháp nghiên cứu phục vụ cho việc phân tích bồn dựa trên các phương
pháp truyền thống là hạn chế, do đó mà ta cần áp dụng cả phương pháp truyền
thống và có sự áp dụng hỗ trợ của các thiết bị hiện đại sẽ là phương tiện hữu hiệu
phục vụ cho việc nghiên cứu. Các phương pháp chính sủ dụng trong luận văn bao


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

gồm: Phương pháp thạch học, phương pháp phân tích các tham số định lượng
dầu khí, phương pháp phân tích bể, phương pháp phân tích địa tầng phân tập.
1.4.1 Phương pháp thạch học
Phương pháp phân tích thạch học là phương pháp phân tích cơ bản trong
nghiên cứu các quá trình tiến hóa trầm tích. Trong phương pháp phân tích thạch
học này thì thông thường đối với các trầm tích bở dời thì người ta thường phân
tích theo thành phần độ hạt, còn đối với các đá đã gắn kết thì người ta thường xác
định chúng dưới kính hiển vi. Phân tích thạch học không chỉ đơn thuần là phân
tích thành phần thạch học, phân tích độ hạt. Phân tích thành phần thạch học còn
giúp ta xác định các chỉ tiêu môi trường vận chuyển và tích tụ chúng, các chỉ tiêu

trong việc nghiên cứu hệ thống dầu khí, khả năng di chuyển của dầu khí cũng
như khả năng chứa chắn của chúng.
1.4.3. Phương pháp phân tích bể
Phương pháp phân tích bể là phương pháp xây dựng lại, xác lập lại mô
hình địa chất từ khi hình đến các giai đoạn phát triển của theo các thời kỳ khác
nhau và cho đến giai đoạn kết thúc bể trầm tích. Đó chính là quá trình khôi phục
lại các quá trình địa động lực hình thành nên các tập trầm tích theo từng giai
đoạn tiến hóa hình thành nên chúng. Trong luận văn này, học viên sử dụng các
mặt cắt địa chấn làm cơ sở cho việc phân chia các tập trầm tích. Chúng dựa theo
các lớp đất đá khác nhau khi ta thu nổ địa chấn thì các lớp trầm tích khác nhau sẽ
cho ta vận tốc truyền sóng khác nhau và ta sẽ thu được các dải trên băng địa
chấn, các mặt này chính là nó thể hiện các lớp trầm tích khác nhau. Mỗi tập trầm
tích khác nhau thì chúng được khống chế bởi bởi môi trường và hoàn cảnh địa
động lực khác nhau. Môi trường và hoạt động địa động lực này biểu hiện trong
thành phần và đặc điểm cấu trúc của các tập trầm tích khác nhau. Các lớp đất đá
khác nhau thì cúng sẽ có các tính chất vật lí khác nhau như tốc độ truyền sóng, sư
khác nhau của các tập này thì tạo ra ranh giới giữa chúng là gián đoạn hoặc liên
tục. trên các ranh giới của các tập trầm tích thể hiện trên dải băng địa chấn thì
chúng đã được kiểm nghiệm lại bằng các tài liệu llox khoan để từ đó ta có thể
xác định được chính xác thành phần trầ tích cũng như ranh giới của các tập trầm
tích này.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

1.4.4. Phương pháp phân tích địa tầng phân tập
Về cơ bản như đã nói ở trên thì phương pháp này dựa trên nguyên lý các
tập trầm tích khác nhau thì chúng sẽ có các mặt phản xạ khác nhau. Các mặt
phản xạ này thể hiện qua các dải liên tục hoặc không liên tục trên dải băng địa
chấn. dựa trên cơ sở thiết lập lại được các tướng trầm tích thì sẽ làm sáng tỏ được

Các thành tạo trầm tích trong Neogen của bồn trũng Sông Hồng chủ yếu
là các thành tạo có nguồn gốc lục nguyên, trong đó có một số lớp sét và sét –
than mỏng. Các trầm tích này được phân bố và sắp xếp theo các tập có cùng
nguồn gốc sinh thành trung cùng một điều kiện động lực và trong một môi
trường là như nhau. Để lặp lại được điều kiện thành tạo chúng, trước hết ta cần
phải phân loại chúng theo từng tập, sau đó sẽ phân loại chi tiết cho từng loại đá.
Để có được hệ thống nhất quán, thì trước hết cần phải phân loại chúng theo các
tập sinh thành, sau đó sẽ vận dụng các tiêu chuẩn phân loại đá vụn theo thành
phần kiến trúc và cấu tạo.
2.1.l. Khái niệm và phân loại địa tầng
a. Khái niệm.
Trước tiên, ta cần phải hiểu thế nào là một tầng. Tầng (lớp) là một tập hợp
các đá được hình thành trong cùng một điều kiện về địa chất chúng là những thể
địa chất của các hạt vụn co tính chất tương đồng về điều kiện thành tạo cũng như
các đặc tính vật lý. Tập trầm tích được sử dụng ở Việt Nam hiện nay có thể theo
hai hướng khác nhau. Hướng sử dụng thông thường, tập là mốt số lớp đất đá nằm
chồng chất lên nhau hoặc một lớp dày có nhiều lớp mổng hay thấu kính xen bên
trong. Theo địa tầng phân tập (sequense stratygraphy) “tập” là đơn vị cơ bản của
hệ thống phân loại trầm tích địa tầng. thực tế thì tập trầm tiochs cũng là tập địa
tầng. Tuy vậy, khi phân tích quá trình tích tụ thì tập trầm tích mang nội dung


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

thiên về nguồn gốc thành tạo nhiều hơn là tập địa tầng theo trật tự sắp xếp trong
mặt cắt địa chất. Trong xử lý và minh giải địa chấn còn sử dụng tập địa chấn là
các lớp nằm giới hạn giữa hai mặt phản xạ hoạc do bất chỉnh hợp gây nên hay do
tầng – lớp đá có tính phản xạ mạnh. Tính chất truyền sóng trong cùng một tập
gần như là tương tự nhau. Một tập trầm tích phải được định rõ theo các đặc trưng
như sau:

bể Sông Hồng thì học viên đã tiến hành theo các bước:


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

-

Phân loại màu của trầm tích khi mới thành tạo. Màu này phản ánh

tương quan của FeO/Fe2O3. Chỉ số môi trường Eh Fe2+< Fe3+ oxi hóa (đỏ) và
Fe2+> Fe3+ khử (xám).
-

Phân loại cỡ hạt theo kích thước để xác định được tên đá sơ bộ.

-

Xác định thành phần và định lượng thành phần thứ sinh như các mảnh

vụn, của nền, thành phần tại sinh như xi măng. Thành phần tạo đá chính là cơ sở
để phân loại và đặt tên các đá như đơn khoáng, ít khoáng, đa khoáng, acko,
grauvac.
-

Phân tích kiến trúc như hình dáng hạt vụn: độ mài tròn, góc cạnh, độ

cầu. Dựa vào đó dự đoán quá trình vận chuyển lắng đọng và bào mòn.
-

Phân tích chi tiết các mảnh vụn quan trọng, các dấu vết sinh vật trong

những chỉ chú ý các mảnh vụn mà còn phân tích và phân biệt kiến trúc nền và xi
măng.
+ Phân loại theo cấu tạo
Cấu tạo là những đặc điểm về sự phân bố và sắp xếp trong không gian của
các hợp phần tạo đá. Các dạng cấu tạo phân lớp có giá trị lớn để phân tích và
nhận biết môi trường lắng đọng trầm tích. Dấu hiệu cấu tạo còn giúp cho sự nhận
biết các biến dạng đã xảy ra trong các tập trầm tích.
2.1.2. Mô tả địa tầng
Trong khu vực Tây Bắc bể Sông Hồng thì trong giai đoạn Neogen đã
thành tạo nên 4 hệ tầng bao gồm: hệ tầng Phong Châu, hệ tầng Phủ Cừ, hệ tầng
Tiên Hưng và hệ tầng Vĩnh Bảo. Đó là các thành tạo trầm tích có nguồn gốc từ
lục địa (trầm tích lục nguyên).
Hệ tầng Phong Châu (N11pch).
Hệ tầng này được xác lập theo mặt cắt tại lỗ khoan K.100(1820,0 –
3200,0m) sau này thì chúng cũng được phát hiện tại nhiều lỗ khoan tại miền
võng Hà Nội. Thành phần trầm tích ở đây bao gồm: từ cát kết hạt trung, màu
trắng, trắng xám, sét bột kết màu xám đen, chứ nhiều ổ và các thấu kính than
nâu. Trong cát kết có chứa nhiều khoáng vật đồng sinh glauconit và các kết hạch
siderit. Chúng đặc trưng cho môi trường trầm tích biển, tướng vũng vịnh, ven bờ.
Đôi chỗ quan sát thấy sự xen kẽ những lớp cát kết hạt thô, hoặc sạn kết, cuội kết
có thành phần gần như đơn khoáng. Cát kết chủ yếu ở đây là cát kết đa khoáng,
thành phần hạt vụn gồm: thạch anh, canxi, các mảnh vụn đá magma từ xâm nhập
tới phun trào, chúng có độ chọn lọc và mài tròn từ trung bình tới tốt. Các lớp sạn
kết và cuội kết cũng có thành phần đa khoáng, độ mài tròn và chọn lọc trung
bình. Các lớp sét kết, bột kết phân lớp dày dạng khối, có khi tới vài chục mét.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

Trong tập này thường chứa nhiều ổ, thấu kính, vỉa than màu đen. Thành

Mặt cắt của hệ tầng này gồm 3 phần:
Phần dưới: chúng là sự xen kẽ của cát kết glauconit, cát bột kết phân lớp,
cát kết không chứa glauconit, sét kết màu đen và các lớp than. Chúng chứa phức
hệ thực vật có nguồn gôc hỗn hợp lục địa – ven biển, Trapa – Acrostichum –
Oleandra và các di tích Mullusca ven biển.
Phần giữa: chúng là sự xen kẽ các loại đá như phần dướ. Tuy nhiên, tỉ lệ
thành phần hạt mịn là lớn hơn. Chúng có chứa phức hệ thực vật rừng ẩm cận
nhiệt đới Quercus cf. lobbii – Diospyros brachysepala và phức hệ bào tử phấn
hoa phong phú và đa dạng có cùng đặc tính sinh thái.
Phần trên: là sự xen kẽ của cát kết, bột kết sét kết và than, chúng gắn kết
kém hơn ở phần dưới. Chúng là các trầm tích đầm lày bởi ở đây đã phát hiện ra
các hóa thạch thuộc loại này.
Theo các tài liệu khoan sâu thì hệ tầng này bị hệ tầng Vĩnh Bảo phủ bất
chỉnh hợp lên trên, và đáy hệ tầng Tiên Hưng chuyển tiếp dần xuống hệ tầng Phủ
Cừ ở phía dưới.
Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb).
Các thành tạo của hệ tầng này không lộ trên mặt mà chỉ quan sát được qua
các tài liêu khoan. Chiều dày của hệ tầng đạt 132,5m. Thành phần trầm tích chủ
yếu bao gồm: cát kết hạt nhỏ đến hạt thô xen kẽ với các lớp bột kết, sét bột kết và
cát sạn kết, đá có cấu tạo phân nhịp không rõ ràng, mỗi nhịp bắt đầu từ cát sạn
kết chuyển dần lên cát kết – bột kết xen sét bột kết. nhìn chung đá ở hệ tầng này
gắn kết yếu bở rời và có hiện tượng phong hóa yếu.


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

Hệ tầng này bị hệ tầng Lệ Chi phủ bất chỉnh hợp lên trên.
2.2. đặc điểm cấu trúc địa chất và hoạt động địa động lực.
Trong khu vực nghiên cứu thì chúng thì do chúng nằm trong phạm vi hẹp
của bồn trũng Sông Hồng cho nên hoạt động địa động lực của chúng gắn liền với

đới cauas trúc này là đạt tới móng Mesozoi tại cấu tạo phủ cừ ở độ sâu 3941m
(K.104/3941m - TD). Tại đây, móng là các tập dày Rhyorite có thành phần khá
giống với đá phun trào Anizi (T2a) vùng Tam Đảo. Phần lớn các giếng khoan sâu
khác đều trong các tập Miocen hay bắt đầu tới phần trên của Oligocen thậm trí cả
giếng khoan sâu nhất trong MVHN là giếng khoan Cồn Đen đạt tới độ sâu
(K.110/4253m ). Như vậy, chiều dày của các tập trầm tích đệ tam trong đới trung
tâm có thể đạt tới 6 – 7 km. Đó là tầng cấu trúc tiêu biểu của đới trung tâm và có
thể phân thành hai phụ đới có đặc trưng cấu trúc khác nhau với ranh giới là đứt
gãy Vĩnh Ninh.
+ Trũng Đông Quan.
Là đới cấu trúc tách giãn trong Oligoxen chúng phân bố bên phía cánh
chui đông bắc đứt gãy Vĩnh Ninh tới đứt gãy Sông Lô giáp với đời rìa đông bắc.
Về phía đông và đông nam, phụ đới này có thể nhập vào phụ đới nghịch đảo
Miocen. Do đây là trũng sụt lún điển hình với các tập trầm tích đồng tách giãn
Oligocen và oằn võng, sụt lún sau tách giãn Miocen. Các tập trầm tích Oligocen
chúng phân bố hầu như trong các địa hào và bán địa hào. Cấu trúc của các địa
hào này thường bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy thuận và đứt gãy kiểu
dạng cành cây. Một số các đứt gãy địa phương kiểu cành cây hướng đông bắc –
tây nam đã phân cách các tập trầm tích Oligocen thành các khối nhỏ hình thành
nên hệ thống cấu trúc bậc 3 là các cấu tạo kề với các đứt gãy nghiêng này. Các
tập trầm tích Miocen thường phân bố trong các trũng lõm kiểu lòng chảo do oằn
võng và hầu như không bị biến dạng uốn nếp như phụ đới nghịch đảo Miocen kề
phía tây nam.
+ phụ đới cấu trúc do nghịch đảo cấu trúc trong Miocen hay còn được gọi
theo tên khác là đới nâng Khoái Châu – Tiền Hải. Phụ đới này phân bố trên phía
cánh chờm tây nam đứt gãy nghịch Vĩnh Ninh tới đứt gãy Kiến Xương (Sông
Chảy) chúng tiếp giáp với đới rìa tây nam của miền võng Hà Nội. Về phía đông
và đông nam thì phụ đới này đưuọc mở rộng lên trên cả trũng Đông Quan (phụ



phương. Các tập trầm tích Oligocen thường là mỏng và hạn chế trong các bán địa


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

hào này. Nhiều nơi khác, chúng phủ bất chỉnh hợp trên móng là các tập mỏng
trầm tích Neogen có độ dày tăng dần và nằm hơi nghiêng về đới trung tâm.
Nằm phía ngoài của đới rìa đông bắc, hầu như chỉ có lớp phủ trầm tích đệ
tứ trên móng Paleozoi. Một số nơi móng Paleozoi lộ rõ trên bề mặt như các vùng
Kiến An, Đồ Sơn, Hoàng Thạch… một vài diện nhỏ phân bố các trầm tích
Neogen dọc theo đường 18 gần Phả Lại tách biết hẳn khỏi cấu trúc của TBBSH.
c. Đới cấu trúc rìa tây nam
Nằm phía trên cánh treo tây nam của hệ thống đứt gãy Kiến Xương (Sông
Chảy) là đới cấu trúc rìa có đọ phân dị phức tạp. dải kéo dài giữa hai đứt gãy
Sông Chảy và Hưng Yên trướ đây chúng được coi là thềm nâng địa lũy Hưng
Yên , ít có triển vọng dầu khí. Giếng khoan tìm kiếm đầu tiên tại thành phố Nam
Định không phát hiện được các trầm tích đệ tam và chỉ có lớp mỏng trầm tích đệ
tứ phủ trên móng đá kết tinh từ trước Kainozoi. Tuy nhiên, tại Xuân Trường các
giếng khoan đã phát hiên đưuọc các trầm tích đệ tam khá dày từ 500 – 600m đến
1500 – 2000m (K18/280 – 879m và PV – XT – 1X/277 – 2000m). Do vậy, đây
có thể là đới cấu trúc phân dị phức tạp. móng của chúng bao gồm cả các thành
tạo biến chất cao trong Proterozoi và magma, trầm tích Paleozoi – Mesozoi. Các
trầm tích Oligocen có thể phân bố trong một số địa hào hẹp kéo dài, còn trầm
tích Neogen có thể phân bố rộng với chiều dày mỏng. Bao ngoài đới rìa tây nam
là hệ thống câu trúc Mesozoi cũng phát triển theo hướng cấu trúc kéo dài tây bắc
– đông nam.
Hoạt động địa động lực của TBBSH của các trầm tích trong Neogen gắn
liền với các hoạt động kiến tạo của bồn trũng Sông Hồng. Tiến hóa trầm tích phải
được đặt trong mối quan hệ nhân quả giữa bối cảnh kiến tạo (hoạt động địa động
lực) với đặc điểm trầm tích. Mỗi pha kiến tạo sẽ tạo ra cho riêng mình một loại

yếu là trầm tích aluvi – delta, ở khu vực tây bắc trầm tích thuộc tướng dạng hồ
lớn lục địa, khu vực đông nam chủ yếu là trầm tích vũng vịnh, vũng cửa sông. Và
kết thúc là sét biển nông chứa động sinh vật biển có xen kẽ các tướng sét đầm lầy
chứa than. Trong suốt thời kỳ Phủ Cừ sớm đến cả thời kỳ Tiên Hưng sớm thì quá
trình tích tụ trầm tích vẫn liên tục bị phân hóa thành 3 khu vực như trên. Đá bị
biến đổi đến giai đoạn hậu sinh sớm – muộn. Đến thời kỳ này quá trình tách giãn


Website: http://www.kilobooks.com Email : [email protected]

bồn rift đi vào giai đoạn kết thúc, đồng thời bắt đầu xuất hiện một pha nén ép cục
bộ kéo dài cho đến Miocen muộn.
Chu kỳ 3: H50 – H40(Miocen muộn). ứng với phần dưới và giữa của hệ
tầng Tiên Hưng. Trầm tích thuộc tướng cát sạn aluvi, cát bột châu thổ và sét đầm
lầy tạo than, ở giai đoạn thành đá sớm – muộn. Đây là phức hệ trầm tích molas
mở đầu một pha kiens tạo mới: nén ép ngang uốn nếp, bồn trũng co rút và xuất
hiện hệ thống đứt gãy xương cá.
Chu kỳ 4: >H10 (N2 – Q). Chu kỳ này ứng với phần trên của Miocen
muộn với thông pliocen và hệ đệ tứ. Các hệ tầng bao gồm hệ tầng Vĩnh Bảo và
các hệ tầng thuộc hệ đệ tứ. Trầm tích thuộc hệ tầng Vĩnh Bảo bao gồm các tướng
cát bột tiền châu thổ và bột sét biển nông. Chúng chuyển dần lên hệ đệ tứ với chu
kỳ trầm tích mới. Đưuọc đạc trưng bởi các tướng cuội sạn cát aluvi ở đầu chu kỳ
với tướng bột sét vũng vịnh ở cuối chu kỳ.
2.2.2. các hoạt động đứt gãy
Hoạt động đứt gãy trong khu vực diễn ra hết sức phức tạp. Các đứt gãy
hcinhs trong vùng chủ yếu là các đứt gãy hệ thống có phương tây bắc – đông
nam. Các hệ thống đông bắc – tây nam, á kinh tuyến (bắc - nam) tuy có biểu hiện
nhưng chúng chỉ mang tính địa phương và ít phổ biến. Hệ thống các đứt gãy
hướng tây bắc - đông nam thường phát triển khá sâu và một số đóng vai trò là đứt
gãy phân chia MVHN thành các đới cấu trúc khác nhau như đã nói ở trên. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status