BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN VĂN BÌNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ
VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI HIỆN TƯỢNG LÚN MẶT ĐẤT
Ở KHU VỰC PHÍA TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Địa chất học
Mã số : 62 44 02 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội, năm 2015
- Thư viện Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
1
MỞ ĐẦU
Khu vực phía Tây thành phố Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa
với tốc độ nhanh. Đặc điểm địa chất ở đây được đánh giá là phức tạp, trong
đó có tầng đá vôi phân bố rộng rãi, bị nứt nẻ, dập vỡ mạnh, đôi nơi có hang
karst ngầm. Trầm tích Đệ có nhiều nguồn gốc, thành phần, tính chất cơ lý
khác nhau, đặc biệt là sự có mặt của tầng đất yếu.
Từ năm 2007 đến nay, ở một số nơi như xã Ngọc Mỹ, xã Thạch Thán
(huyện Quốc Oai) xuất hiện nhiều vết nứt mới trên các công trình cũ, tải
trọng thấp, đã xây dựng từ lâu, các vết nứt này ngày càng mở rộng. Kết quả
nghiên cứu nhận định nền đất ở những khu vực này đang bị lún, biểu hiện
của lún rất phức tạp và diễn biến khó lường. Ngoài ra, ở khu vực này đã
xảy ra nhiều điểm lún - sụt mặt đất làm hư hỏng và phá hủy công trình xây
dựng. Hiện tượng lún, lún-sụt mặt đất xảy ra do nhiều nguyên nhân và liên
quan trực tiếp đến trầm tích Đệ tứ (thành phần thạch học, đặc điểm phân
bố, chỉ tiêu cơ lý) và nước dưới đất. Tuy nhiên, các nghiên cứu chi tiết về
chúng ở khu vực phía Tây Thành phố Hà Nội còn hạn chế. Đây là lý do để
nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm trầm tích Đệ tứ và
mối liên quan với hiện tượng lún mặt đất ở khu vực phía Tây thành
phố Hà Nội”.
1. Mục tiêu của luận án
Làm sáng tỏ đặc điểm thành phần thạch học, tính chất cơ lý, sự phân bố
của trầm tích Đệ tứ và mối liên quan giữa chúng với hiện tượng lún và lún -
sụt mặt đất, đặc biệt là thành tạo đất yếu ở khu vực phía Tây thành phố Hà
Nội, đề xuất các giải pháp phòng chống, phục vụ phát triển bền vững cơ sở
hạ tầng.
hóa ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội”. NCS làm chủ nhiệm (2013).
+ Đề án “Nghiên cứu tai biến địa chất sụt lún mặt đất và đề xuất giải pháp
xử lý tại Km16, TL 419 thuộc thị trấn Quốc Oai, Thành phố Hà Nội” (Viện
KH Địa chất và Khoáng sản-Bộ Tài nguyên và MT thực hiện năm 2009).
3
+ Dự án “Mitigation of Geohazards in Vietnam” do ĐH Quốc gia HN
(VNU) và Viện Địa kỹ thuật Nauy (NGI) thực hiện (năm 2007).
+ Báo cáo kết quả điều tra khảo sát xác định nguyên nhân sụt đất và thi
công trám lấp hố sụt tại Xóm 16, Thôn Áng Hạ, Lê Thanh, Mỹ Đức và tại
Đội 6, thôn Thượng, xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Nội (2011).
5. Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Trầm tích Đệ tứ ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội được
chia thành 4 kiểu mặt cắt với 18 phụ kiểu dựa trên đặc điểm trầm tích, tuổi
- nguồn gốc và đặc điểm phân bố.
Luận điểm 2: Lún và lún - sụt mặt đất ở khu vực phía Tây thành phố Hà
Nội diễn ra có tính chất cục bộ. Lún mặt đất xảy ra ở khu vực phân bố trầm
tích thuộc mặt cắt kiểu 1 (phụ kiểu 1.2, 1.3 và 1.4) và kiểu 3 do mực nước
ngầm bị hạ thấp. Lún-sụt xảy ra ở khu vực phân bố trầm tích thuộc các kiểu
mặt cắt 1 và 3 do hoạt động khai thác nước dưới đất không hợp lý và kết
hợp với sự có mặt của tầng đá vôi nứt nẻ, hang karst ngầm.
6. Những điểm mới của luận án
- Trên cơ sở liên kết các đặc điểm trầm tích và tính chất cơ lý của đất,
xác định phạm vi phân bố theo chiều sâu và trong không gian của các tập
trầm tích Đệ tứ ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội.
- Xây dựng chi tiết các kiểu (phụ kiểu) mặt cắt trầm tích Đệ tứ và phạm
vi phân bố của chúng ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội.
- Làm sáng tỏ nguyên nhân lún và lún-sụt cục bộ liên quan với trầm tích
Đệ tứ, đặc biệt là các tập trầm tích đất yếu ở khu vực phía Tây TP Hà Nội.
- Khoanh định chi tiết các khu vực phân bố lún và lún-sụt mặt đất trong
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1975
Các công trình nghiên cứu địa chất chủ yếu phục vụ cho việc tìm
kiếm và khai thác khoáng sản. Các nghiên cứu về trầm tích ít được quan
tâm. Sau năm 1965 mới có một số công trình nghiên cứu được công bố.
1.1.2. Giai đoạn sau năm 1975 tới nay
Từ năm 1975 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về trầm tích Đệ
tứ khá toàn diện ở vùng đồng bằng Sông Hồng được công bố. Liên đoàn
Bản đồ Địa chất miền Bắc hoàn thành đo vẽ bản đồ địa chất nhóm tờ
5
Hà Đông-Hoà Bình (1988) và nhóm tờ thành phố Hà Nội (1994) tỷ lệ
1:50.000. Trầm tích Đệ tứ ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội gồm các
hệ tầng: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Hưng và Thái Bình. Ngoài ra, trong vùng
nghiên cứu có các Liên đoàn, Đoàn địa chất số thực hiện một số công tác thăm
dò mỏ, các điểm khoáng sản, thăm dò, quan trắc và khai thác nước dưới đất.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về lún mặt đất và mối liên quan
với trầm tích Đệ tứ
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Winslow và Wood[39] cho rằng đối với các vật liệu hạt mịn bão hòa
nước thì lượng sụt lún tương đương với lượng không gian lỗ rỗng bị mất do
nén chặt. Poland và Davis [72] xác định nguyên nhân gây lún mặt đất là:
1)tải trọng ở bề mặt đất; 2)chấn động gần bề mặt đất; 3) sự nén chặt do tưới
tiêu và sản xuất nông nghiệp; 4) mất nước và sự co ngót của trầm tích;
5)quá trình oxy hóa vật liệu hữu cơ; 6) sự hạ thấp mực nước dưới đất; 7)
suy giảm áp lực.
Theo Leake S.A, trong trường hợp các tầng chứa nước lỗ rỗng xen kẹp
các tầng cách, khi áp lực trong tầng chứa nước bị hạ thấp đồng nghĩa với
việc làm gia tăng ứng suất nén cho các lớp cách nước, các thấu kính sét-sét
pha làm cho chúng bị nén chặt (trở nên mỏng hơn) và được coi như là lún
của bề mặt đất, quá trình lún không thể hồi phục.
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Cà Mau và một số tỉnh, thành phố
khác thuộc đồng bằng sông Cửu Long
Ở thành phố Hà Nội, lún mặt đất đã được các nhà khoa học cảnh báo từ
những năm 80 của thế kỷ 20. Nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu
về lún mặt đất ở Hà Nội (cũ) như: Nguyễn Kim Cương (1995); Trần Trọng
Huệ và nnk (1995,1996); ĐoànThế Tường (1999); Trần Văn Hoàng và Bùi
Thị Bảo Anh (2000); Phạm Quý Nhân (2004); Trần Mạnh Liểu (2005);
Trần Văn Tư và nnk (2009); Đặng Vũ Khắc và nnk và nhiều tác giả khác.
7
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nền địa chất tồn tại tầng đất yếu có chiều
dày từ 4m đến 24m. Từ năm 1992 (năm đầu tiên theo dõi lún mặt đất qua
ảnh vệ tinh) đến 2011, đã ghi nhận được 17/24 quận, huyện bị lún từ 20cm
đến 50cm. Tốc độ lún ngày càng tăng và tỉ lệ thuận với tốc độ đô thị hóa.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội
1.2.3.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) và Viện Địa kỹ thuật Nauy
(Norwegian Geotechnical Institute-NGI) đã hợp tác thực hiện dự án
“Mitigation of Geohazards in Vietnam”. Một trong những nhiệm vụ của dự
án là nghiên cứu lún mặt đất ở thành phố Hà Nội.
Công ty CP Công nghệ Địa vật lý; Viện Khoa học Địa chất và Khoáng
sản-Bộ Tài nguyên và Môi trường; Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài
nguyên nước Miền Bắc đã thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu hiện
tượng lún - sụt mặt đất ở các huyện Quốc Oai và Mỹ Đức. Kết quả cho thấy
những vị trí bị lún-sụt đều có mặt tầng cát mịn, tầng đất yếu (bmQ
2
1-2
hh).
Nguyễn Văn Bình và nnk nghiên cứu đặc điểm địa chất, địa chất công
trình - địa chất thủy văn và các tai biến địa chất tiềm ẩn liên quan trong quá
sau: Na Vang (P
2
nv); Yên Duyệt (P
2
yd); Viên Nam; Tân Lạc (T
1
o tl); Đồng
Giao (T
2
a dg); Nậm Thẳm (T
2
nt) và hệ tầng Sông Bôi (T
2
3
sb).
1.3.2.2. Các thành tạo Đệ tứ
Trầm tích Đệ tứ ở phía Tây thành phố Hà Nội gồm các hệ tầng Hà Nội,
Vĩnh Phúc, Hải Hưng, Thái Bình.
1.3.3. Đặc điểm địa chất thủy văn khu vực phía Tây thành phố Hà Nội
Nước dưới đất ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội tồn tại dưới 2 dạng
là nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ bở rời và nước khe nứt, karst trong
tầng đá gốc, chủ yếu là đá vôi các hệ tầng Đồng Giao và NaVang.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
Dao động mực nước biển đối với sự hình thành và phân bố trầm tích:
Mối tương quan giữa giữa tốc độ lắng đọng trầm tích, hoạt động
9
kiến tạo và dao động mực nước biển giữ vai trò chủ đạo trong suốt quá
thổ
Sườnchâu
thổ
Mực nước biển khi triều cường
Mực nước biển khi triều kiệt
Lòng sông
Bãi triều
Cồn cát
cửa sông
vỏ phong
hóa
Đá gốc
L
u tích
(Proluvi) (P)
TiÒn ch©u thæ
(delta front)
ĐBCT
(delta plain)
al (hå mãng ngùa
)
ac
A
+
+
+
+
+
+
+
b
å
i
)
a
c
(
l
ß
n
g
s
«
n
g
)
af
af
(Prodelta)
§ång b»ng
(a )
3
S«ng miÒn
Trung du
S«ng miÒn
nói
Lũ tích
sét màu vàng, nâu vàng. Thành phần cuội chủ yếu là thạch anh (50%), đá
phun trào mafic (30%), ngoài ra còn có cát bột kết, tuf kích thước từ 5 -
15cm. Hàm lượng cuội sạn sỏi có nơi chiếm tới 70%; cát 20-25% và bột sét
khoảng 5-10%.
Phần 2. Cát, lẫn bột, sét màu vàng, nâu đỏ chứa sạn thạch anh, được
phát hiện trong các hố khoan. Thành phần cát chủ yếu là thạch anh, silic,
sắc cạnh, không đều có chứa sạn nhỏ. Chiều dày trầm tích từ 7,5m đến
>20m. Thành phần độ hạt gồm: cát chiếm khoảng 50-75%; sạn sỏi chiếm 5-
11
20%; bột sét chiếm 5-10%. Thông số độ hạt gồm: Md=0,33-0,4mm; Ro=
0,12-0,2; So=3,3-4,5. Thí nghiệm SPT: N=20-25.
Phần 3. Sét, bột màu nâu vàng, nâu đỏ, trên mặt có nhiều sạn laterit.
Thành phần độ hạt gồm sét chiếm 45-53,4%, bột chiếm 19% đến 22,8%,
cát chiếm 15% đến 21% và sạn chiếm từ 3,1% đến 5,5%. Các thông số độ
hạt gồm: Md=0,0055mm; S
o
=3,02-4,15; S
k
=0,21-0,3. Chỉ số môi trường
gồm độ pH=6,6, Kt=0,24. Thí nghiệm SPT: N
30
=17- 42, ở gần bề mặt đá
gốc N
30
=30-50.
3.1.2. Trầm tích lòng sông (aQ
1
2-3
hn)
1
3
vp)
Thành phần là sét, sét bột màu sắc loang lổ. Thành phần khoáng vật sét
là kaolinit và hydromica, TPHH của sét gồm SiO
2
(50-70%), Al
2
O
3
(15-
23%), Fe
2
O
3
(2-5%), TiO
2
(0,5-1,8%). Chỉ số môi trường: pH=7 và Kt
=0,28. Ở huyện Quốc Oai, thành phần độ hạt gồm sét từ 30% đến 75%; bột
từ 11% đến 34% và cát từ 7% đến 20%, thông số độ hạt: Md=0,015-
0,005mm; S
k
=0,5-0,7; S
0
= 3,1-5,5. Ở huyện Chương Mỹ, thành phần độ
12
hạt gồm sét: 39% - 51%; bột: 35%-43% và cát: 27,4 -31,7%, thông số độ
hạt: Md=0,007-0,020mm; S
o
α
ư
=26
0
-29
0
; góc nghỉ khi khô α
k
=33
0
- 34
0
30’; hệ số rỗng: e
min
=0,702-
0,735; e
max
=1,023-1,085.
3.3.2. Trầm tích đầm lầy ven biển (bmQ
2
1-2
hh)
Thành phần là sét-bột hoặc sét-cát chứa v/c hữu cơ màu xám đen. Thành
phần độ hạt: cát từ 19% đến 43,5%; bột từ 18% đến 34% và sét 34,5% đến
61,5%. Thông số độ hạt: Md = 0,01-0,070mm; S
o
=3,2- 3,6; S
k
=0,8-1,1.
Ở huyện Quốc Oai, trầm tích phân bố ở thị trấn Quốc Oai và lân cận. Ở
3.3.4. Trầm tích sông - đầm lầy
Trầm tích phân bố hẹp, rải rác ở vùng ven biển của các đồng bằng, chiều
dày nhỏ. Thành phần là bột sét, sét, bùn, sét-cát, nhiều mùn thực vật.
3.4. Trầm tích hệ tầng Thái Bình (aQ
2
3
tb)
3.4.1. Trầm tích lòng sông.
Thành phần là cát hạt mịn màu nâu vàng, xám vàng. Ở khu vực huyện
Mỹ Đức, thành phần độ hạt: cát từ 82,2 đến 94,3%, bột từ 4% đến 12,8%
và sét từ 2% đến 5% và các thông số độ hạt gồm: Md = 0,128 - 0,224mm;
So = 1,8 - 2,53; Sk = 1,15 - 1,35. Ở khu vực huyện Quốc Oai, thành phần
độ hạt gồm: cát chiếm 71,6 đến 90,73%, bột chiếm từ 6,3% đến 21,8% và
sét từ 3% đến 7% và các thông số độ hạt gồm Md = 1,41 - 0,231mm; So =
1,65- 1,85; S
k
= 0,97-1,15. Thành phần của cát chủ yếu là thạch anh (80%-
85%), ít mảnh đá và mi ca, trầm tích có độ chọn lọc trung bình.
3.4.2. Trầm tích bãi bồi
Thành phần là sét bột, bột sét lẫn cát màu nâu, nâu vàng, xám vàng, nâu
xám. TPKV là sét kaolinit, hydromica và clorit. Ở khu vực huyện Quốc
Oai, thành phần độ hạt: sét 31,5%-72,5%, bột 32%-55% và cát0,6%-7,4%.
Thông số độ hạt : Md=0,005-0,013mm; S
o
=2,6-3,8;
S
k
=0,73-0.92. Ở huyện
phía Tây huyện Quốc Oai, Miếu Môn.
- Phụ kiểu 2.2: Phân bố không liên tục ở các xã Hoàng Văn Thụ, Thống
Nhất, Đại Yên và một phần xã Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ).
- Phụ kiểu 2.3: Phân bố với diện hẹp, không liên tục ở thôn Đình Tổ, xã
Ngọc Liệp (Quốc Oai) và một phần xã Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ).
- Phụ kiểu 2.4: Phân bố thành một dải kéo dài từ thị trấn Quốc Oai đến xã
Đại Đồng huyện Chương Mỹ.
3.5.2.3. Mặt cắt trầm tích kiểu 3
- Phụ kiểu 3.1: Phân bố ở Thôn Yên Nội, xã Đồng Quang, Quốc Oai.
a(f) Q
2
³ tb
bmQ
2
¹-² hh
a(c)Q
2
³ tb
ap,a(f) Q
1
²-³hn
a(f)Q
1
³ vp
P
2
nv
a(c)Q
1
2
³ tb
bmQ
2
¹-² hh
amQ
2
¹-² hh
aQ
1
²-³hn
P
2
nv
amQ
2
¹-² hh
P
2
nv
amQ
2
¹-² hh
a(f) Q
2
³ tb
a dg
apQ
1
²-³hn
T
2
a dg
Phụ kiểu 2.1 Phụ kiểu 2.2 Phụ kiểu 2.3
Phụ kiểu 2.4
apQ
1
²-³hn
T
2
a dg
a(f)Q
1
³ vp
a(c)Q
1
³ vp a(f)Q
1
³ vp
a(c)Q
1
³ vp a(f)Q
1
³ vp
Mặt cắt điển hình
kiểu 2
T
2
a dg
mQ
2
¹-² hh
T
2
a dg
bmQ
2
¹-² hh
a(f)Q
1
³ vp
bmQ
2
¹-² hh
T
2
a dg
aQ
2
³ tb
Phụ kiểu 3.1 Phụ kiểu 3.4
a(c)Q
2
³ tb
mQ
2
¹-² hh
amQ
2
¹-² hh
Mặt cắt điển hình
kiểu 3
bmQ
2
¹-² hh
a(f)Q
1
³ vp
T
2
a dg
mQ
2
¹-² hh
Phụ kiểu 3.5
a(c)Q
2
³ tb
a(f)Q
2
³ tb a(f)Q
2
aQ
1
³ vp
T
2
a dg
apQ
1
²-³hn
T
2
a dg
a(f)Q
2
³ tb
a(f)Q
1
³ vp
a(c)Q
2
³ tb
aQ
2
³ tb
aQ
1
²-³hn
P
2
nv
a(c)Q
1
³ vp
ap, a(f)Q
1
²-³hn
17 Hình 4.11. Lún mặt đất ở TT Quốc Oai và lân cận (năm 2008)
4.1.2. Nguyên nhân gây lún mặt đất
4.1.2.1. Thực trạng khai thác nước dưới đất.
Nguồn nước chính phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trong khu
vực là nước giếng khoan. Hiện nay đa số các giếng khoan đều khai thác
nước trong tầng đá vôi. Các phễu hạ thấp mực nước phân bố ở khu vực TT
Quốc Oai, các xã lân cận như Thạch Thán, Ngọc Mỹ và TT Đại Nghĩa và
trùng với những khu vực phân bố tầng đất yếu.
4.1.2.2. Nguyên nhân gây lún mặt đất.
Hình 4.19. Biến dạng không đàn hồi của tầng chứa nước
8.61
2.1
HKC-CS04
7.6
8.5
45.8
28.3
34.7
5.96
20
1
³ vp
8.5
42.3
47.4
HKC-
CS07
6.0
12.0
7.5
QO -02
3.0
19.5
20.5
45.5
53
b mQ
2
¹
-
²hh
8.36
QO -01
2.5
11.2
21.2
45.4
47.2
18.3
8.1
36m
15m
22m
Độ lún do hạ thấp mực nước ngầm tại thời điểm năm 2008
10.3
S
(cm)
5
12 11
9.6
10
8.8
7
21.5
xã Thạch Thán, Ngọc Mỹ
0 1000
2000 m
CHÚ GIẢI
aQ
2
³ tb
Sét màu xám nâu,
vàng nhạt, dẻo mềm
aQ
2
³ tb
Cát hạt nhỏ mịn màu
xám nâu, xám vàng
bmQ
2
¹
-
²hh
P
2
nvP
2
nvP
2
nv
Cao độ (m)
Tầng cách nước
(sét, sét pha)
Tầng chứa nước
Lún - hồi phục do biến dạng đàn hồi
Lún không hồi phục vĩnh viến
do biến dạng không hồi phục
Sự nén chặt của hệ thống nước ngầm
tập trung trong các tầng cách nước
Mực
nước
Thời gian
Suy giảm lâu dài mực
nước theo các chu kỳ
bơm hút nước ngầm
Sự sắp xếp và làm chặt
lại của tầng cách nước
cùng với sự giảm độ lỗ
rỗng và lượng nước
tích trữ trong lỗ rỗng
- Tầng đá vôi bên dưới bị nứt nẻ rất mạnh, đôi nơi có hang karst ngầm.
Bản chất của lún-sụt là do vật liệu trong tầng trầm tích hạt mịn, bở rời,
tầng đất yếu bị rửa trôi tạo ra các khoảng rỗng trong đất và phá hủy tầng
phủ phía trên của khoảng rỗng. Khe nứt (hoặc hang karst ngầm) đóng vai
trò là đường dẫn và là nơi chứa vật liệu mịn từ phía trên chuyển xuống.
19
4.2.3. Mối liên quan trầm tích Đệ tứ với hiện tượng lún – sụt mặt đất
Hầu hết các vị trí xảy ra lún - sụt đều có tầng cát mịn và tầng đất yếu
trong cấu trúc nền (hình 4.27). Theo kết quả khoan thăm dò, địa vật lý, tầng
đá gốc là đá vôi, bị nứt nẻ, dập vỡ, đôi nơi có hang karst ngầm.
Hình 4.27. Liên kết địa tầng các vị trí lún-sụt ở khu vực phía Tây TP Hà Nội
4.5. Cảnh báo và đề xuất giải pháp phòng chống lún và lún-sụt mặt đất
4.5.1. Dự báo hiện tượng lún mặt đất
Kết quả tính lún tại thời điểm năm 2008, dự báo lún đến năm 2020
và độ lún cuối cùng, thời gian lún được tích hợp trên mặt cắt địa chất.
Hình 4.30. Mặt cắt dự báo độ lún mặt đất do khai thác nước ngầm tuyến TT Quốc
Oai - xã Đồng Quang
4.0
12.5
13.5
18.5
44
48
4.0
11
12.5
34
x.Yên Sơn,
Quốc Oai
TT Quốc Oai
x.Lê Thanh,
Mỹ Đức
x.Xuy Xá
Mỹ Đức
x. Hợp Tiến
Mỹ Đức
7.0
25
35
43
40
Yên Nội, Đ.Quang
Quốc Oai
mQ
2
¹
-
²hh
amQ
2
¹
-
²hh
bmQ
2
¹
³ vp
aQ
1
³ vp
T
2
a dg
P
2
nv
P
2
nv
karst
Sét màu xám xanh, loang xám vàng, dẻo cứng,
Sét, sét pha, bùn sét pha lẫn vật chất hữu cơ màu
xám, xám đen
Sét loang lổ bị laterit hóa, dẻo cứng - nửa cứng
Cát mịn màu xám, xám nâu, xám ghi
Đá vôi màu xám, xám sáng nứt nẻ, đôi nơi có
hang karst ngầm
Chú giải
8.61
2.1
HKC-CS04
7.6
8.5
45.8
28.3
34.7
44.1
mQ2 ¹
-
²hh
aQ1 ³ vp
8.5
42.3
47.4
HKC-
CS07
6.0
12.0
7.5
QO -02
3.0
19.5
20.5
45.5
53
bmQ
2
¹
-
²hh
8.36
QO -01
2.5
11.2
21.2
45.4
18
39
152
45
145
48
(năm)
MNN năm 2000=2.5-3m
MNN năm 2013
36m
15m
22m
Độ lún do hạ thấp mực nước ngầm tại thời điểm năm 2008
10.3
S
(cm)
5
12 11
9.6
10
8.8
7
21.5
Dự báo độ lún do hạ thấp mực nước ngầm đến năm 2020
13
S
(cm)
5.2
16
14
Cát hạt thô vừa màu
xám vàng, chặt vừa
aQ
1
³ vp
mQ
2
¹
-
²hh
Sét, màu xám xanh, xám
vàng, dẻo cứng
aQ1 ³ vp
aQ1³ vp
bmQ2 ¹
-
²hh
P2 nvP2 nvP2 nv
Cao độ (m)
20
4.3.2. Cảnh báo nguy cơ xảy ra lún - sụt mặt đất.
- Những khu vực có nguy cơ cao: xảy ra ở mặt cắt trầm tích kiểu 1 (phụ
kiểu 1.1 và 1.4) và kiểu 3 (phụ kiểu 3.2 và phụ kiểu 3.4) .
- Những khu vực có nguy cơ xảy ra lún - sụt mặt đất: xảy ra ở các phụ
kiểu 1.2 và 1.3 ( kiểu 1) và các phụ kiểu 3.1, 3.3 và 3.5 (kiểu 3).
- Mặt cắt trầm tích kiểu 2 và 4: không có tầng đất yếu hoặc tầng cát mịn,
nền đất ít có nguy cơ xảy ra lún- sụt.
4.3.3. Đề xuất giải pháp phòng chống lún và lún – sụt mặt đất
Hạn chế khai thác nước dưới đất, việc xây dựng các nhà máy xử lý nước
p Q
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔắ Ê
Q
TÔắ Ô
Q
TÔắ Ô
TÔắ Ô
Q
TÔắ Ô
TÔắ Ê
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔơƠẳ Ê
TÔơƠ ẳ Ô
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÊẵẩƠ
TÔắ Ê
aQ ẻẳÊ
aQẻẳ Ô
aQ29 tb
T1o tl
P2 nv
TÔẩ ẻ
TÔắ Ô
TÊéẩ
TÔắ Ô
T1o tl
TÊéẩÊ
TÊéẩÊ
T1o tl
3.5
3.5
3.5
3.2
3.3
3.4
2.4
3.4
2.4
1.3
4.5
4.4
4.2
4.2
4.1
3.2
2.4
1.4
4.4
4.3
1.1
3.1
4.2
2.1
2.1
2.4
d
ớ
i
Hệ tầng Tân Lạc
Hệ tầng Na Vang
Đứt gãy
Hệ tầng Viên Nam
Hệ tầng Đồng Giao
Phụ hệ tầng trên
Hệ tầng Nậm Thẳm
2.1
2.1
2.1
2.1
T2_3 sb1
T2 nt
T2 a dg
T1 vn2
T2 nt
T1 vn1
P2 nv
T1 o tl
Chú giải
3.4
Khu vực bị đang bị lún
và có nguy cơ xảy ra lún mặt đất
Khu vực ít có nguy cơ
q. đống đa
m ỹ đ ứ c
ứ n g h ò A
q.ba đình
q. cầu
giấy
c h ơ n g m ỹ
q u ố c o a i
h o à i đ ứ c
t h ạ c h t h ấ t
H ò a b ì n h
TÔắ Ô
aQ29 tb
TÔắ Ô
p Q
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔắ Ê
Q
TÔắ Ô
Q
TÔắ Ô
TÔắ Ô
Q
TÔắ Ô
TÔắ Ê
TÔắ Ô
TÔắ Ô
TÔơƠẳ Ê
TÔắ Ô
TÊéẩÊ
TÊéẩÔ
TÔđƠ ẳ Ê
TÔơƠ ẳ Ê
PÔểắ
TÊéẩÔ
TÔơƠẳ Ê
TÊéẩÔ
ỉõTÊẳ é
TÊẵẩ
TÔđƠ ẳ Ê
apQ
TÊẵẩÊ
TÊéẩÔ
TÔơƠ ẳ Ê
TÊẵẩ
TÊéẩÊ
TÊéẩÊ
0 0
0 6
0 4
9 2
90
1 0
1 2
1 4
0 8
2 2
2 4
8 6
8 8
8 0
0 2
9 4
9 8
9 6
86
88
7 4
82
84
80
7 6
7 8
78
76
74
7 2
7 0
82
80
1c m trên bản đồ bằng 500m ngoài thực tế
6 66 26 0 6 452 6 8
6 2
6 4
6 8
6 6
5 4 56 58
5 8
vp) và bãi bồi (a(f)Q
1
3
vp) hệ tầng Vĩnh
Phúc;
- Trầm tích sông - biển (amQ
2
1
hh), đầm lầy ven biển (bmQ
1
1-2
hh), biển
(mQ
1
1-2
hh) và sông - đầm lầy (abQ
1
1-2
hh) hệ tầng Hải Hưng;
- Trầm tích lòng sông (a(c)Q
2
3
tb) và bãi bồi(a(f)Q
2
3
tb) hệ tầng Thái
Bình.
2. Trầm tích ở khu vực phía Tây thành phố Hà Nội được chia thành 4 kiểu
mặt cắt với 18 phụ kiểu. Mặt cắt kiểu 1 và 3 có sự tham gia của tầng
tầng đất yếu (có chiều dày thay đổi nhiều), có nguy cơ cao xảy ra hiện