MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. TỔNG QUAN
3
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỌ PHỤ COLOBINAE JERDON,
1867
3
1.2. LỊCH SỬ VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
TỚI VOỌC QUẦN ĐÙI TRẮNG
9
1.3. TÀI LIỆU VỀ THỨC ĂN CỦA CÁC LOÀI VOỌC TRONG
PHÂN HỌ COLOBINAE Ở CHÂU Á
13
Chương 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
16
2.1. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
16
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
16
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên
17
2.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
19
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu phân bố, tập tính, tình trạng bảo tồn
26
2.3.3.2. Xác định sự phân bố của các loài cây là thức ăn của Voọc
quần đùi trắng
26
2.3.3.3. Tính sinh khối cây thức ăn trong ô tiêu chuẩn, ước tính sinh
khối cây thức ăn của khu vực nghiên cứu
27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
28
3.1. KHU VỰC PHÂN BỐ VÀ VÙNG HOẠT ĐỘNG CỦA VOỌC
QUẦN ĐÙI TRẮNG
28
3.1.1. Khu phân bố và nơi cư trú
28
3.1.2. Vùng hoạt động
37
3.1.2.1. Diện tích vùng hoạt động
37
3.1.2.2. Tập tính bảo vệ vùng hoạt động
40
3.1.2.3. Di chuyển của đàn Voọc quần đùi trắng trong vùng hoạt động
46
3.1.2.4. Địa điểm ngủ đêm của Voọc quần đùi trắng ở Vân Long
51
3.2. THỨC ĂN CỦA VOỌC QUẦN ĐÙI TRẮNG Ở VÂN LONG
54
3.2.1. Thành phần loài thực vật và loài cây là thức ăn
54
3.2.2. Nguồn thức ăn và chất lượng nơi sống
58
PHÁP BẢO TỒN VOỌC QUẦN ĐÙI TRẮNG Ở VÂN LONG
112
3.6.1. Những tác động xấu đến môi trường sống
112
3.6.2. Khả năng tồn tại của quần thể Voọc quần đùi trắng ở Vân Long
115
3.6.3. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn Voọc quần đùi trắng
117
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
122
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
124
TÀI LIỆU THAM KHẢO
125
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ADF: Chất xơ hòa tan axit
ANOVA: Phân tích phương sai
df: Bậc tự do
DX (hay SD): Phương sai mẫu
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
Mann-Whitney: Tiêu chuẩn tổng hạng Mann-Whitney
n: Số quan sát
P: Xác suất
Vị trí phân bố, kích thước và cấu trúc của 11 đơn
vị xã hội Voọc quần đùi trắng ở Vân Long từ
tháng 4/2005 – 9/2007
32
Bảng 3.4.
Tọa độ các điểm ngủ của Đàn số 1 và Đàn số 4
52
Bảng 3.5.
Các loài thực vật là thức ăn cho Voọc quần đùi
trắng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Vân Long
55
Bảng 3.6.
Thành phần loài thực vật làm thức ăn cho Voọc
quần đùi trắng ở rừng rậm thường xanh nhiệt đới
thứ sinh trên núi đá vôi ở Vân Long
60
Bảng 3.7.
Thành phần loài thực vật làm thức ăn cho Voọc
trong rừng nhiệt đới thứ sinh thường xanh cây lá
rộng trên núi đá vôi Đồng Quyển-Vân Long
61
Bảng 3.8.
Thành phần loài thực vật làm thức ăn cho Voọc
quần đùi trắng trong trảng cây bụi thứ sinh thường
xanh trên núi đá vôi ở Đồng Quyển và Hàm Rồng
- Vân Long
63
Bảng 3.9.
Thành phần loài thực vật làm thức ăn cho Voọc
quần đùi trắng trong trảng cây bụi thứ sinh thường
.ANOVA 3 nhân tố Protein 3 cấp, Lipid 3 cấp,
Phenolic 3 cấp
79
Bảng 3.16
Tỷ lệ các hoạt động ở các nhóm tuổi/giới tính của
Voọc quần đùi trắng ở Vân Long (n = 5243, số
liệu đã hiệu chỉnh)
91
Bảng
3.17.
Bảng theo dõi dân số của Đàn số 1 từ tháng
8/2005 đến tháng 4/2006
97
Bảng
3.18.
Bảng theo dõi dân số của Đàn số 4 từ tháng
4/2006 đến tháng 5/2007
98
Bảng
3.19.
Quan hệ giữa các nhóm tuổi/giới tính qua tuổi/giới
tính cá thể gần nhất (tính đến tháng 5/2007)
103
Bảng
3.20.
Tỷ lệ phần trăm chải lông ở các nhóm tuổi/giới
tính ở Voọc quần đùi trắng tính đến tháng 5/2007
(số liệu đã hiệu chỉnh)
104
Vân Long từ tháng 4/2006 – 12/2006
35
Hình 3.3.
Vị trí phân bố của các đàn Voọc tại Vân Long từ tháng
1/2007 đến tháng 9/2007.
36
Hình 3.4.
Vùng hoạt động của Đàn số 1 trước tháng 4/2006.
38
Hình 3.5.
Vùng hoạt động của Đàn số 4 sau tháng 4/2006
40
Hình 3.6.
Vùng hoạt động của Đàn số 4 đến tháng 5/2007
41
Hình 3.7.
Biến thiên của quãng đường di chuyển trong ngày của
hai đàn Voọc quần đùi trắng ở Vân Long
46
Hình 3.8.
Quãng đường di chuyển của Voọc quần đùi trắng trong
ngày với các yếu tố thời tiết năm 2006
48
Hình 3.9.
Biến thiên về độ cao nơi phân bố so với mặt nước biển
của 2 đàn Voọc quần đùi trắng ở Vân Long. 50
Hình 3.10.
trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và trong Danh lục Đỏ của IUCN năm 2006.
Mittermeier et al. (2005, 2006) cũng đã xếp Voọc quần đùi trắng vào 1 trong 25 loài
linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Tổng số cá thể trong các khu phân bố của loài
ước tính chỉ khoảng 281 – 317, và nơi sống bị chia cắt mạnh mẽ tạo nên những
quần thể nhỏ, gây nguy cơ thoái hóa nòi giống (Nadler, 2004).
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long, nay là Khu bảo tồn thiên nhiên Vân
Long, là một khu vực có nhiều sinh cảnh đa dạng, đặc biệt có các khối núi đá vôi
xen lẫn các vùng đất ngập nước. Các khối núi đá vôi có vách dựng đứng được bao
bọc bởi đầm nước là địa hình lý tưởng bảo đảm an toàn cho sự sống sót của loài
Voọc này. Đối với kinh tế xã hội của địa phương, sự tồn tại của Voọc quần đùi
trắng cùng với phong cảnh của Vân Long là hai nhân tố thu hút khách du lịch để
phát triển mạnh du lịch sinh thái. Tuy vậy, việc nghiên cứu để bảo tồn loài voọc quý
hiếm này vẫn được đặt ra cấp bách bởi có rất nhiều mối đe dọa đối với sự sống sót
của Voọc quần đùi trắng. Cho tới nay đã có một số khảo sát về phân bố và tình
trạng của loài này trong tự nhiên, và một số nghiên cứu về thức ăn và tập tính của
Voọc trong điều kiện nuôi nhốt. Để có thêm nhiều thông tin cho công cuộc bảo tồn
Voọc quần đùi trắng, chúng tôi tiến hành đề tài luận án: “Nghiên cứu đặc điểm
sinh học, sinh thái Voọc quần đùi trắng Trachypithecus delacouri (Osgood,
1932) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long và đề xuất một số giải pháp bảo
tồn”.
Luận án bao gồm 2 mục tiêu và 4 nội dung nghiên cứu chính.
Mục tiêu chung của luận án:
1. Nghiên cứu sự phân bố, tình trạng, đặc điểm sinh học và sinh thái học của
Voọc quần đùi trắng để làm cơ sở cho việc bảo tồn loài.
2
2. Nghiên cứu tình trạng bảo tồn, những mối đe dọa sự tồn tại của quần thể
voọc quần đùi trắng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, và đề xuất những
giải pháp bảo tồn xác thực.
Nội dung nghiên cứu:
Họ phụ này được Strasser and Delson (1987) và Strasser (1988) nêu ra một
số đặc điểm đặc trưng như có dạ dày phức tạp (ít nhất 3 ngăn), ngón cái của chi
trước ngắn, chỗ loe răng hàm tiêu giảm (giống với hầu hết Cercopithecini), trigonid
ngắn lại, răng hàm nổi cao, thể hàm dưới sau sâu hơn, và bàn chân có nhiều đặc
điểm chuyên hoá. Chân của khỉ ăn lá có ngón thứ hai ngắn như ngón thứ năm, ngón
thứ ba và ngón thứ tư gần bằng nhau tạo nên một trục cho bàn chân. Toàn bộ bàn
chân được mở rộng để tăng khẩu độ cầm nắm và hiệu quả hơn khi lật ngửa bàn chân
ra: mặt xương sên cong mạnh, bị kéo dài, sự xoay mạnh phía bên của đầu xương
sên, xương ghe hơi có hướng thẳng đứng, xương cổ chân ngoại biên ngắn lại. Đặc
biệt nhất trong những đặc điểm trên là kiểu cấu tạo dạ dày thích nghi với lên men
thức ăn thực vật, giúp các loài khỉ ăn lá tiêu thụ được nguồn thức ăn phong phú này.
Các nhóm linh trưởng, tùy theo loại thức ăn chủ yếu mà chúng thu nhận, có
mức độ thích nghi với loại thức ăn chủ yếu đó khác nhau. Tuy nhiên những thích
nghi của cơ thể các loài linh trưởng đó thường biến động theo hướng chung, được
Fleage (1999) khái quát như sau (hình 1.1):
- Những loài ăn quả có xu hướng có các răng nanh tương đối lớn để cắn quả, răng
hàm đơn giản với các mấu thấp để nghiền nát và làm nhão các quả mềm. Hệ thống
tiêu hóa tương đối đơn giản, không có bất kỳ phát sinh nào ở dạ dày và ruột già.
- Những loài ăn lá có răng nanh tương đối nhỏ, răng hàm với những gờ để cắt xén
phát triển mạnh, và một phần của bộ máy tiêu hóa được sử dụng để làm nơi vi
khuẩn phá vỡ vách cellulose.
- Các loài ăn nhựa cây thường có các răng cửa chuyên hóa để đào lỗ trong vỏ bần
của cây và ép dịch tiết ra, và các vuốt, các móng dẹt dạng vuốt để bám vào thân cây.
Nhiều loài có manh tràng lớn hơn, có thể vi khuẩn ở ruột có chức năng phá vỡ cấu
trúc carbonhydrate trong nhựa cây hay dịch tiết.
- Các loài ăn côn trùng được đặc trưng bởi răng trước hàm và răng hàm có những
4
mấu nhọn sắc và những gờ cắt xén phát triển mạnh, và hệ thống tiêu hóa với dạ dày
đơn giản và ruột già ngắn.
cỡ lớn và dạ dày không có túi trước (hình 1.3). Ngoài ra, Chiver (1994) nhận thấy
các loài ăn lá như Pygathrix cũng có xu hướng phát triển ruột già. Những loài thiên
về ăn quả hơn như Nasalis thì lại có xu hướng tăng kích thước ruột non để tăng khả
năng hấp thụ nhanh, trong khi kích thước dạ dày – nơi dành cho lên men - thì tương
đối nhỏ so với các loài khỉ ăn lá châu Á khác.
6
Hệ vi sinh vật trong dạ dày khỉ ăn lá giống như ở dạ cỏ động vật nhai lại, bao
gồm vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm, những loài thích hợp với điều kiện kỵ
khí ở trong dạ cỏ. Một số lượng các vi sinh vật thủy phân cellulose tạo ra các
enzyme thủy phân liên kết beta trong cellulose và hemicellulose trong thành tế bào
thực vật. Đây là đóng góp quan trọng của hoạt động của vi sinh vật trong quá trình
tiêu hóa ở động vật ăn cỏ, làm chúng có khả năng tiêu thụ sợi thực vật, và tiếp cận
được các chất khác nằm trong vách tế bào. Vi sinh vật còn tạo ra các vitamin nhóm
B cho khỉ ăn lá, nhất là vitamin B
12
. Một hoạt động quan trọng nữa của vi sinh vật
là phá vỡ các hợp chất độc trong thức ăn, như một số alkaloid, amin, và axit hữu cơ.
McKey (1978) quan sát thấy Procolobus badius ở Kibale và Tiwai (Uganda), và
Colobus satanas ở Douala-Edéa ăn hạt và các bộ phận của loài Erythrophleum
ivorense, loài được biết có nồng độ alkaloid cao. Tại Polonnaruwa (Sri Lanka),
Trachypithecus vetulus ăn quả độc thuộc chi Strychnos, chứa alkaloid mà các con
khỉ Macaca sinica phải tránh không ăn (Hladik, 1978). Khí amoniac sinh ra trong
quá trình tiêu hóa lại được vi sinh vật hấp thụ vào để tổng hợp nên protein cho riêng
chúng. Khi đi qua ruột non, đây lại là nguồn amino-nitrogen cho khỉ ăn lá.
Tuy nhiên việc lên men dựa trên vi sinh vật kỵ khí cũng tạo ra những nhược
điểm cho khỉ ăn lá, bởi vì những sản phẩm khí của quá trình lên men có thể gây
chướng bụng. Hơn nữa, khỉ ăn lá sẽ không thể ăn được những thức ăn chứa các chất
gây ức chế hoạt động của vi khuẩn trong dạ dày. Một thí dụ là chất oleoterpene
trong những cây sao dầu ở Đông Nam Á có chứa nhựa có khả năng kìm hãm vi
SA: Túi PS: Túi trước TG: Dạ dày ống PP: Môn vị
9
1.2. LỊCH SỬ VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI VOỌC
QUẦN ĐÙI TRẮNG
Về mặt phân loại học, Voọc quần đùi trắng, hay còn được gọi là Voọc mông
trắng Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932) được Wilfred H. Osgood mô tả lần đầu
tiên vào năm 1932 từ mẫu vật sưu tầm được ở Hồi Xuân, Thanh Hoá bởi J. Delacour và
W. Lowe ngày 15/2/1930. Đó là con đực trưởng thành hiện là mẫu chuẩn trưng bầy ở
Bảo tàng Tự nhiên Anh, mang ký hiệu N
0
32.4.19.2. Số gốc N
0
1.878. Ban đầu loài này
được Osgood (1932) đặt tên là Pithecus delacouri (Osgood, 1932), sau đó được
Ellerman & Morrison-Scott (1951) đã liệt kê và xếp loài này như là một phân loài của
Presbytis francoisi (De Pousargues, 1898) và có tên là Presbytis francoisi delacouri
Osgood, 1932. Tên giống Presbytis sau đó lại được tách thành 2 giống là Presbytis và
Trachypithecus. Voọc quần đùi trắng do được Groves (1970) coi là nằm trong nhóm
Trachypithecus nên được đổi tên khoa học là Trachypithecus francoisi delacouri
Osgood, 1932. Brandon-Jones (1984) đã xem xét lại và đặt vấn đề là đưa loài Voọc
quần đùi trắng tách ra thành một loài riêng biệt gọi là Semnopithecus delacouri, nhưng
lúc đó quan điểm này chưa được chấp nhận rộng rãi. Groves (1970) vẫn coi Voọc quần
đùi trắng là một phân loài của Trachypithecus francoisi, nhưng đến năm 2001, ông đã
công nhận Voọc quần đùi trắng là một loài riêng biệt có tên chính thức là
Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932). Đây là tên hiện được công nhận và dùng
rộng rãi trong tất cả các nghiên cứu trên thế giới. Các công trình phân loại học của
Eudey (1997), Rowe (1996), Nowak (1999) và nghiên cứu phân tích di truyền trong
phân loại của Roos et al. (2001) càng khẳng định quan điểm của Groves (2001). Phân
tích tiến hóa về mặt phân tử của Đặng Tất Thế (2005) và của Brandon-Jones et al.
sinh sống ở khu vực mà hiện nay phân loài Presbytis francoisi hatinhensis hiện đang
11
phân bố (khu Bắc Trung Bộ, tại Hà Tĩnh, Quảng Bình), khoảng 9000 năm trước đây các
phân loài của nó phát tán theo các hướng khác nhau toả rộng ra :
- Presbytis francoisi poliocephalus phát tán về phía đông bắc, ra khu Đông Bắc và
hiện nay còn ở đảo Cát Bà (Hải Phòng);
- Presbytis francoisi leucocephalus cũng phát tán về hướng Đông Bắc, nhưng định
cư xa hơn, ở tận Nam Trung Quốc;
- Presbytis francoisi francoisi phát tán lên phía chính bắc và phân bố ở khu Đông
Bắc, và một phần phía Nam Trung Quốc;
- Presbytis francoisi delacouri phát tán về phía tây bắc, định cư ở khu Tây Bắc;
- Presbytis francoisi laotum phát tán về phía tây và phân bố tại miền Trung Lào.
Fooden (1996) đã đưa ra các bản đồ phân bố tổng quát của các loài linh trưởng Việt
Nam, trong đó Voọc quần đùi trắng phân bố tại 17 địa danh thuộc 4 tỉnh (Ninh Bình,
Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An). Đa số các nghiên cứu còn lại đều về những ghi nhận
các địa điểm phân bố của loài: Lê Hiền Hào (1973), Đào Văn Tiến (1985), Đặng Huy
Huỳnh và nnk. (1994) đã nêu ra một số địa điểm phân bố của Voọc đen má trắng
(Trachypithecus francoisi) trong đó có những địa điểm phân bố của T. delacouri.
Ratajszczak (1990) quan sát Voọc tại Cúc Phương, Ninh Bình. Hà Đình Đức (1991a,b;
2004), Hà Đình Đức và Nguyễn Vĩnh Thanh (2005) ghi nhận Voọc tại Ninh Bình, Hoà
Bình, Thanh Hoá, Nghệ An. Nadler (1995, 1996, 2004) và Nadler et al. (2003) ghi nhận
loài này có tại 5 tỉnh là Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Hà Nam, Hà Tây, và nêu ra
một số nơi nghi vấn ở Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh. Hà Thăng Long
(1999), Baker (1999), Lương Văn Hào (1999, 2000), Lê Thiện Đức (2002) báo cáo về
khảo sát Voọc tại một số vị trí phân bố đã công bố như trên.
Cho tới nay, các nghiên cứu về tập tính, sinh học và sinh thái học của Voọc quần
đùi trắng nói riêng còn rất hạn chế. Mey (1994) trong một nghiên cứu tổng hợp về các
loại ký sinh thuộc giống Pedicinus ảnh hưởng tới 5 loài khỉ ở Việt Nam đã phát hiện ra
trên bộ lông của Voọc quần đùi trắng có loài côn trùng ký sinh thuộc giống này là
và Chà vá (Pygathrix nemaeus). Trong luận án tiến sĩ này, tác giả sử dụng phương pháp
lưới ô vuông để ước lượng khu vực hoạt động của đàn linh trưởng. Tuy nhiên về phần
sinh thái học và tập tính chỉ mô tả đơn thuần, không áp dụng các phương pháp hiện đại
nên kết quả còn hạn chế. Boonratana and Le (1998) sử dụng phương pháp lấy mẫu quét
với đối tượng là loài Voọc mũi hếch trong điều kiện tự nhiên ở Na Hang, Tuyên Quang.
Đây là lần đầu tiên các phương pháp lấy mẫu tập tính hiện đại được áp dụng để nghiên
cứu Voọc mũi hếch Việt Nam. Võ Đình Sơn (2004) đã áp dụng phương pháp nghiên
cứu tập tính của Altmann (1974) để nghiên cứu tập tính hoạt động và sinh sản của khỉ
đuôi dài Macaca fascicularis tại rừng ngập mặn Cần Giờ. Võ Đình Sơn cũng sử dụng
13
phương pháp lưới ô vuông để xác định vùng hoạt động của các đàn khỉ. Workman
(2004) nghiên cứu chủng loại phát sinh của các loài Khỉ ăn lá ở Việt Nam dựa trên phân
tích tập tính vận động của một số loài linh trưởng trong Trung tâm cứu hộ linh trưởng
Cúc Phương. Workman and Covert (2005) cũng nghiên cứu tập tính vận động và tư thế
vận động của các cá thể thuộc 3 loài voọc của Việt Nam là Pygathrix nemaeus,
Trachypithecus delacouri, Trachypithecus hatinhensis, và từ đó liên hệ với mối quan hệ
phát sinh chủng loại của các loài này. Byron and Covert (2005) nghiên cứu tập tính vận
động của 4 loài linh trưởng Việt Nam (Pygathrix nemaeus, Trachypithecus delacouri,
Trachypithecus laotum, Hylobates leucogenys). Trong đó T. delacouri có 81.3% số lần
là ngồi (gồm ngồi co gối và ngồi duỗi chân), và chỉ có 6% số lần có kèm giơ chi trước
lên. Ở T. delacouri cùng với T. laotum không quan sát thấy sự vận động treo người. Có
một số nghiên cứu tiến hành tại nước ngoài nhưng đối tượng nghiên cứu lại là loài linh
trưởng có mặt tại Việt Nam. Đó là loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm Trachypithecus
poliocephalus với đại diện là phân loài Trachypithecus poliocephalus poliocephalus
phân bố tại đảo Cát Bà, nhưng ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu. Phân loài T. p.
leucocephalus sinh sống tại phía nam Trung Quốc đã được nghiên cứu về tập tính và
sinh thái học bởi Huang et al. (2003), Li et al. (2003a,b), Li and Rogers (2004a,b), Li
and Rogers (2005a,b,c), và Li and Rogers (2006). Li and Rogers (2007) đã mô tả
phương pháp ước tính số lượng quần thể của T. p. leucocephalus trong điều kiện khó
loài thức ăn có một phần lớn là địa y. Kirpatrick (1998) đã so sánh chế độ ăn của một số
loài linh trưởng như R. avunculus, P. nemaeus, Rhinopithecus roxellana, R. brelichi và
R. bieti theo mùa và theo tỉ lệ các loài và họ thực vật, cũng như theo tỉ lệ các bộ phận
của thực vật. Bleisch et al. (1998) đã tập trung phân tích các chỉ số hoá sinh như
protein, sợi trung tính, tro, lignin… liên hệ với sự lựa chọn thức ăn và thành phần loài
thực vật là thức ăn của loài R. brelichi ở Trung Quốc. Edwards & Killmar (2004) đưa ra
các số liệu tóm tắt về một số thành phần hoá học thức ăn so sánh với cấu tạo hệ tiêu hoá
và hoạt động ăn uống của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Vườn thú
San Diego, nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, duy trì sức khoẻ cho loài này tại vườn
thú. Otto (2005) đã nghiên cứu về thức ăn, thành phần dinh dưỡng và sự chọn lọc thức
ăn của các loài chà vá (Pygathrix sp.) được nuôi nhốt hoặc nuôi bán hoang dã tại Trung
tâm cứu hộ linh trưởng Cúc Phương. Tác giả này dùng phương pháp ước lượng số
lượng thức ăn Chà vá ăn thông qua thời gian dành cho việc ăn trong điều kiện bán
hoang dã, và tiến hành những phương pháp phân tích hoá học với thành phần sợi trung
tính, protein, các chất khoáng, các hợp chất thứ cấp như Terpene, Phenol, các hợp chất
chứa Nitơ.
15
Ở Việt Nam, Phạm Nhật (1993) có đưa ra các số liệu về thức ăn của Chà vá
(Pygathrix nemaeus) và Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus). Các loài cây làm
thức ăn cho chúng được định loại tới chi. Phạm Nhật (2002), nghiên cứu tại Trung tâm
cứu hộ linh trưởng Cúc Phương, đưa ra một bảng danh sách các thực vật được định loại
tới loài, là thức ăn cho các loài linh trưởng của Việt Nam, trong đó có các loài Voọc.
Như vậy, những hiểu biết về sinh học và sinh thái học của loài Trachypithecus
delacouri nói riêng và các loài linh trưởng thuộc họ phụ Colobinae ở Việt Nam còn
chưa nhiều và chưa theo kịp yêu cầu bảo tồn. Nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh
thái học của Voọc quần đùi trắng đặc biệt chú ý tới tập tính lựa chọn thức ăn và ảnh
hưởng của nguồn thức ăn là vấn đề cần thiết đang được đặt ra. Tuy nhiên những hướng
nghiên cứu như vậy ở Việt Nam còn chưa được quan tâm, số lượng công trình còn quá
ít. Nguyên nhân là những khó khăn về nhiều mặt, đặc biệt là tiếp cận phương pháp
được Voọc là khoảng 354 giờ. Tổng số mẫu quét là 1351 mẫu, trong đó tổng số quan
sát là 5243 quan sát. Sau tháng 5/2007 cho tới sau tháng 9/2007, việc nghiên cứu vẫn
được tiếp tục, chủ yếu tập trung vào khảo sát các khu vực phân bố của Voọc và phân bố
nguồn thức ăn cho Voọc.
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Voọc quần đùi trắng trước đây có phân bố trải rộng trên 5 tỉnh Hoà Bình, Hà
Nam, Thanh Hoá, Ninh Bình, và một phần nhỏ của Hà Tây (Nadler et al., 2003). Đến
nay, theo Nadler (2004), quần thể Voọc suy giảm nghiêm trọng và chỉ có một vài quần
thể nhỏ ở Vườn quốc gia Cúc Phương, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, và đặc biệt
là Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long. Vân Long là nơi có một quần thể Voọc quần đùi
17
trắng Trachypithecus delacouri lớn nhất và dễ gặp nhất, do đó nơi này được chọn làm
đại diện cho vùng phân bố của Voọc để triển khai nghiên cứu (Hình 2.1).
Hình 2.1. Vị trí Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long ở Việt Nam
(Nguồn: Birdlife International Vietnam Programme, 2001)
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên
Theo Vũ Trung Tạng (2004), Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long có các đặc
điểm tự nhiên sau:
Vị trí địa lý : Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long có diện tích khoảng 2.612,81 ha, nằm
phía đông bắc tỉnh Ninh Bình, trên địa phận các xã Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia
Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh của huyện Gia Viễn.
Toạ độ địa lý : Từ 20
0
20’55” đến 20
0
25’45” vĩ độ Bắc