Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ HOÀN CẢNH ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC CỦA TỈNH BÌNH
ĐỊNH
1. Vị trí địa lý
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung của Tổ quốc Việt Nam.
Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang hẹp
trung bình 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Diện tích tự
nhiên của toàn tỉnh 6.025 km
2
.
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, có chung đường biên giới 63 km từ
đèo Bình Đê, điểm cực Bắc với tọa độ: 14
o
42' Bắc, 108
o
56' Đông; phía Nam
giáp tỉnh Phú Yên, có chung đường biên giới 59 km, điểm cực Nam với tọa
độ: 13
o
31' Bắc, 108
o
57' Đông. Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, có chung đường
biên giới 130 km , điểm cực Tây với tọa độ: 14
Nhơn lên đường 19 đến Kon Tum và theo đường 14 rẽ về phía Nam đến Stung
Ố Treng (Campuchia).
II. SƠ LƯỢC HOÀN CẢNH ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
1. Địa hình
Do ảnh hưởng của rìa phía Đông cao Nguyên Kon Tum, nên địa
hình toàn tỉnh có xu hướng nghiêng từ Tây sang Đông với độ chênh lệch khá
cao (khoảng 1.000 m). Độ cao trung bình so với mặt biển là 700 m. Bề mặt
địa hình thường có dạng núi cao xen lẫn thung lũng, đồng bằng lòng chảo và
đầm phá ven biển.
Ảnh hưởng của phát triển kiến tạo địa chất và khí hậu đã dẫn đến
tính đa dạng và phức tạp của địa hình toàn tỉnh như ngày nay. Về mặt trắc
lượng hình thái có thể phân chia địa hình trong tỉnh ra thành 5 dạng chính:
Địa hình núi, địa hình đồi núi xen lẫn đồng bằng, địa hình đồng bằng lòng
chảo xen lẫn thung lũng, địa hình đầm phá ven biển và địa hình thềm lục địa.
- Vùng núi chiếm hai phần ba diện tích toàn tỉnh thường có độ cao
trung bình từ 700 - 1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
nhất là 1.202 m ở xã An Toàn ( huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao từ 700
- 1000m. Các dãy núi liên kết với nhau chạy theo hướng Bắc - Nam. Đặc
điểm của núi ở khu vực này có sườn dốc đứng, đỉnh nhọn, chúng thường bị
chia cắt bởi nhiều đường phân thủy. Với góc độ sơn văn có dạng tia phức
tạp. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ,
vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này cùng với các
đã tạo nên nhiều đầm phá ở vùng ven biển tỉnh Bình Định. Những đầm phá
lớn như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Thị Nại và phá Công Khánh. Các
đầm phá được ngăn cách với biển bởi các đồi cát hoặc các dãy núi thấp và
trao đổi nước với biển qua một cửa rất hẹp. Dạng địa hình đầm phá sẽ đem
lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi
trồng khai thác các nguồn lợi thủy hải sản. Ngoài khu vực đầm phá, bờ biển
tỉnh Bình Định có thể phân chia thành hai dạng chủ yếu: Đoạn bờ biển từ
Quy Nhơn đến giáp Sông Cầu thuộc dạng bờ biển tích tụ - mài mòn đang bị
san bằng; đoạn từ Quy Nhơn đến Sa Huỳnh thuộc dạng bờ biển tích tụ - mài
mòn bằng phẳng đã bị san bằng.
- Tiếp với khu vực bờ biển là vùng thềm lục địa khá rộng lớn:
Độ sâu thường đạt đến 50 m khi cách bờ khoảng 10 km. Đây là khu
vực có nhiều tiềm năng về khoáng sản, đặc biệt là tiềm năng về dầu mỏ và
khí đốt. Tuy nhiên, với địa hình có độ dốc lớn và sâu nên việc thăm dò và
khai thác có thể gặp một số hạn chế nhất định.
Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên tỉnh Bình Định có khá
nhiều sông lớn nhỏ nhưng phân bố không đều, đáng kể nhất là 4 sông lớn:
sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Kôn và sông Hà Thanh. Trong đó sông
Kôn và sông Lại Giang có vai trò quan trọng hơn cả. Hầu hết các sông nhánh
trên vùng miền núi là phụ lưu của hai sông chính nói trên.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Nhìn chung các sông đều có độ dốc lớn, chịu sự chi phối của mưa
trên lưu vực, sự ảnh hưởng của thủy triều chỉ một phần rất nhỏ ở cửa sông,
đặc tính này khác hẳn với các sông miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Vì có độ
dốc lớn, lưu vực ở hạ lưu hẹp nên bị lũ gây ở thượng nguồn rất nguy hiểm,
đồng thời mùa kiệt gây nên sự khô cạn ở hạ lưu, giảm mực nước ngầm và tạo
C vượt tiêu chuẩn 9.500
o
C của khí hậu xích đạo.
- Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm 22,5 - 27,9 % và độ
ẩm tương đối từ 79 - 92 % tại khu vực miền núi; tại vùng duyên hải độ ẩm
tuyệt đối trung bình là 27,9 mb, cực đại 32,7 mb và cực tiểu 20,0 mb. Độ ẩm
tương đối trung bình là 79 % và cực tiểu là 31 %.