TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - Pdf 20

Tư tưởng Hồ Chí Minh
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I. Lý luận chung về quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
C.Max, Ph.Awngghen, V.I.Leenin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kì
quá đọ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá
trình vận đọng phát triển của các hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.
C.Mac đã cho rằng thời kì đi lên chủ nghĩa xã hội bao gồm những giai đoạn kéo
dài. Điều đó cũng được Lênin khẳng định: Trong thời kì quá độ, sự nghiệp xây dựng
CNXH có khi phải “ làm lại nhiều lần” mới xong. Theo V.I. Lênin tất yếu xảy ra quá độ
lên CNXH là do đặc điểm ra đời phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa và cách mạng
vô sản quy định, sự hình thành chế độ mới do đó nó cần phải có thời gian, có những sự
chuẩn bị và những tích luỹ vật chất cần thiết đủ cho nó lọt lòng và phát triển.
Thời kì quá độ là thời kì lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên CNXH cũng
đều phải trải qua ngay cả đối với những nước có nền kinh tế phát triển. Con đường phát
triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã lựa chọn là con đường phát triển rút ngắn theo phương thức quá độ
gián tiếp.
Bối cảnh lịch sử thế giới lúc bấy giờ bước vào thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản
(CNTB) lên CNXH. CNTB lúc đó là xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn
cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là
giai đoạn chủ nghĩa xã hội.
Ngay khi ra đời Đảng ta đã xác định con đường phát triển của dân tộc là quá độ lên
CNXH. Từ sau khi Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo đã
thành công thì chúng ta đã cởi bỏ được hai vòng xích, đã thoát khỏi cảnh một cổ hai
tròng, Đảng và Nhà nước thêm vững mạnh, nhân dân đã thêm niềm tin vào Đảng, quyết
tâm đi theo Đảng. Trong thời đại ngày nay chỉ có độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mới
đem lại nhiều lợi ích và hạnh phúc thực sự cho toàn thể nhân dân lao động. Vì những lẽ
đó, Đảng tất yếu lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến thẳng lên CNXH không trải
qua giai đoạn phát triển TBCN.
Liên Xô lúc đó đã tiến hành thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa và sẵn

chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa bắt đầu được hình thành. Văn hóa, xã hội, y
tế, giáo dục không những được duy trì mà còn có sự phát triển mạnh. Sản xuất nông
nghiệp phát triển, công nghiệp địa phương được tăng cường.
- Hạn chế: vẫn còn tàn dư của chiến tranh để lại, tổn thất lớn về người và của.
c) Giai đoạn 1975-1985:
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Hạn chế:
o Mối quan hệ giữa Đảng- nhà nước và nhân dân từng cấp, từng đơn vị
chưa được xác định rõ, còn chống lấn, chế độ trách nhiệm chưa nghiêm, pháp chế còn
nhiều thiếu sót.
o Bộ máy nhà nước cồng kềnh, cơ chế quản lý tập trung quan liêu , bao
cấp dẫn đến chưa phát huy được dân chủ xã hội.
o Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ, có tình trạng tập
trung- quan liêu. Các đoàn thể chưa phát huy vai trò tổ chức, động viên quần chúng
tham gia hoạt động và quản lý kinh tế- xã hội.
d) Giai đoạn 1986- đến nay:
- Ưu điểm:
o Nhà nước kiện toàn cả về tổ chức và hoạt động, trên cả ba lĩnh vực lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Quản lý nhà nước bằng pháp luật được tăng cường. Sự
lãnh đạo nhà nước được thể chế hóa trong Hiến pháp
o Đảng thường xuyên coi trọng việc đổi mới và tự chỉnh đốn, giữ vững và
tăng cường vai trò lãnh đạo xã hội. Phương thức lãnh đạo, phong cách công tác nhiều
đổi mới, tiến bộ, dân chủ được phát huy, quan hệ với nhân dân được củng cố
- Hạn chế: Năng lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành
của nhà nước, hoạt động của mặt trận và các tổ chức quần chúng ngang tầm nhiệm vụ.
o Cải cách hành chính chậm, bộ máy còn cồng kềnh, quản lý chưa hiệu
quả, phát sinh nhiều tiêu cực.
Mặt trận, các tổ chức quần chúng chưa thoát khỏi ”hành chính hóa”, chất lượng giám sát,
phản biện còn yếu, dân chủ còn bị vi phạm.

khu vực II là 39%, khu vực III là 39%; năm 2010 thì tỷ trọng các khu vực tương ứng là
22%; 40%; 38% . Các thành phần kinh tế trong GDP cũng có sự chuyển dịch từ chủ yếu
là quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần nhung vai trò chủ đạo của kinh tế quốc
doanh vẫn được tăng cường.
Về cơ chế quản lý kinh tế mới đã bước đầu được hình thành. Nhà nước đã xoá bỏ
về cơ bản kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hình thành cơ chế thị trường, Nhà nước đã
dần dần cải tổ bộ máy và các công cụ quản lý. Từ chỗ chủ yếu sử dụng phương pháp
hành chính coi kế hoạch hoá với các chỉ tiêu pháp lệnh là công cụđể quản lý, điều hành
4
Tư tưởng Hồ Chí Minh
nền kinh tế sang chủ yếu quản lý bằng pháp luật kết hợp chính sách và các công cụ điều
tiết vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, thu nhập và chính sách kinh tế đối ngoại.
Kinh tế nước ta đã đạt thành công lớn trong việc kiềm chế và đẩy lùi lạm phát.
Trong những năm từ 1986 đến 1988 lạm phát tới ba con số (cao nhất là 774,7% năm
1986) nhưng đến năm 1989 lạm phát đã được chặn lại ở hai con số sau đó giảm xuống
một con số (năm 1997 là 3,7%; năm 1999 là 0,1%; năm 2001 là 0,8%; năm 2002 là 4%;
năm 2003 là 3% thậm chí còn có giảm phát vào năm 2000 là - 0.6%. Năm 2004 lạm phát
đã tăng lên 9,5%. Và năm 2010 là 11.75%
Về kinh tế đối ngoại trong thời kì quá độ cũng phát triển mạnh mẽ. Chúng ta đã
tham gia vào các tổ chức khu vực cũng như trên thế giới: gia nhập ASEAN năm 1995,
gia nhập AFTA năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký hiệp định thương mại Việt –
Mĩ. Tháng 10 năm 2004 chúng ta đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu lần
thứ 5 (ASEM 5). Và đến tháng 11 năm 2004 Việt Nam đã kí 86 hiệp định thương mại
song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộđầu tư, 40 hiệp định chống đánh thuế
hai lần đối với các nước, vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với 160 nước và nền kinh
tế, năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới
(WTO). Thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ như WB, FDI, IMF, ODA…
2.2. Về xã hội

được ổn định. Thành quả này là kết quả tổng hợp của công cuộc đổi mới trong đó quốc
phòng an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Các nhu cầu củng cố quốc phòng, cải thiện
đời sống của lực lượng vũ trang luôn được quan tâm đáp ứng. Chất lượng và sức mạnh
quân đội luôn được nâng lên. Thế trận quốc phòng toàn dân luôn được củng cố vững
chắc, chủ quyền đất nước càng được khẳng định rõ ràng. Như vậy, chúng ta đã thực hiện
tốt chính sách kết hợp kinh tế và an ninh quốc phòng.
Thực hiện có kết quả nhiều bước quan trọng về hệ thống chính trị.
Về củng cố Đảng trong thời gian qua Đảng đã từng bước bổ sung, cụ thể hoá
đường lối đổi mới, làm rõ dần con đường đi lên CNXH ở nước ta, củng cố về chính trị, tư
tưởng, tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
trong xã hội.
Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tuy thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý nhưng Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền dân chủ, do dân và vì dân.
Điều đó thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp theo
chế độ phổ thông đầu phiếu, chính người dân đã trực tiếp được cầm phiếu đi bầu người
đại diện cho mình. Bên cạnh đó, đời sống của nhân dân các vùng dân tộc cũng được đặc
biệt chú ý quan tâm, Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi
lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các
6
Tư tưởng Hồ Chí Minh
dân tộc Việt Nam. Đảng luôn luôn tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, tập quán, tín
ngưỡng tôn giáo của các dân tộc, luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm
bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng đồng thời chống việc lợi dụng tín
ngưỡng để xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.
Chúng ta phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá vỡ thế bao vây, cô lập, tham
gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế, triển khai tích cực và năng động đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá. Chúng ta đã khắc phục và tăng
cường quan hệ với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, bình thường hoá quan
hệ Việt – Mỹ, mở rộng quan hệ với các nước Nam á, Châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông,
với các tổ chức quốc tế, khu vực, đã tham gia vào các tổ chức ASEAN, AFTA, APEC,

tăng lớn, hàng xuất khẩu chủ yếu là thô hoặc sơ chế ví dụ như dầu khí, than… và chất
lượng thấp. Bên cạnh đó chưa xây dựng và sử dụng các biện pháp bảo vệ thị trường nội
địa. Một trong những nguyên nhân khiến cho cạnh tranh yếu là hàm lượng công nghệ
trong sản phẩm, trình độ lao động của Việt Nam còn thấp.
III. Giải pháp cho con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
1. Giải pháp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cần tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật để
chuyển dịch cơ cấu, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của đất nước, tạo năng
suất lao động xã hội cao, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững. Do đó cần
phải có giải pháp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trước hết, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn vốn rất lớn do đó chúng ta
phải huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Chúng ta có thể huy động vốn từ trong
nước hay nước ngoài. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc
dân, muốn huy động được nguồn vốn trong nước điều kiện cần là phải nâng cao hiệu quả
sản xuất trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, hợp lý hoá sản xuất. Nhà nước và các
ngân hàng phải có những chính sách khuyến khích tiết kiệm như giảm thuế đánh vào lãi
suất, nâng lãi suất tiết kiệm, đấu tranh triệt để với nạn tham nhũng, lãng phí. Cần tận
dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, muốn thu hút được vốn đầu tư
nước ngoài buộc chúng ta phải có những chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài, giảm bớt
rườm rà trong thủ tục hành chính, cải thiện được môi trường đầu tư theo hướng giảm giá
đầu vào của sản xuất thuộc độc quyền nhà nước như làđiện, viễn thông, dịch vụ cảng
biển, phí cầu đường…
Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động, vấn đề thiếu lao động có tay
nghề đang là một vấn nạn chung. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng mục
tiêu phát triển và hội nhập của đất nước thì Đảng, Nhà nước và địa phương cần phải có
8
Tư tưởng Hồ Chí Minh
chiến lược đào tạo nghề, chuẩn đội ngũ lao động có kĩ năng tay nghề, trình độ chuyên
môn kĩ thuật cao. Cần phải chuyển dần việc đào tạo nghề đơn giản sang đào tạo đội ngũ
lao động có nghề, có kĩ năng và có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao, có khả năng thích

Tư tưởng Hồ Chí Minh
doanh của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh sang hoạt động
theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thực hiện chủ trương cổ phần
hoá doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo
động lực và cơ chế quản lý năng động, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Ưu
tiên cho người lao động được mua cổ phần và từng bước mở rộng bán cổ phần cho nhà
đầu tư trong nước và nước ngoài.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, chuyển đổi hợp tác xã
cũ theo Luật hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực. Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp
đa ngành hoặc chuyên ngành để kinh doanh phù hợp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá .
Kinh tế cá thể và tiểu chủ ở nông thôn và thành thị cần được Nhà nước tạo điều
kiện để phát triển.
Kinh tế tư bản tư nhân phải được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy
mô trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, cần được khuyến khích hợp tác
liên doanh với nhau và liên doanh với doanh nghiệp Nhà nước để chuyển thành doanh
nghiệp cổ phần hay bán cổ phần cho người lao động.
Kinh tế tư bản Nhà nước cần được phát triển dưới các hình thức liên doanh, liên
kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước phát triển đa dạng.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của kinh tế Việt Nam khu vực
kinh tế này ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, điều đó rất phù hợp với mong
muốn của Đảng và Nhà nước nhưng bên cạnh việc khuyến khích phát triển thì chúng ta
cũng cần phải chú ý đến quyền công dân của lao động trong các doanh nghiệp này đồng
thời phải cảnh giác những âm mưu chính trị được nguỵ trang trong việc đầu tư kinh tế ở
Việt Nam.
3.Giữ vững chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Để giữ vững chính trị thì Đảng và Nhà nước phải quan tâm nhiều hơn nữa đến đời
sống hàng ngày của nhân dân, phải luôn chú ý đến những kẻ sống lưu vong trong nước
nhằm gây dựng các tổ chức chống phá cách mạng nước ta. Đảng phải thường xuyên duy
trì được khối liên minh công - nông – trí thức, phải cùng với các tổ chức chính trị, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status