Giáo trình tổng hợp những phương pháp để tìm hiểu về thành phần thực vật trong thiên nhiên phần 3 doc - Pdf 20


25
Phương pháp này cho ta biết năng suất hạt của cả khu rừng chứ không chỉ một loài
nào. Các ngăn kéo có kích thước nhất định, được đặt theo mô hình xác định và được
theo dõi với thời gian xác định. Ngăn kéo có thể bằng gỗ hay kim loại, có thành cao từ
10 - 15cm, đáy là lưới kim loại hay sợi ngông Để ngăn cản động vật có thể vào ăn,
mặt trên của ngăn kéo có lưới kim loại có mắt cỡ lớn
để đậy. Nếu đáy bằng gỗ thì phải
có lỗ thoát nước.
Kích thước ngăn kéo có thể là 4,5m
2
, lm
2
và 0,25m
2
, hiện nay thường dùng loại
lm
2
và 0,25m
2
. cũng có thể thay ngăn kéo đặt đất bằng phễu kim loại hay bằng gỗ.
Hình dạng có thể tròn hay vuông. 26

Các nhà nghiên cứu Mĩ thường dùng lưới thay cho ngăn kéo. 27
Vấn đề đặt ra khi tiến hành đánh giá sản lượng hạt bằng dụng cụ là ngăn kéo hay

2
(l
x 3m). Để đánh giá sán lượng hạt cho một mảnh rừng, có thể đặt các ô này dưới một số
cây chọn làm mẫu hay đặt dưới tán theo như hình 10.
Cách tính: Có thể bố trí ô tính như trên, ở dưới gốc từ 10 rõ cây gỗ trong ô thí
nghiệm, sau đó tính theo cây hay diện tích đất, từ đó tính cho cả ô thí nghiệm. Đối với
quần xã rừng, có hiện tượng tán cây này chồng lên cây khác thì người ta bố trí ô thí
nghiệm theo mô hình như hình 9. Kích thước của ô có thể khác nhau, di
ện tích ô lớn
nhất có thể là 25m
2
trong trường hợp này số ô sẽ giảm đi còn với diện tích là 1 - 2m
2

thì thường đặt khoảng 50 ô cho ô tiêu chuẩn 1ha. Với cây trồng, số ô có thể giảm
khoảng 1/2. Tiến hành thu thập mẫu ngoài thực đỉa nên vào cuối mùa thu hoặc đầu
đông khi các loại quả đã rụng hết.
3.3.3. Xác định số lượng hạt (quả) của một số năm đã qua của từng cây gỗ
hay của cả quần xã
Các phương pháp đã nói ở trên là để xác định số lượng quả
hay hạt trong năm đó.
Để hiểu và đánh giá được quy luật biến động về hình thành quả (hạt) sự phụ thuộc của
nó từ điều kiện tự nhiên như thế nào thì đòi hỏi phải biết sự biến động của nó trong
một số năm về trước.
Các phương pháp thường dùng đó là:
- Xác định số lượng quả (hạt) của các năm trước b
ằng phương pháp hình thái:
Bản chất của phương pháp này là, hằng năm khi quả rụng sẽ để lại vết tích trên
cành, qua vết tích đó có thể xác định số lượng quả của một số năm đã.qua. Vì vậy, nó
đòi hỏi người xác định phải thông thạo về hình thái cành và quy luật phân bố chồi sinh

Những phương pháp kể trên cho phép xác định số lượng quả, hạt trong năm hay
một số năm đã qua. Ngoài ra cũng có lúc cần phải dự báo trước về số lượng và độ lớn
năng suất quả hạt một vài tháng trước. Phương pháp này cũng sẽ dùng cây mẫu như
đã
nêu trên. Tuy nhiên, cũng có lúc cần dự báo sớm hơn thì người ta cần phải tính toán
trên cơ sở các chồi có khả năng sinh sản, nguyên tắc của nó là càng nhiều chồi tham
gia sinh sản sẽ càng nhiều hoa và sẽ nhiều quả trong vụ tới.
- Phương pháp xác định (mang tính dự báo) theo số chồi tham gia sinh sản (hình
12):
Phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải hiểu rất kĩ về hình thái chồi của
cây đó, chồ
i nào sẽ là chồi sinh dưỡng, chồi nào sẽ tham gia sinh sản. Từ hình thái
đánh giá được khả năng thực tế từng chồi (nhiều hay ít hoa), số hoa đực, hoa cái

30

Hình 12: Chồi sinh dưỡng và chồi sinh sảncủa một số cây gỗ
(Theo Katerova, 1956)
CSDTC ; Chồi sinh dường tận cùng ; CSD: Chồi sinh dường ;
CH: Chồi hoa ; CHC: Chồi hoa cái ; CHĐ: Chồi hoa đực
(Theo Katerova, 1956)
- Phương pháp xác định (mang tính dự báo) theo số lượng hoa và các nón mới
hình thành.
Theo mức độ phong phú cua hoa và chồi nón có thể dễ dàng đánh giá khả năng
hình thành quả hay hạt trong tương lai. Phương pháp này thường dùng cây hay cành
làm mẫu chuẩn để xác định bằng mắt. Nó có thể
sai khi bị tai biến trong thời gian về
sau này. Thường người ta dùng bảng thang bậc (5 bậc) đê phân chia tương ứng từng
bậc là số lượng hay kg.
3.4. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SINH SẢN HẠT Ở CÂY BỤI

ơ quan sinh dưỡng. Các dạng khác như nón, quả phức
Tất cả các hình thức phục vụ cho sinh sản và phát tán thực vật.
Sau đây chúng ta chỉ xem xét ở phần sinh sản hạt.
Những nghiên cứu về vấn đề này còn quá ít, chẳng hạn như bằng cách nào (động
vật, gió, nước ) đã phát tán những phần nào của thực vật và xảy ra trong thời điểm,
điều kiện nào. Càng ít hơn đó là sự nghiên cứ
u về giải phẫu hình thái để làm rõ những
thích nghi với hình thức phát tán nó. Nhưng để làm rõ ý nghĩa sinh học của quá trình
này, ta cần xác định trong quá trình phát tán một loài nào đó thì cái gì đóng vai trò
chính. Chúng ta biết, với một loài cũng có thể có rất nhiều dạng và con đường phát tán.
Vì vậy, phương pháp nghiên cứu vấn đề này là rất phức tạp vì:
- Thứ nhất: phạm vi phát tán sẽ đến đâu, một cá thể có thể cho hàng nghìn, chục
nghìn hạt
- Thứ hai: quá trình này cũ
ng rất thay đổi, đối tượng theo dõi rất phức tạp, nó có
thể rất nhỏ và rất ít.
- Thứ ba: phương tiện phát tán rất đa dạng, thích nghi với nó cũng rất khác nhau
nên không thể dùng một phương pháp ngay cho một loài.
- Thứ tư: mỗi loại mầm mống có thể được phát tán bởi nhiều nhân tố, cái gì sẽ là
chính, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể.
Cuối cùng đó là khả năng thích nghi c
ủa thực vật với từng kiểu của mầm phát
tán, sự thích nghi này nó đã được thể hiện trong cấu tạo hình thái của cây, đặc biệt là
thời kì chín của quả và hạt.
Ngoài ra, lực tác động của quá trình phát tán này còn liên quan đến trạng thái của
thực vật trong quá trình quả, hạt chín và đặc điểm thực vật quần lạc bao quanh nó.
3.5.1. Những phương thức phát tán các mầm sống
Từ sự khác nhau về kh
ả năng phân bố mầm sống mà người ta chia ra 2 nhóm
thực vật khác nhau: Tự phát tán ở nhóm này sự phát tán quả, hạt không nhờ bất cứ lực

- Các mầm bên trong sẽ đi ra như thế nào, trong điều kiện nào.
- Mầm mống sinh sản có thể rụng liên tục từ túi đựng nó hay chỉ khi nào phân bị
dao động.
- Hình thái mầ
m sinh sản: hình dạng, kích thước, màu sắc đặc điểm khác.
4. Có hay không hiện tượng dị quả: ở một số thực vật có hiện tượng dị quả ngay
trên một cá thể. Sự dị quả sẽ đưa đến khả năng phát tán khác nhau.
5. Nhịp điệu chín và phát tán mầm sinh sản: ở đây cần chú ý tới đặc điểm nơi
mọc, trong các quần xã khác nhau, sự chín khác nhau ra sao, bắt đầu lúc nào, k
ết thúc
lúc nào. Số lượng mẫu cần nghiên cứu cho mỗi điểm từ 25 - 50 cá thể.
6. Năng suất của hạt. Để phục vụ cho nghiên cứu về phát tán hạt, cần làm rõ năng
suất hạt trung bình trên từng cá thể, hạt trong một quả.
3.5.3. Nghiên cứu khả năng khác nhau của phân bố mầm sinh sống
3.5.3.1. Sự phân bố mầm sống nhờ gió

33
Nhiệm vụ cơ bản của nghiên cứu sự phát tán nhờ gió là xác định những đặc điểm
khác nhau của các mầm khác nhau trong phát tán nhờ gió. Nhóm phương pháp này
được chia thành 2 công đoạn, đó là: hình thức giải phóng các mầm phát tán nhờ gió và
hình thức hứng nó đến.
Để theo dõi được thì dựa vào màu sắc là dễ dàng hơn cả nhưng lại gặp rất nhiều
khó khăn. Vì thứ nhất: những mầm phát tán nhờ gió không bị nướ
c làm ướt (không
ngấm) nên dung dịch màu không giữ được. Thứ hai: lông ngoài vỏ khi bị nhuộm làm
khô sẽ không có khả năng chuyển động trong không khí như trước. Thứ ba: không
phải tất cả đều có thể nhuộm được.
Để có thể nhuộm được thường dùng chất màu hữu cơ tan trong rượu, tốt nhất là
màu đỏ.
Với từng loài cây cần chọn cây mẫu để thí nghiệm (rừng, đồng cỏ, cây bụi) phun

3.5.3.3. Phát tán nhờ động vật
Cần có sự tham gia của các nhà động vật học, có như thế mới có thể định loại
được loài động vật, hiểu đượ
c sinh thái của nó sẽ có phương pháp nghiên cứu thích
hợp.
Phát tán nhờ động vật cũng rất đa dạng, mỗi loại dùng hệ phương pháp riêng. Sau
đây sẽ xem một số dạng: nhờ kiến, gặm nhấm, chim, động vật ăn cỏ.
a) Phát tán mầm sống nhờ kiến: Những vấn đề cần làm sáng tỏ là:
- Những loại mầm sống nào (loài nào) sẽ được phát tán bằng kiến: muốn vậy ph
ải
tiến hành theo dõi.
+ Những mầm sống nào được kiến tha về tổ, số lượng, số loài của nó, tiến hành
bằng cách đào một số tổ kiến (có thể 100 tổ cho 1 quần xã).
+ Liệt kê những mầm sống và loài thường gặp trên đường đi của kiến bị kiến bỏ
lại.
+ Đặt thử một số mầm trên đường đi của kiến để
theo dõi số mầm bị tha đi, tốc
độ bị tha.
- Khối lượng thu gom trong quá trình hoạt động của kiến.
Muốn vậy phải làm thí nghiệm theo dõi, diện tích 100 - 200cm
2
bỏ vào đó 25, 50,
100 loại mầm kiến tha đi và theo dõi nó theo từng loại. Theo dõi qua từng giờ, thí
nghiệm cần tiến hành vài lần.
Với khoảng cách nào thì kiến có thể thực hiện phát tán, để làm rõ điều này cũng
phải theo dõi và làm thí nghiệm với các mầm khác nhau, khoảng cách khác nhau.
b) Phát tán nhờ bọn gặm nhấm: Gặm nhấm sẽ tiến hành thu gom các mầm sống
khác nhau với khoảng cách khác nhau.
Có nhiều loại gặm nhấm và với từ
ng kiểu thảm thực vật có tổ hợp khác nhau.

Trong mối quan hệ với ngoại động vật phát tán cần phải làm rõ sự khác nhau của
hệ thống quả. Về số lượng ta có thể tiến hành
đếm, ví dụ nhặt từ lông của một con vật
nào đó mỗi loại phải lặp lại từ 10 - 15 lần.
Với nhóm động vật ăn cỏ nội phát tán có thể nghiên cứu qua phân.
3.5.4. Một số ý kiến về việc lập bộ sưu tập mô tả quả hạt
Khi nghiên cứu về sinh thái của các mầm mống rất cần phải tập hợp để thành bộ
sưu t
ập mẫu các loại, nó thoả mãn yêu cầu:
1. Hạt và quả được thu thập từ địa điểm nó mọc.
2. Quả (hạt) mọng hay khô đều không phơi khô mà phải cố định nó trong dung
dịch, nếu nó có màu gì cần ghi màu trên etêkét.
3. Nếu quả (hạt) dễ vỡ cần có hộp đựng.
4. Nếu có phần phụ dễ rụng thì cần thu quả (hạt) có cả phần phụ hoặc thu phần
phụ riêng.
5. Khi có hi
ện tượng dị quả thì cần thu cả, trên etêkét cần ghi rõ nó trên cây hay
trên một cụm hoa.

36
Chương 4
NGHIÊN CỨU SINH SẢN SINH DƯỠNG
VÀ SỰ PHỤC HỒI CÁC CÁ THỂ TRONG QUẦN XÃ 4. 1. SINH SẢN SINH DUỠNG VÀ SỰ PHỤC HỔI Ở THỰC VẬT BẬC CAO,
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NÓ
Gọi là sinh sản sinh dưỡng tức là sự tạo ra một cơ thể mới từ một phần của bộ
phận sinh dưỡng của cơ thể khác, từ đó khả năng sinh sản của cơ thể sau này hoàn toàn
giống với cơ thể mẹ. Sinh s

tán bằng con đường sinh dưỡng, nghĩa là xâm chiếm khoảng trống bằng cơ quan sinh
dưỡng, nó khác với xâm chiếm bằng sinh sản hạt hay bào tử và đơn giản hơn, còn sinh
sản hạt nó biểu hiện ở các mức độ khác nhau. Ở đây cần nói thêm rằng, khi nghiên cứu
sinh sản sinh dưỡng c
ần đặc biệt chú ý đến sức sống và tốc độ phát tán của thực vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status