NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
MỤC LỤC
3.1Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: 5
3.2Chính sách lãi suất: 7
3.3Nghiệp vụ thị trường mở: 9
3.4Hạn mức tín dụng: 10
3.5Tỷ giá hối đoái: 11
Tài liệu tham khảo 39
1
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
A. LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng
nhất của nhà nước bên cạnh các chính sách tài khóa, chính sách phân phối thu nhập,
chính sách kinh tế đối ngoại … nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời
sống nhân dân.
Như chúng ta đã biết, Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà
nước, được độc quyền phát hành giấy bạc và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định giá trị đồng
tiền, duy trì sự ổn định trong hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Do đặc thù như vậy,
nên Ngân hàng trung ương nắm giữ một trong những công cụ quan trọng nhất để quản
lý nền kinh tế vĩ mô, đó là chính sách tiền tệ. Ngân hàng trung ương sử dụng chính
sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắt chặt lại trong việc cung ứng tiền tệ,để ổn
định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn.
Để thực hiện mục tiêu cơ bản đó ngân hàng trung ương có những công cụ chính
sách tiền tệ trong tay đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành kinh tế vĩ mô của
nhà nước đó là: các chính sách về lãi suất, chính sách tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chính sách
hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở và chính sách tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên
trong thời gian vừa qua việc thực thi các chính sách tiền tệ của Việt Nam luôn có độ
trễ và phản ứng chậm so với những diễn biến của thị trường tiền tệ cho nên các chính
sách tiền tệ chưa thực sự phát huy được hết những lợi ích và hiệu quả vốn có.
kỳ nhất định. CSTT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế -
tài chính vĩ mô của chính phủ.
• CSTT mở rộng (nới lỏng): Là CSTT mà thông qua đó Chính phủ muốn kích
cầu nền kinh tế, mở rộng tiền tệ, cung ứng thêm nguồn vốn vào kinh tế nhằm
thúc đẩy tăng trưởng và tạo thêm của cải vật chất, công ăn việc làm cho xã hội.
• CSTT thu hẹp (thắt chặc): Là CSTT mà thông qua đó Chính phủ thắt chặt tiền
tệ nhằm kiềm chế, ổn định lạm phát khi tình hình kinh tế tăng trưởng nóng hoặc
tỷ lệ lạm phát ở mức cao.
2. Mục tiêu của Chính sách tiền tệ:
2.1 Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng:
Phát triển kinh tế ở đây là sự phát triển nói chung về nền kinh tế nhưng cụ thể
hơn đó là sự phát triển về đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng cho nền
kinh tế như hệ thống thông tin, nguồn nhân lực chất lượng cao,v.v… nhằm tạo ra
nhiều của cải cho xã hội, gia tăng tổng sản phẩm Quốc gia.
Trong việc thực hiện mục tiêu nêu trên, vai trò của ngân hàng trung gian rất quan
trọng. Với chức năng là trung tâm tín dụng, dưới sự chỉ đạo của NHTW thông qua
chính sách tiền tệ, các ngân hàng trung gian sẽ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi trong xã hội để cung ứng vốn cho các đơn vị kinh tế để nhằm mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh và góp phần vào sự phát triển kinh tế.
4
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
2.2 Tạo công ăn việc làm:
Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm, nói chung chủ yếu phụ thuộc vào tình hình
tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm
cho người lao động, thất nghiệp giảm; ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ thì công văn
việc làm giảm, thất nghiệp tăng.
Đứng trước vấn đề nêu trên, vai trò của NHTW là phải vận dụng các công cụ của
mình góp phần tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững; khống chế tỷ lệ thất
nghiệp ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
2.3 Kiểm soát lạm phát:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng vẫn là một trong những nhân tố cơ bản nhất tác động
đến khả năng tạo tiền và vì vậy nó tác động mạnh nhất đến khối lượng tiền cung ứng.
Việc tăng lãi suất trên thị trường tín dụng lại là hiệu quả gián tiếp khi NHTW muốn
nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để thắt chặt tiền tệ. Lãi suất tín dụng tăng lên thì cầu về tín
dụng sẽ giảm xuống và nguồn cung ứng tiền vì thế có thể co hẹp lại và ngược lại cho
chính sách mở rộng tiền tệ.
Tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với khối lượng tiền trong nền kinh tế là
khá toàn diện, nó tác động rất mạnh mẽ không chỉ đến qui mô, khối lượng tín dụng mà
cả đối với lãi suất tín dụng. Mức độ tác động không chỉ làm tăng hay giảm đơn thuần
mà là làm thay đổi theo số lần tiền cung ứng vào lưu thông (tăng lên nhiều lần hoặc
giảm xuống nhiều lần).
Hạn chế:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bộc lộ hạn chế trong tương tác với NHTM. Có thể thấy
NHTW các nước hầu như không một nước nào trả lãi cho dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dữ trữ
bắt buộc càng tăng để giải quyết vấn đề lạm phát thì sẽ làm cho chi phí tốn kém cho số
tiền để dự trữ càng nặng nề. Từ đó NHTM có thể tăng lãi suất cho vay lên để bù đắp
cho sự thiệt thòi mất mát khi dự trữ ở NHTW mà không thu được đồng lãi nào.
6
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
Công cụ này còn bộc lộ khá nhiều hạn chế về cơ chế quản lý vì mang nặng tính
mệnh lệnh hành chính, áp đặt và không phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay.
Trên thực tế thị trường cũng rất khó có thể chấp nhận một sự thay đổi lớn, thay
đổi đột ngột về lượng tín dụng, khối lượng tiền tệ và lãi suất thị trường. Vì vậy có lẽ sự
thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc thường xuyên là việc không nên làm.
Ngoài ra sự vượt trội quá mức về dự trữ ở các ngân hàng so với dự trữ bắt buộc
đã gần như vô hiệu hóa khả năng chi phối quá trình cung ứng tiền của NHTW thông
qua công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc này.
3.2 Chính sách lãi suất:
NHTW quản lý lãi suất bằng cách đưa ra khung lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi
suất tái chiết khấu.
Mức độ ảnh hưởng của nó tới lãi suất thị trường tiền tệ cũng lớn nếu như khối lượng
tín dụng của ngân hàng nhận từ NHTW càng nhiều và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
tổng dự trữ của các ngân hàng.
Hạn chế:
Một biểu lãi suất cơ bản cứng nhắc làm mất đi tính uyển chuyển, linh hoạt của
“loại giá” đặc biệt này. Việc giữ nó ở mức tương đối cố định một cách lâu dài tạo ra
khoảng cách không hợp lý giữa lãi suất và tỷ suất lợi nhuận bình quân, lãi suất và tỷ tệ
trượt giá, lãi suất và rủi ro…Mặt khác, gắn liền với khung lãi suất bao giờ cũng có sự
phân biệt đối xử giữa các ngành nghề khác nhau, giữa các thành phần kinh tế khác
nhau…tạo ra một mặt bằng cạnh tranh không thỏa đáng trong nền kinh tế.
Đối với trường hợp tăng lãi suất chiết khấu, mặc dù mục đích là để hạn chế ngân
hàng vay vốn nhưng lại không thể cấm khi ngân hàng có nhu cầu phải vay. Còn việc
giảm lãi suất chiết khấu để khuyến khích các ngân hàng vay từ NHTW cũng chỉ có tác
dụng khi ngân hàng muốn cho vay nhưng nguốn vốn huy động của các ngân hàng
không có khả năng đáp ứng nhu cầu.
8
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
Trong trường hợp ngân hàng đủ khả năng thanh toán, lãi suất thị trường tiền tệ
thấp hơn lãi suất tái cấp vốn, thì việc tăng lãi suất tái cấp vốn sẽ không còn ý nghĩa gì
mà còn làm mất khả năng kiểm soát của nó với lãi suất thị trường tiền tệ.
3.3 Nghiệp vụ thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ để NHTW thực hiện việc cung ứng và điều
hòa khối lượng tiền tệ thông qua hành vi mua hoặc bán các loại công trái, trái phiểu
kho bạc, chứng thư tài sản khác…gọi chung là chứng khoán. Đây là công cụ CSTT
quan trọng vì những hoạt động trên thị trường mở là yếu tố quyết định quan trọng nhất
đối với sự thay đổi cơ số tiền tệ và thông qua đó tạo ra những biến động trong cung
ứng tiền tệ.
Các loại chứng khoán được mua bán trên thị trường mở: Thông thường Ngân
hàng trung ương các nước chọn chứng khoán ngắn hạn và trong số đó tín phiếu kho
bạc là loại hàng hóa được ưa chuộng nhất trên thị trường mở. Ngày nay thị trường mở
chỉnh tức thời cho thị trường tiền tệ.
Hạn chế:
Do mỗi ngân hàng đã được phân bổ một hạn mức tín dụng tối đa nên nó có xu
hướng làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng.
Trong giới hạn tín dụng định sẵn, quy trình phân phối (cho vay) thường bị chi
phối theo những tiêu chuẩn hành chính tùy tiện làm cho những dự án đầu tư mới rất
khó khăn khi muốn tìm nguồn vốn.
Về việc cho vay chỉ nằm trong giới hạn cho phép nên nó tạo điều kiện cho sự ra
đời của các trung gian tài chính mới nằm ngoài hệ thống ngân hàng và nằm ngoài tầm
kiểm soát của NHTW. Đó là quá trình phi trung gian hóa vai trò của ngân hàng. Kết
quả là mặc dù các chỉ tiêu kiểm soát tín dụng dường như được thực hiện nhưng trên
thực tế thì không.
10
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
3.5 Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại
tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại
hối. TGHĐ là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất
nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. NHTW sử dụng công cụ này
này nhằm mục đích ổn định nền kinh tế.
Khi vận hành công cụ tỷ giá hối đoái, NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định, tỷ
giá cố định nhưng di động khi cần thiết, thả nổi có quản lý, thả nổi theo quan hệ cung
cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
Những ưu điểm và hạn chế của công cụ “Tỷ giá hối đoái”
Lợi ích:
NHTW sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái nhằm đem lại những tác dụng tức thời
cho nguồn cung cầu trên thị trường ngoại tệ.
Việc phá giá đồng nội tệ sẽ giúp cho hàng hoá nước đó có sức cạnh tranh tốt hơn
hàng của nước ngoài, điều này sẽ hỗ trợ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
bằng việc sử dụng hàng nội địa có giá thấp hơn.
khoán biến động thất thường và đi xuống 30%. Với mục tiêu kiềm chế lạm phát, hỗ trợ
thị trường chứng khoán, kiềm hãm sự tăng trưởng nóng của thị trường Bất động sản.
NHNN đứng trước một bài toán khó trong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ. Tất
cả khó khăn trên đặt lên vai của NHNN.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực tế,
những tháng đầu năm 2008, NHNN đã điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để kiềm
chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng
nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá
30%.
Với chính sách thắt chặt tiền tệ từ đầu năm 2008, tình hình lạm phát có xu hướng
giảm, chỉ số CPI liên tục giảm từ tháng 6/2008, và âm những tháng cuối năm 2008,
12
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái. Buộc NHNN phải đưa ra các động thái nới lỏng
CSTT nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế.
Qua năm 2009 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những tác động
tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Trước tình hình đó, NHNN đã điều hành
CSTT theo hướng mở rộng nhằm ngăn chặn đà suy thoái của nền kinh tế sau khi bị
thắt chặt trong năm 2008, kiềm chế lạm phát, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
1.2Phân tích các công cụ CSTT áp dụng trong giai đoạn 2007-2009:
1.2.1 Lãi suất:
Năm 2007 với mục tiêu là phát triển kinh tế và duy trì mức tăng trưởng kinh tế,
lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu lần lượt được NHNN giữ ở
mức 8,25%/năm - 6,5%/năm - 4,5%/năm (Bảng 01: Diễn biến các mức lãi suất điều
hành của NHNN giai đoạn 2007-2009).
Thời gian
Lãi suất cơ bản
(%/năm)
Lãi suất
tái cấp vốn
10/04/2009
7
7 5
01/10/2009
7
7 5
01/12/2009
8
8 6
Nguồn:
13
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
Đầu năm 2008, trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát, ngày 30/1/2008,
NHNN đã thông báo điều chỉnh tăng các mức lãi suất cơ bản lên 8.75%, lãi suất tái
cấp vốn lên 7,5% và lãi suất tái chiết khấu lên 6%, áp dụng từ ngày 1/2/2008. Cũng
trong những tháng đầu năm 2008, trước các động thái nhằm siết chặt tiền đồng trong
lưu thông của NHNN, các ngân hàng thương mại phải đối mặt với khó khăn thiếu hụt
nguồn cung tiền đồng. Điều này đã dẫn đến cuộc chạy đua lãi suất vào khoảng giữa
năm 2008 của các NHTM.
Ngày 19/05/2008, NHNN thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều hành
lãi suất, theo đó lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ở mức trần lãi suất là 12%/năm.
Để đảm bảo sự đồng bộ trong điều hành cơ chế lãi suất nhằm mục đích điều tiết tiền tệ
một cách có hiệu quả, Thống đốc NHNN đã ban hành các Quyết định thay đổi cơ chế
điều hành lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, cụ thể lãi suất tái cấp vốn là
13,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 11,0%/năm. Qua đó, NHNN đã ngăn chặn được
nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong
những tháng cuối năm 2008; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng
tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng, cũng
như khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM.
Nhằm tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, kiềm chế lạm phát và ổn định
chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính tiền tệ. Kết quả này có ý nghĩa rất
quan trọng thể hiện vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với
việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà
nước và Bộ Luật dân sự. Tuy vậy lãi suất cơ bản là công cụ trực tiếp tác động đến lãi
suất kinh doanh của Ngân hàng Thương mại, có hạn chế nhất định khi đưa ra thị
trường các sản phẩm tín dụng có rủi ro cao. Xử lý vấn đề này thì Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước ban hành thông tư số 01/2009/TT-NHNN, Hướng dẫn về lãi suất thỏa
thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay phụ vụ đời sống, cho vay thông
qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là cơ chế thống kê,
theo dõi, thanh tra và giám sát để hạn chế rủi ro.
15
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
Từ những phân tích và nhận định trên, trong thời gian tới NHNN tiếp tục áp dụng
công cụ lãi suất cơ bản để đạt được các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, điều hòa cung
cầu vốn trên thị trường. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định, được
thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp, điều
hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi
cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hóa phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa
học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị trường tài chính tiền tệ trong và ngoài nước,
cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để nhằm ổn định kinh tế vĩ
mô, hệ thống tài chính.
1.2.2 Nghiệp vụ thị trường mở:
Thời điểm cuối năm 2007 NHNN đã tăng cường hơn khối lượng chào bán trong
từng phiên, đa dạng hóa kỳ hạn nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức đầu
tư, các tổ chức tín dụng; đồng thời tạo hành lang pháp lý cho quá trình giao dịch thị
trường mở, hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Với mục tiêu góp phần kiểm
soát lạm phát, ổn định tiền tệ, NHNN liên tục chào bán tín phiếu NHNN để rút tiền từ
lưu thông về. Cụ thể tháng 8/2007 đối với tín phiếu ngân hàng nhà nước đã bổ sung
thêm 3 kỳ hạn dài hơn là 182 ngày(6 tháng), 273 ngày (9 tháng), 364 ngày (12 tháng).
rộng tiền gửi cũng như giảm lượng vốn cung ứng trên thị trường liên ngân hàng. Từ
đó, khiến lượng tiền cung ứng ra lưu thông giảm,lãi suất cho vay tăng, giúp hạn chế
hoạt động đầu tư, góp phần kìm chế lạm phát.
Sang những tháng cuối năm 2008, đầu năm 2009 với mục tiêu mở rộng chính
sách tiền tệ, kích thích đầu tư nhằm ngăn chặn đà suy thoái của nền kinh tế. Ngân hàng
nhà nước đã liên tục điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc VNĐ
giảm từ 11% xuống 3% đối với tiền gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng; từ 5% xuống
1% đối với tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 12 tháng trở lên,… Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm đã
làm lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại tăng, hệ số mở rộng tiền gửi
và lượng vốn cung ứng trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng, tạo điều kiện cho các
17
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
NHTM cung ứng lượng lớn tiền ra lưu thông, lãi suất cho vay giảm, kích thích đầu tư,
tạo điều kiện phát triển kinh tế.
Bảng 02: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD Việt Nam từ 2007-2009.
Tỷ lệ dự trữ bắt
buộc (VND)
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
(Ngoại tệ)
Văn bản
10%
1
- 4%
2
10%
1
- 4%
2
1141/QĐ-NHNN 28/5/2007
11%
1
- 2%
2
7%
1
- 3%
2
2951/QĐ-NHNN ngày
03/12/2008
5%
1
- 1%
2
3158/QĐ-NHNN ngày
19/12/2008
3%
1
- 1%
2
7%
1
- 3%
2
379/QĐ-NHNN ngày
24/02/2009
(
1
): đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng.
(
2
+-5% nhằm điều hòa ngoại tệ trên thị trường khi thị trường ngoại hối có những diễn
biến không thuận lợi do chịu áp lực từ cuộc khủng hoảng, các nhà đầu tư có tâm lý
găm ngoại tệ khi lo ngại rủi ro biến động tỷ giá cộng với tác động phụ của chính sách
hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản đã làm cho các
doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ,
dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng
thẳng. Mặt khác, việc nới lỏng biên độ VND/USD nhằm tạo thuận lợi hơn cho xuất
khẩu bởi nó gián tiếp hạ giá thành quốc tế, tạo sức cạnh tranh cho các sản phẩm Việt
Nam.
Ngày 26/11/09, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá, nâng tỷ giá công bố lên 17.980
VND/USD, tăng 5.4% so với ngày trước đó, thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống
còn +/-3% và hỗ trợ bán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm
5% trở xuống nhằm ổn định thị trường ngoại hối.
2. Giai đoạn từ năm 2010 đến nay:
19
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
2.1 Sơ lược tình hình kinh tế giai đoạn từ năm 2010 đến nay:
Trong năm 2010 CSTT thắt chặt được thực hiện trong những tháng đầu năm,
chuyến sang nới lỏng bắt đầu từ giữa năm cho tới tháng 8, sau đó NHNN bắt đầu thắt
chặt tiền tệ (Nghị quyết 18/NQ-CP 4/2010 xác định cả hai mục tiêu: kiềm chế mức
lạm phát khoảng 7% (giống 2009) và theo đuổi mục tiêu tăng trưởng khoảng
6.5%/năm. Dưới tác động của gói kích cầu có quy mô lớn trong năm 2009, nền kinh tế
đã thoát khỏi suy giảm, tăng trưởng đạt mức khá so với nhiều nước tuy nhiên vẫn còn
rất nhiều hạn chế: Kinh tế tăng trưởng không vững chắc, bội chi ngân sách tăng cao
(6.9% GDP) tiến gần đến mức giới hạn an toàn trong khi chỉ số ICOR tăng lên trên 8
(so với 6.66 năm 2008); tăng trưởng tín dụng cao gây sức ép tăng lãi suất; cán cân
thanh toán thâm hụt, dự trữ ngoại hối giảm và thị trường ngoại hối căng thẳng về cung
cầu ngoại tệ, gây sức ép lên tỷ giá và lạm phát. Như vậy. nhiệm vụ đặt ra cho ổn định
kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả đầu từ và ngăn ngừa lạm phát cao quay trở lại.
Đến năm 2011 CSTT thắt chặt được thể hiện nhất quán trong Nghị quyết 11/NQ-
chiết khấu
(%/năm)
Lãi suất cho
vay qua đêm
(%/năm)
01/01 - 04/11 8 8 6 8
05/11-12/2010 9 9 7 9
Nguồn:
Trước diễn biến một số NHTM khát vốn nhiều tháng đã âm thầm tăng lãi suất
huy động cộng với áp lực lạm phát tăng vào cuối năm thì vào ngày 14/12/2010 Hiệp
hội Ngân hàng đã đưa ra một lãi suất đồng thuận, theo đó lãi suất huy động được nâng
lên ở mức 14% kể cả các chương trình khuyến mãi nhằm chấm dứt hoạt động cạnh
tranh không lành mạnh trên và đã làm tăng lãi suất thị trường (cuối tháng 12, lãi suất
huy động VND bình quân đã tăng lên ở mức 12.44%).
Nhận xét:
Có thể thấy diễn biến lãi suất năm 2010 đi theo kịch bản của năm 2009: Lãi suất
điều hành được ổn định trong thời gian dài và sau đó tăng lên vào cuối năm nhằm
kiềm chế lạm phát. Mặc dù cho phép các NHTM áp dụng lãi suất thỏa thuận nhằm
cạnh tranh nhưng trước việc chạy đua lãi suất thì NHNN đã phải can thiệp bằng biện
pháp hành chính.
Trong năm 2011, NHNN đã 2 lần điều chỉnh tăng lãi suất tái chiết khấu từ mức
7%/năm lên thành 12- 13%/năm, và 6 lần tăng lãi suất tái cấp vốn với mục đích là
kiểm soát lượng tiền cung ứng, qua đó kiềm chế tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý,
tác động điều chỉnh hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời cũng là để hạn chế cho vay bất
21
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
động sản, chứng khoán và hoạt động tín dụng có mức rủi ro cao, góp phần hạ nhiệt lãi
suất trong thời gian tới. Cụ thể:
Bảng 04: Diễn biến lãi suất điều hành năm 2011 của NHNN
Thời gian Lãi suất cơ
Lãi suất cơ
bản (%/năm)
Lãi suất tái
cấp vốn
(%/năm)
Lãi suất tái
chiết khấu
(%/năm)
22
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
01/01-12/03 9 15 13
13/03-10/04 - 14 12
11/04-27/05 - 13 11
28/05-10/06 - 11 10
11/06-30/6 - 10 9
1/7 - - 8
Nguồn:
Nhận xét:
Chính sách lãi suất hiện tại đang đi đúng hướng với kế hoạch tăng trưởng kinh tế
và triển vọng lạm phát giai đoạn 2012-2013 song, những động thái nới lỏng tiền tệ và
hỗ trợ tài khóa có thể vẫn tiếp tục được sử dụng.
Việc hạ lãi suất cho vay lúc này là đúng, cần thiết, phù hợp với xu thế, vì doanh
nghiệp đang cần sự hỗ trợ để tháo gỡ khó khăn.
2.2.2 Nghiệp vụ thị trường mở:
Trong năm 2010 trước tình trạng khó khăn trong huy động dẫn đến cuộc đua lãi
suất thì NHNN đã phải tiến hành bơm tiền cho các NHTM, nhằm đảm bảo tính thanh
khoản cho các NHTM, nhất là các NHTM nhỏ và mới thành lập. Tính đến cuối tháng
6/2010, NHNN đã nắm giữ tới 140.000 tỷ đồng giấy tờ có giá từ nghiệp vụ này và xét
cả năm thì NHNN đã bơm ròng 294.304 tỷ đồng với lãi suất trên thị trường này đối
với kỳ hạn 7 ngày bình quân là 8.35%/năm và 14 ngày là 7.69%/năm.
giảm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Ngoài ra trong tháng 7/2012, NHNN cũng
đã cho phép thị trường tự thiếp lập lãi suất trên thị trường mở thay vì đề ra mức lãi
suât cho các TCTD vay ở thị trường này. Tín hiệu khả quan đã đến khi mà lãi suất từ
mức 10% xuống còn 8.5% trong ngày đấu thầu đầu tiên và giảm xuống ở mức 8%
trong ngày tiếp theo.
2.2.3 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Ngày 18/1/2010, NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng
ngoại tệ từ 7% xuống 4%, tạo điều kiện cho các NHTM có thêm khoảng 500 triệu
USD nguồn vốn ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu thị trường. Đây cũng là một lý do giải thích
hiện tượng tín dụng ngoại tệ trong năm này lại tăng đột biến so với năm 2009.
2.2.4 Hạn mức tín dụng:
NHNN đã giảm tỷ lệ cho vay trung dài hạn /tổng nguồn vốn ngắn hạn từ 40%
xuống còn 30% (Thông tư 15/2009/TT-NHNN ngày 10/08/2009).
Theo nghị quyết 11/NQ-CP/2011 tháng 2/2011 CSTT quay về thực hiện mục
tiêu thắt chặt với mục tiêu trung gian là dư nợ tín dụng tăng trưởng dưới mức 16%, M2
24
NTH: Nhóm 5 – Lớp đêm 4 – K22 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
tăng dưới 20%: Điều chỉnh cơ cấu tín dụng, tập trung cho vay nhằm phát triển sản
xuất, giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất trong tổng dư nợ
xuống mức 22% đến 30/6/2011 và 16% đến 31/12/2011.
Có thể nói mức tăng M2 đạt dưới 10% còn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của cả
năm 2011 trên 12% thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình của các năm trước đây.
Đây là mức thắt chặt thấp hơn đáng kể so với mức tăng định hướng được nêu trong
Nghị quyết 11 nhằm hướng tới giảm tổng cầu. Tuy vậy, sự quyết liệt trong giảm tổng
cầu từ phía CSTT đã không đạt được kết quả mong muốn: Trong khi tỷ lệ tăng trưởng
đạt 5.89% thì tỷ lệ lạm phát vẫn tiếp tục tăng tới mức kỉ lục gần 19% ( mức tăng cao
so với mục tiêu đã được điều chỉnh là 15% cho năm 2011).
2.2.5 Tỷ giá hối đoái:
Ngày 11/2/2010, NHNN đã ra quyết định điều chỉnh tăng 3.36% tỷ giá bình
quân liên ngân hàng từ 17.961 VND/USD lên 18.544 VND/USD nhằm khuyến khích